FreshHome - Viên rửa bát Finish Quảng Trị

FreshHome - Viên rửa bát Finish Quảng Trị

Share

Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from FreshHome - Viên rửa bát Finish Quảng Trị, Công viên Fidel Castro, Dong Ha.

Photos 28/04/2012

Lễ hội Tổ Đình Sắc Tứ


Chùa Sắc Tứ được toạ lạc trên một vùng núi phía Tây – Nam làng Ái Tử, thuộc địa phận thị trấn Ái Tử, huyện Triệu Phong cách quốc lộ 1A chưa đầy 1km về phía Tây. Ngôi chùa được Bộ Văn hoá thông tin xếp hạng di tích quốc gia theo quyết định số 2009/QĐ – BVHTT ngày 15/11/1991. Chùa Sắc Tứ có tên là Tịnh Quang Tự hay còn gọi là Tổ Đình Sắc Tứ Tịnh Quang. Những bần tăng, bổn đạo, thiện nam tính nữ coi chùa là đất tổ của mình, còn danh bất tính trong thiên hạ thì ngưỡng mộ chùa như một trung tâm từ thiện. Chùa do vị Tổ sư Chí Khả khai sinh nên hàng năm vào ngày 18/2 Âm lịch tổ chức ngày lễ kỵ Tổ Đình Sắc Tứ Tịnh Quang. Vào dịp này hàng năm rất nhiều quý vị tăng ni Phật tử trong và ngoài nước đến tham dự, đặc biệt những vị tăng ni Phật tử Việt kiều chùa có quy mô rộng, sức chứa khoảng mười nghìn người mỗi khi ngày lễ về.
Ở Quảng Trị, ngày nay lễ hội đang có xu hướng phục hồi và phát triển trở lại. Gần đây ở Quảng Trị còn xuất hiện thêm loại hình lễ hội mới: Lễ hội cách mạng như: Lễ hội “thống nhất non sông”, lễ hội “thả đèn trên sông Thạch Hãn”, và còn có lễ hội “Nhịp cầu xuyên Á” được tổ chức 3 năm một lần nhằm mở rộng giao lưu quan hệ hợp tác giữa các nước trong hành lang kinh tế Đông – Tây (Đông Nam Á) về Thương mại – Du lịch, Văn hoá – Xã hội. Tuy các lễ hội này mới được tổ chức trong những năm gần đây những loại hình lễ hội này được đông đảo nhiều người quan tâm, được bạn bè trong nước và thế giới chờ đón, để lại dấu ấn sâu sắc đối với du khách khi tới Quảng Trị, đặc biệt là lễ hội “Nhịp cầu xuyên Á”, đây là cơ hội tốt để du lịch Quảng Trị có thể đi lên sánh vai cùng với các tỉnh thành bạn bè trong nước và nước ngoài.

Photos 28/04/2012

Lễ Hội Thống Nhất Non Sông

Địa điểm : Được tổ chức long trọng tại Kỳ đài phía Bắc cầu Hiền Lương, tỉnh Quảng Trị.

Lễ hội này gắn với hoạt động kỷ niệm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam - thống nhất tổ quốc. Đây còn là ngày hội tôn vinh chiến thắng của đồng bào, đồng chí hai bên dòng sông Hiền Lương và chiến công của nhân dân cả nước trong cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam - thống nhất đất nước. Lễ hội cũng là dịp để khẳng định khát vọng và ý chí đoàn tụ dân tộc như lời Bác Hồ đã nói: ''Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một''.



Phần lễ: Gồm Lễ thượng cờ trên kỳ đài bờ Bắc và khai mạc ngày hội.
Phần hội: Gồm các hoạt động cắm trại, giao lưu văn hoá, văn nghệ, thể thao của nhân dân trong tỉnh.



Lễ hội được tổ chức định kỳ 5 năm một lần vào dịp kỷ niệm năm chẵn và tròn ngày giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc (30/04/1975).

Photos 27/04/2012

Ariêu Ping - Lễ Hội Văn Hóa Độc Đáo Của Pa Cô

Lễ hội Ariêu Ping - một lễ hội văn hóa tín ngưỡng độc đáo của đồng bào Pa Cô được tổ chức tại thôn A Liêng, xã Tà Rụt, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị, từ ngày 13-15/7.


Lễ hội Ariêu Ping, hay còn gọi là lễ cải táng và phong thần là lễ hội truyền thống mang nét văn hóa tâm linh đặc sắc và là lễ hội lớn nhất của đồng bào Pa Cô. Lễ hội được tổ chức nhằm tỏ lòng tôn kính và tưởng nhớ đến những người đã khuất của đồng bào dân tộc Pa Cô, khơi dậy những nét đẹp văn hóa truyền thống đã ăn sâu vào tiềm thức của đồng bào từ xa xưa, là dịp để tụ hợp con cháu trong dòng họ.

Lễ hội cũng là dịp để đồng bào giải quyết các vấn đề vướng mắc cả về phong tục tập quán lẫn đời sống đã tồn tại trong cộng đồng; phân định lại ranh giới đất đai; phân công trách nhiệm của từng làng về quan hệ giao tiếp, ứng xử và đối phó, xử lý các tình huống có thể xảy ra trong đời sống hàng ngày....

Già làng Côn Hy, người đứng đầu chịu trách nhiệm điều hành lễ hội Ariêu Ping của làng A Liêng lần này cho biết lễ hội Ariêu Ping năm nay được tổ chức với sự tham gia của chín thôn trong xã; đồng thời có sự góp mặt chung vui vào các hoạt động văn nghệ, thể thao của bảy xã khác. Lễ hội Ariêu Ping là tổ chức cất bốc, cải táng quy tập về một khu vực đối với những ngôi mộ của tất cả các dòng họ trong làng mà trước đó an táng rải rác các nơi để tiện thăm viếng, chăm sóc, hương khói.

Lễ hội thường kéo dài trong ba ngày, ba đêm. Đầu tiên, đồng bào làm chung một ngôi nhà ở trung tâm để mời các già làng, trưởng bản lân cận, những vị khách quý đến tham dự lễ đến ở trong suốt thời gian lễ hội.

Một ngôi nhà mồ được dựng lên, là nơi đặt các hài cốt được bốc từ các nơi khác nhau về. Các nghi lễ thờ cúng diễn ra theo phong tục của đồng bào Pa Cô trong thời gian lễ hội. Sau đó, các hài cốt này được đưa về an táng tại một khu vực nhất định, lâu dài, phù hợp với tình hình thực tế. Mọi người tham gia lễ hội đều nhảy múa xung quanh nhà mồ cho đến khi lễ hội kết thúc. Nhiều hoạt động văn hóa truyền thống cũng được tổ chức trong suốt thời gian diễn ra lễ hội Ariêu Ping, trong đó có lễ hội đâm trâu.

Theo già làng Côn Hy, lễ hội Ariêu Ping có từ lâu đời, là một lễ hội tổng thể cả đời sống và tâm linh. Người Pa Cô quan niệm xung quanh đời sống hiện tại còn có thần nên đồng bào sống đều tôn trọng các lễ nghi. Sự liên kết cộng đồng, làng bản thể hiện qua sinh hoạt phong tục, tập quán, lễ nghi là sợi dây ràng buộc và gắn chặt các thành viên trong làng thành một khối đoàn kết.

Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Tà Rụt, ông Hồ Văn Ngơn cho biết lễ hội Ariêu Ping không được ấn định niên hạn tổ chức mà căn cứ theo tình hình điều kiện đời sống kinh tế của các hộ gia đình trong làng để tổ chức với quy mô phù hợp.

Đây là lần thứ 3 Lễ hội Ariêu Ping được tổ chức tại làng A Liêng. Lần đầu lễ hội được tổ chức vào tháng 12/1975, khi bà con dân bản được tập trung về làng sau thời gian chiến tranh. Lần gần đây nhất lễ hội được tổ chức vào năm 1986 với sự tham gia của 12 làng nhằm giải quyết các tồn tại về vấn đề quản lý, về ứng xử trong cộng đồng, vấn đề hôn nhân, luật tục và tập quán sống.

Lễ hội năm nay được tổ chức là dịp để tiếp tục nâng cao vị trí, vai trò và trách nhiệm của già làng trong đời sống của đồng bào thôn, bản. Các hoạt động trong làng đều phải được Hội già làng thống nhất trước khi đi vào quyết định.

Trong dịp tổ chức lễ hội Ariêu Ping này, hai làng A Liêng và A Vương của xã Tà Rụt đã kết hợp tổ chức Lễ đón nhận Làng văn hóa, đồng thời tổ chức Hội thi Thể thao truyền thống với sự tham gia của bảy xã của huyện Đakrông và tổ chức Lễ hội văn hóa Cồng chiêng với sự tham gia của chín thôn trong xã Tà Rụt.

Photos 27/04/2012

Lễ Hội La Vang

La Vang thuộc thị xã Hải Phú, huyện Hải Lăng, cách quốc lộ 1A chừng 5km về phía Tây, cách thị xã Đông Hà 18km về phía Tây Nam, nhà thờ Thiên Chúa giáo La Vang đã được cấp lên bậc “Vương Cung Thánh Đường”.

Đây là một trong bảy nơi trên thế giới Đức mẹ Đồng Trinh xuất hiện. Chính vì vậy nơi đây đã được tín đồ Thiên Chúa giáo trong nước và trên thế giới biết đến với sự cung kín rất lớn, hàng năm vào ngày 18/5 Dương lịch đều có tổ chức “Kiệu”, “Kiệu” được tổ chức vào những năm chẵn lớn hơn những năm lẻ, cứ 3 năm một lần thì gọi là “đại hội” và “Kiệu” 100 năm thì lớn hơn “Kiệu” 40 năm, 50 năm. Năm 1998, ở đây đã được tổ chức cuộc hành hương kỷ niệm 20 năm Đức mẹ hiện hình tại La Vang và đã có hơn 20 vạn lượt giáo dân cùng quan khách tham dự. Đây thực sự là một lễ hội độc đáo ở Quảng Trị.

Photos 27/04/2012

Hội Thượng Phước độc đáo với tục đi săn

Hội Thượng Phước diễn ra từ ngày 13 -15/3 âm lịch tại thôn Thượng Phước, xã Thượng Triệu, huyện Triệu Phong, Quảng Trị. Lễ hội nhằm ghi nhớ công lao của Quan công Hoàng Dũng, người đã có công lập làng Thượng Phước.
Khác với các lễ hội khác, điểm độc đáo của hội Thượng Phước chính là tục đi săn. Thường vào ngày 13 - 14/3 âm lịch, cả làng Thượng Phước sẽ đi săn, lấy đầu muôn thú để làm lễ vật dâng lên Thành hoàng làng. Lễ cúng tế sẽ kéo dài hết ngày 15.

Photos 27/04/2012

Đầu xuân đi chơi Hội cướp cù

Ðây là hội làng được tổ chức tại đình An Mỹ, Cẩm Phổ, Gio Mỹ, huyện Gio Linh vào ngày 4 tháng 1 Âm lịch hàng năm. Lễ hội kéo dài hai ngày. Sau phần lễ, tế cầu an là trò cướp cù. Nét độc đáo của lễ hội là bên nào huy động được nhiều người tham gia thì càng dễ thắng cuộc. Người tham gia không kể già, trẻ, trai, gái. Ðây là một hình thức thể thao mang tính dân gian.
Đông đảo nhân dân các nơi nô nức đổ về đồi cát vàng, thuộc làng Cẩm Phổ, xã Gio Mỹ, huyện Gio Linh, tham gia Hội cướp cù đầu xuân. Theo thông lệ, hội được tổ chức trong hai ngày (mùng 4 và 5 tết).


Theo các bậc cao niên làng Cẩm Phổ, đây là trò chơi dân gian mang tính truyền thống của cha ông từ khi mới lập làng truyền lại.
Hội cướp cù với một ý nghĩa cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng được tốt tươi. Con cháu học hành đỗ đạt, đi làm ăn ngoài Bắc, trong Nam được thuận lợi. Ngư dân ra khơi thì thuận buồm xuôi gió, đánh bắt được nhiều cá tôm.

Trước khi đưa cù vào sân thi đấu, bô lão lớn tuổi nhất làng phải tiến hành làm lễ tế trời đất, tuyên bố khai hội.
Quả cù nặng 1,5 kg, được các chức sắc trong làng tuyển chọn từ gốc cây chuối, gọt tròn tạo thành cù. Địa điểm chơi Hội cướp cù được chọn một đồi cát vàng lớn nhất của làng. Mỗi trận đấu thường kéo dài ba hiệp, một hiệp khoảng 30 phút đến một giờ.

Các bô lão đánh trống cổ động cho trai tráng trong Hội cướp cù.
Mỗi đội chơi đại diện cho một xóm, hoặc một thôn trong xã. Đội nào đưa cù vào rọ, được đặt trên ngọn một cây tre là đội chiến thắng.

Trước khi đưa cù ra sân, các bô lão trong làng làm lễ cúng cù.
Theo truyền thống của làng, Hội thi cướp cù dù thắng hay thua, các đội đều được phần thưởng là những cái bắt tay thật chặt, vui vẻ, rồi chung những chén rượu nồng lấy lộc đầu năm.

Ban tổ chức có trách nhiệm ghi vào sử làng đội thắng cuộc. Từ xưa đến nay, ít có đội thắng vì rất hiếm khi cù được ném vào đúng rọ.

Photos 27/04/2012

Lễ hội đêm Thành Cổ

Lễ hội gắn với khu di tích Thành Cổ Quảng Trị nhằm tưởng niệm những người con nước Việt đã ngã xuống trên mảnh đất Thành Cổ.

Thành cổ Quảng Trị
Tôn vinh chiến công hiển hách của quân và dân cả nước trong cuộc chiến 81 ngày đêm chống phản kích và tái chiếm của địch. Đồng thời giới thiệu cho du khách những nét văn hoá tiêu biểu của Thành Cổ, một trung tâm chính trị văn hoá, thời Nguyễn ở tỉnh Quảng Trị…Phần lễ:
-Lễ tưởng niệm tại tượng đài Thành Cổ, kết hợp với kỷ niệm ngày giải phóng thị xã Quảng Trị.
-Thả hoa đèn trên sông Thạch Hãn.
-Lễ dâng hương ở các hương án.
-Lễ cầu siêu chung cho các vong linh đã mất.
Phần hội: Các hoạt động giao lưu, toạ đàm dành cho cựu chiến binh Thành Cổ. Các hoạt động văn hoá thể thao, du lịch tôn vinh và quảng bá văn hoá truyền thống.
Lễ hội đêm Thành Cổ thường được tổ chức vào ngày và đêm 1/5 tại thị xã Quảng Trị. Và lễ được tổ chức định kỳ 5 năm một lần vào dịp năm chẵn và năm tròn ngày giải phóng Quảng Trị (1/5/1972).

Photos 27/04/2012

Thư viện tỉnh Quảng Trị

Thư viện tỉnh Quảng Trị là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Văn hoá - Thông tin. Thư viện được thành lập ngày 29/7/1989 theo quyết định của UBND tỉnh Quảng Trị. Địa chỉ: 30B Hùng Vương - Thị xã Đông Hà Điện thoại: 053.852634 - 852146 - 854847 1. Chức năng, nhiệm vụ của Thư viện

Thư viện Tỉnh có nhiệm vụ giữ gìn di sản thư tịch của dân tộc, của địa phương. Thu thập, tàng trữ, tổ chức việc khai thác và sử dụng vốn tài liệu trong toàn xã hội. Là nơi truyền bá tri thức, cung cấp thông tin phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu, công tác và giải trí của mọi tầng lớp nhân dân, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa học công nghệ, kinh tế, văn hoá phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của địa phương.
2. Vài nét về hoạt động của Thư viện tỉnh Quảng Trị
Trong những năm qua Thư viện Tỉnh đã làm tốt chức năng, nhiệm vụ của mình.
Phục vụ tốt nhu cầu học tập, nghiên cứu, giải trí của mọi đối tượng độc giả trên địa bàn.
Sưu tầm bổ sung tài liệu địa chí, hình thành phòng tư liệu địa chí về mảnh đất, con người Quảng Trị.
Bổ sung vốn tài liệu, sách báo xuất bản trong và ngoài nước, làm phong phú thêm kho sách báo của thư viện để phục vụ tốt bạn đọc đến với thư viện.
Tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề, đêm thơ nhạc nhân kỷ niệm những ngày lễ trọng đại của đất nước và quê hương.
Tiếp nhập xử lý, phân phối sách tài trợ trong chương trình mục tiêu cho 7/9 huyện thị trong Tỉnh. Kiểm tra, hướng dẫn, giúp đỡ công tác nghiệp vụ và hoạt động thư viện cơ sở từ xã phường đến huyện thị, các trường học trong toàn Tỉnh.
Đăng ký và thực hiện một số đề tài nghiên cứu của ngành và của Tỉnh.
3. Tổ chức hoạt động của Thư viện tỉnh Quảng Trị
Thư viện Quảng Trị hiện có 15 cán bộ công nhân viên, trong đó 10 người trình độ đại học và trên đại học, 3 người trình độ trung cấp. Thư viện được bố trí thành 3 phòng công tác: Phòng Nghiệp vụ, phòng Phục vụ bạn đọc (phòng mượn, phòng đọc sách báo tại chỗ, phòng đọc thiếu nhi) và phòng Tổ chức hành chính.
Vốn sách báo tài liệu hiện có tính đến ngày 30/9/2002 là 62952 bản sách, 180 loại báo và tạp chí. Hàng năm bổ sung khoảng 1812 bản, trong đó có 650 bản sách thiếu nhi. Số thẻ cấp năm 2001 và 9 tháng đầu năm 2002 là 1598 thẻ. Hàng ngày, thư viện đón tiếp hàng trăm lượt bạn đọc. Số sách luân chuyển là 153216 lượt/năm.
Để phục vụ tốt hơn nhu cầu tìm kiếm thông tin cho bạn đọc, trong năm 2001 và 9 tháng đầu năm 2002 Thư viện đã nhập được 2750 biểu ghi. Hàng năm, thư viện còn tài trợ cho 7 huyện thị trên 1400 bản sách (trị giá 35 triệu đồng). Kinh phí cho hoạt đồng hàng năm từ 200 đến 280 triệu đồng, trong đó kinh phí bổ sung sách báo từ 50 đến 74 triệu đồng/năm

Photos 27/04/2012

Bảo tàng Quảng Trị

Địa chỉ: 94 Hàm Nghi - Thị xã Đông Hà Điện thoại: 053. 855478 - 852770 - 857578 I. Vài nét về hoạt động của Bảo tàng 1. Tổ chức bộ máy Bảo tàng Quảng Trị là cơ quan hành chính sự nghiệp có chức năng nghiên cứu, giáo dục khoa học, thông qua các hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày, tuyên truyền và phát huy tác dụng các di sản văn hoá trên vùng đất Quảng Trị.

Bảo tàng Quảng Trị là Bảo tàng cấp tỉnh thuộc loại hình sở hữu nhà nước; Được thành lập theo Quyết định số 87/QĐ - UB ngày 29/7/1989 của UBND tỉnh Quảng Trị.
Từ trước năm 1998, nhiệm vụ của Bảo tàng Quảng Trị bao gồm hai mảng hoạt động: Bảo tồn (quản lý di tích bất động sản) và Bảo tàng (quản lý di tích động sản). Sau tháng 10/1998, do yêu cầu về tổ chức và thực tiễn hoạt động quản lý tại các di tích nên UBND tỉnh Quảng Trị ra quyết định thành lập Ban Quản lý di tích và danh thắng tỉnh. Cơ quan này ra đời trên cơ sở tách ra từ Bảo tàng tỉnh để đảm trách phần hoạt động của công tác bảo tồn di tích. Từ đó, Bảo tàng tỉnh chỉ đơn thuần thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và thực hiện việc quản lý, sử dụng, phát huy giá trị di tích động sản (hiện vật bảo tàng).
Bộ máy của Bảo tàng Quảng Trị gồm: Ban Giám đốc, các phòng ban làm nhiệm vụ hành chính, quản trị và hoạt động chuyên môn nghiệp vụ. Ngoài ra có Hội đồng khoa học Bảo tàng là tổ chức tư vấn cho Giám đốc Bảo tàng về các vấn đề khoa học liên quan tới các hoạt động chuyên môn.
Trình độ cán bộ: 5% cán bộ trên đại học - 80% cán bộ đại học và cao đẳng - 15% cán bộ trung cấp và phổ thông. Đội ngũ này có đủ trình độ, năng lực để thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của Bảo tàng.
2. Các hoạt động chính:
Năm 1989, từ Bảo tàng Bình Trị Thiên chia ra, Bảo tàng Quảng Trị chỉ có 830 hiện vật gốc, 266 hiện vật phim ảnh cùng với 300 tài liệu, hiện vật khác còn trong chế độ “Bảo quản tạm thời”. Đến tháng 6/2002 hiện vật trong kho bảo quản của Bảo tàng Quảng Trị đã lên đến 16.375 hiện vật gốc (trong đó: 10.408 hiện vật kim loại, 211 hiện vật đồ dệt, 516 hiện vật đồ mộc, 288 hiện vật đồ xương, 3308 hiện vật đồ sành sứ, 272 hiện vật đồ nhựa, 356 hiện vật đồ giấy, 648 hiện vật đồ đá và 368 hiện vật chất liệu khác), gần 2000 tài liệu phim ảnh. Con số này tuy chưa lớn so với một Bảo tàng tỉnh nhưng lại là số liệu đáng trân trọng thể hiện sự nỗ lực vượt bậc trong công tác sưu tầm của Bảo tàng Quảng Trị
Trong những năm từ 1992 đến nay, bằng sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước, Bảo tàng Quảng Trị đã tiến hành nhiều đợt nghiên cứu, thăm dò, điều tra, khảo sát, phát hiện và khai quật nhiều di chỉ khảo cổ học, nhiều địa điểm, công trình mang dấu ấn lịch sử văn hoá của vùng đất Quảng Trị qua các thời kỳ. Kết quả của các đợt công tác này không chỉ khám phá ra được nhiều vấn đề mới về lịch sử và văn hoá Quảng Trị, cung cấp những thông tin khoa học quí báu đối với việc nghiên cứu lịch sử, văn hoá vùng đất này mà còn sưu tầm để đưa về Bảo tàng hàng ngàn hiện vật quý hiếm. Từ đó đã xây dựng được nhiều bộ sưu tập cổ vật và hiện vật bảo tàng có giá trị.
Trong những năm qua Bảo tàng Quảng Trị đã thực hiện tốt công tác đăng ký, kiểm kê bảo quản số hiện vật đã có một cách khoa học, đúng quy trình và đầy đủ hồ sơ cần thiết theo yêu cầu đối với hiện vật bảo tàng. Bên cạnh đó, bảo tàng cũng đã mở rộng việc quản lý đối với số lượng hiện vật bảo tàng tại các cơ sở di tích, các phòng văn hoá, thông tin huyện thị. Công tác quản lý nhà nước đối với các cổ vật ở các địa phương, các đình chùa, đền miếu và các nhà chơi sưu tập mới chỉ dừng lại ở mức độ điều tra chứ chưa thực hiện được các biện pháp quản lý chặt chẽ. Vì vậy, nạn buôn bán, đào bới trái phép cổ vật vẫn đang là vấn đề nhức nhối.
Công tác hoạt động nghiên cứu khoa học của Bảo tàng Quảng Trị luôn được chú trọng. Bằng nguồn lực tại chỗ của đội ngũ làm công tác chuyên môn cùng với sự hỗ trợ, giúp đỡ của các nhà nghiên cứu, các cơ quan nghiên cứu trong và ngoài nước, hoạt động nghiên cứu khoa học đã đạt được nhiều kết quả quan trọng.
Ngoài ra, các cán bộ nghiên cứu của Bảo tàng cũng thường xuyên giúp đỡ cho các địa phương trong việc biên soạn lịch sử Đảng bộ xã, dịch thuật, sao bản các tài liệu Hán nôm như: Gia phả, địa bạ, sắc phong…; Tìm hiểu nguồn gốc, lai lịch của các làng, họ; Xác định, thẩm định và làm sáng tỏ những vấn đề chưa rõ về lịch sử cho các địa phương.
- Về công tác trưng bày bảo tàng, hiện có 5 nhà trưng bày bổ sung tại các di tích và 2 nhà truyền thống cấp huyện. Các phòng trưng bày này đang phát huy một cách hiệu quả trong việc giáo dục truyền thống và khai thác du lịch. Bên cạnh đó, Bảo tàng Quảng Trị đã phối hợp với các Bảo tàng Trung ương và bảo tàng của một số địa phương trong nước tổ chức nhiều cuộc trưng bày lưu động, trưng bày chuyên đề để phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị trong các dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn của Tỉnh và của đất nước.
II. Định hướng và phát triển
- Tập trung trước hết cho hoạt động sưu tầm di vật, cổ vật, báu vật quốc gia. Trong đó ưu tiên đối với các loại hình mang nội dung về chiến tranh cách mạng để cố gắng phản ánh đầy đủ giai đoạn lịch sử oanh liệt, hào hùng mà nhân dân Quảng Trị đã trải qua trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Chú trọng sưu tầm các hiện vật phản ánh những đặc trưng văn hoá cổ truyền của người Việt và văn hoá các dân tộc ít người (Tà Ôi, Bru - Vân Kiều). Đồng thời, quan tâm hơn nữa việc bổ sung và hoàn thiện các nội dung về văn hoá Chămpa, về lịch sử giai đoạn thế kỷ XI đến thế kỷ XIX; về thời kỳ tiền sở sử và những vấn đề liên quan đến lịch sử tự nhiên của Quảng Trị. Cố gắng giành một phần kinh phí thích đáng cho việc mua lại các cổ vật, di vật quý hiếm còn lưu giữ trong nhân dân.
Tổ chức điều tra, thăm dò, đào thám sát, khai quật khảo cổ học để nghiên cứu và thẩm định các nội dung lịch sử, văn hoá vùng đất Quảng Trị cổ đồng thời bổ sung hiện vật cho kho cơ sở.
Chú trọng công tác nghiên cứu khoa học để phục vụ trực tiếp cho hoạt động chuyên môn bảo tàng và phục vụ cho sự nghiệp xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc theo tinh thần của Nghị quyết 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII. Tổ chức các hội thảo khoa học về các vấn đề lịch sử, văn hoá liên quan đến vùng đất, con người Quảng Trị.
Tăng cường hợp tác và phối hợp nghiên cứu khoa học với các cơ quan tổ chức khoa học trong và ngoài nước. Đẩy mạnh việc giao lưu học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển sự nghiệp trong tình hình mới.
Chuẩn bị tốt tất cả các điều kiện để có thể tiến hành các tổ chức trưng bày nhà Bảo tàng tại trung tâm thị xã Đông Hà để đón khách tham quan vào năm 2005.
Tuyên truyền giáo dục Luật Di sản văn hoá đến mọi tầng lớp quần chúng nhân dân để ý thức sâu sắc việc bảo vệ, sử dụng và phát huy các giá trị di sản văn hoá. Khuyến khích, động viên và tạo mọi điều kiện giúp đỡ về chuyên môn để các nhà sưu tập cổ vật, các bảo tàng tư nhân hoạt động theo đúng khuôn khổ quy định của luật pháp. Thực hiện công tác điều tra, thống kê và quản lý nhà nước đối với các di vật, cổ vật, báu vật quốc gia trên toàn địa bàn. Phối hợp với cơ quan chức năng để làm tốt công tác chống buôn bán, đào bới, đánh cắp cổ vật trái phép.
Mở rộng mạng lưới công tác viên của Bảo tàng đến tận cơ sở. Vận động nhân dân tham gia tích cực trong công tác bảo vệ di sản và đóng góp cho sự nghiệp bảo tồn, bảo tàng tỉnh nhà. Tổ chức thành lập các câu lạc bộ sưu tầm di sản văn hoá và tiến tới thành lập Hội Bảo tồn di sản văn hoá của Tỉnh

Photos 26/04/2012

Về các loại hình văn hóa Chămpa ở Quảng Trị



Trong diễn trình lịch sử của Quảng Trị có một thời gian khá dài gần một thiên niên kỷ đất này thuộc lãnh thổ vương quốc cổ Chămpa.
Trước khi khi chịu sự phán quyết nghiệt ngã của lịch sử trong quy luật tồn tại, bộ phận dân cư của dân tộc này đã vừa phải kiên trì vật lộn với những thử thách nghiệt ngã của tự nhiên, vừa phải đương đầu với nhiều thế lực của xã hội trong cuộc giành giật sinh tử để không ngừng tạo lập và phát triển vương quốc.
Quá trình xây dựng và đấu tranh để sinh tồn của bộ phận cư dân Chămpa trên vùng đất quảng Trị không chỉ tạo ra được những cơ sở có tính chất tiền đề cho sự phát triển vững chắc của vùng đất này mà còn để lại nhiều dấu tích về một nền văn hóa hết sức phong phú và độc đáo, góp phần tạo nên sự đa dạng của văn hóa Quảng Trị.Đến nay, văn hóa Chămpa đã không còn là một bộ phận tồn tại độc lập và song hành với chính chủ nhân của nó. Tất cả đã hòa chung vào dòng chảy của văn hóa người Việt Quảng Trị - lớp người kế nhiệm/kế tục/kế thừa những gì trước đó, biến hóa cái của tiền chủ thành cái của hậu chủ. Sự “hợp thức hóa" khá mềm dẻo, khôn ngoan của người Việt trên nền các di sản văn hóa người Chăm ở cả lĩnh vực vật chất lẫn tinh thần để làm đa dạng, phong phú cho vốn liếng di sản của mình âu cũng là một thế ứng xử rất văn hóa của người Quảng Trị nói riêng, người Việt Nam nói chung.
Văn hoá Chămpa ở Quảng Trị cho đến nay tồn tại dưới nhiều dạng thức khác nhau nhưng nhìn chung tập trung vào các loại hình tiêu biểu đáng chú ý là: Đền tháp - thành luỹ - hệ thống các công trình khai thác nước và mộ táng.
1. ĐỀN THÁP
Quảng Trị hôm nay, các đền tháp Chăm không còn soi bóng xuống các dòng sông Sa Lung, Bến Hải, Vịnh Định, Thạch Hãn, Cổ Hà nữa, song vẫn còn có rất nhiều những địa điểm có dấu tích về sự hiện diện của các công trình đền tháp. Qua nhiều năm nghiên cứu, khảo sát thực địa ở các địa phương trên cơ sở xác minh những địa điểm đã được người Pháp thống kê cũng như những địa điểm mới được phát hiện thêm, chúng tôi đã thống kê được một danh mục gần 30 phế tích thuộc dạng đền tháp. Trong số này bao gồm: Duy Viên (xã Vịnh Lâm), Nam Sơn, Huỳnh Xá (xã Vĩnh Sơn), thuộc huyện Vĩnh Linh; An Xá (xã Trung Sơn), Phường Sỏi (xã Do Phong), Hà Trung (xã Do Châu) thuộc huyện Do Linh); Kim Đâu (xã Cam An), Định Xá, Lâm Lang (xã Cam Hiếu) thuộc huyện Cam Lộ; Trương Xá (phường IV), Đông Hà (Phường III) thuộc thị xã Đông Hà; Trâm Lý (xã Hải Quy), Trà Lộc (xã Hải Xuân), Câu Hoan (xã Hải Thiện), Trung Dân (xã Hải Thành), Trường Sánh (xã Hải Trường) thuộc huyện Hải Lăng; Thạch Hãn (phường 2) thuộc thị xã Quảng Trị); Dương Lệ, Võ Thuận (xã Triệu Thuận), Trà Liên (xã Triệu Giang), Ngô Xá (xã Triệu Trung), Bích La (xã Triệu Đông), Nhan Biểu, Đa Nghi (xã Triệu Thượng), Quảng Điền (xã Triệu Đại), Phương Sơn, Thượng Trạch (xã Triệu Sơn) thuộc huyện Triệu Phong. Các địa điểm di tích này được gọi tên theo tên địa danh của các làng. Một vài nơi khác như An Lộng, Bích Khê, Đại Hào, Liêm Công... có được các nhà nghiên cứu người Pháp lưu ý đầu thế kỷ nhưng nay đã không còn dấu vết gì .
Do những biến động mạnh mẽ và thường xuyên của các điều kiện tự nhiên, xã hội nên cho đến nay, tất cả các địa điểm mang dấu tích đền tháp kể trên chỉ còn tồn lưu dưới dạng phế tích với những cồn đất mang các tên gọi như Cồn Giăng, Lùm Giăng, Lòi Giăng...; với các đống gạch vụn nát, các thành phần kiến trúc, các phù điêu, các đối tượng nguyên là các vị thần Chăm nằm ngổn ngang và bên trên đó thường là những ngôi miếu thờ của người Việt. Những năm gần đây, nhiều địa điểm di tích bị huỷ hoại một cách nghiêm trọng, một phần do bom đạn của chiến tranh, nhưng phần khác là do nhân dân địa phương đào bới để lấy đất, lấy gạch hoặc tìm những cổ vật quý Chăm pa.
Cách đây gần trọn một thế kỷ, vào năm 1905, linh mục Cadière đã tiến hành khảo sát và lập một danh mục khá đầy đủ về các địa điểm có dấu tích đền tháp Chăm trên toàn khu vực Bình Trị Thiên, trong đó Quảng Trị là địa bàn có số lượng nhiều di tích hơn cả. Từ đó cho đến nay, lần theo những trang tư liệu có tính chất gợi mở này, các nhà nghiên cứu đã một mặt xác định lại tính chân thực của những địa điểm đã phát hiện; mặt khác cũng đã tìm thêm được một số địa điểm mới. Có di tích do bị đào bới mà tình cờ phát hiện, lại có di tích đã được các nhà nghiên cứu tiến hành khai quật; nhưng dù cố gắng đến mấy thì trên một thực tế của sự hoang tàn, đổ nát như vậy, các kết quả nghiên cứu, thẩm định cũng chỉ dừng lại ở mức độ khảo sát, mô tả, cao hơn một chút là sự đánh giá, phác thảo một chân dung mờ nhạt dựa trên cơ sở những gì có thể nhìn thấy được, cảm nhận được chứ khó có thể đạt đến do chính xác hoàn toàn như những gì mà di tích vốn có. Tuy nhiên, với những gì hiện còn, có thể thấy rằng ở một địa bàn không lấy gì làm rộng lớn như Quảng Trị thì việc tồn lưu một số lượng đền tháp như thế quả thật xứng đáng để gọi là "xứ tháp" của khu vực Bình - Trị - Thiên. Đó là một đặc điểm nổi trội hơn hẳn trong toàn khu vực.
Địa bàn phân bố của các đền tháp nằm rải rác khắp nơi từ vùng ven biển lên tận vùng đồi trung du, nhưng mật độ nhiều nhất vẫn là ở đồng bằng - nơi nguyên là những làng cổ Chăm. Cũng như các nơi khác trong lãnh thổ của vương quốc Chămpa, đa số các đền tháp ở Quảng Trị thường được dựng trên những mô đất cao vùng gò đồi hay ven triền các cồn cát. Một số khác dù nằm giữa vùng đồng ruộng (như tháp Kim Đâu, Trung Đơn, Ngô Xá, Bích La, Quảng Điền) thì địa điểm tọa lạc đều ở các cồn đất có địa hình dương từ 5 - 10m. Trên từng bậc địa hình từ đông sang tây ở đâu chúng ta cũng có thể bắt gặp các dấu tích đền tháp: Phía tây cồn cát ngoài gần biển (Đại Trường Sa) là di tích ở Phương Sơn/An lưu. Giữa hai dãi cồn/đụn cát (thuộc vùng đồng ruộng) là các di tích ở Bích La, Trung Đơn, Dương Lệ, Quảng Điền, Ngô Xá... Trên dải cồn/đụn cát trong (Tiểu Trường Sa) là các di tích ở Trà Lộc, Câu Hoan, Hà Trung, Đa Nghi... Vùng tiếp giáp các đồi trung du là các di tích ở Phường Sỏi, Huỳnh Xá, Duy Viên, Lâm Lang, Trương Xá, Đông Hà, Nhan Biểu...Vùng trên cùng, ở cuối địa hình đồi là tháp An Xá.
Quy mô các đền tháp Chăm ở Quảng Trị nói riêng, vùng phía bắc vương quốc Chăm pa nói chung thường có kích thước vừa và nhỏ, ít có những khu đền tháp lớn, tập trung với những ngôi tháp đồ sộ, uy nghi như Mỹ Sơn, Đồng Dương, PÔ Naga... Đền tháp là công trình kiến trúc tôn giáo của người chăm chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Ấn Độ nên các kalan là hình ảnh thu nhỏ của "trung tâm vũ trụ” trên núi Mêru, nơi ngự trị của các thần linh theo tín ngưỡng thờ các vị thần ở hạ giới nên được tuân thủ theo những quy định chặt chẽ. Do là bố cục hướng tâm, các trục xoay ra bốn hướng, mặt tiền cũng như cửa chính quay về hướng đông - hướng của các vị thần linh và cũng là hướng của tầm nhìn chiến lược về biển của người Chăm.
Bên cạnh những khu đền tháp được xây dựng tập trung theo mô hình một kalan thờ thần chính (thường là bộ ngẫu tượng Linga - Yoni: thể .hiện quan niệm thờ sinh thực khí, biểu trưng của sáng tạo bằng sự sinh sôi, nảy nở) ở trung tâm và vài kalan thờ các thần phụ (thuộc bộ 3: Brahma - đấng sáng tạo, Shiva - đấng hủy diệt, Visnu - đấng bảo tồn hoặc các vị thần liên quan gần gũi với "tam vị nhất” theo này) vây xung quanh là những đền tháp được xây dựng theo mô hình đơn lẻ, dưới dạng độc tháp. Các khu tháp được xây dựng có quy mô lớn, tập trung vốn là "thánh địa" của một vùng, nơi hành hương, hành lễ hàng năm, còn các tháp nằm đơn lẻ vốn chỉ là các đền thờ của một hay nhiều grama (làng xã), nơi nhân dân vẫn đến lễ bái thường ngày.
Có bốn địa điểm thuộc di tích đền tháp ở Quảng Trị qua các dấu tích hiện còn có thể thấy chúng là những trung tâm tôn giáo của mỗi vùng trong toàn bộ địa bàn này. Đó là:
- Hà Trung - ngôi đền Indrakantesvara của Hoàng hậu Tribhuvanadevi và An Xá - trung tâm tôn giáo của vùng châu Ma Linh.
- Trương Xá (thượng nguồn sông Hiếu) và Dương Lệ - trung tâm tôn giáo của vùng bắc châu ô.
- Câu Hoan - trung tâm tôn giáo của vùng nam châu ô.
Trong số này, ngoại trừ ngôi đền Indrakantesvara thì các khu đền tháp khác đều lấy biểu tượng của bộ sinh thực khí Linga - Yoni làm đối tượng thờ chính, đặt ở tháp trung tâm và vây quanh nó là từ ba đến bốn kalan trở lên. Đặc biệt, Ở khu tháp Dương Lệ, với những dấu vết hiện còn qua các cấu kiện kiến trúc, nền móng..., nhất là kích thước to quá cỡ của bệ Yoni, có thể coi đây là một cụm tháp lớn hơn cả và hẳn là nó đã giữ vai trò như một thánh địa không chỉ của vùng bắc châu Ô xưa mà còn là của cả một vùng khá rộng lớn thuộc vùng bắc vương quốc Chăm pa (ít nhất là từ nam châu Rí đến châu Ma Linh dưới các thế kỷ từ VII đến XIII).
Ngoài các khu đền tháp có quy mô lớn như đã nêu trên, các đền tháp còn lại ở Quảng Trị hoặc được xây dựng theo mô hình một vài tháp với quy mô nhỏ, hoặc dưới dạng tháp đơn lẻ (chỉ có 1 kalan). Những tháp này cũng đều thờ Linga/Mukhalinga - Yoni. hoặc những vị thần khác như Nandin, Shiva, Buddha, Dvarapata...
Các đền tháp Chăm ở Quảng Trị qua những dấu tích còn lại cho thấy đa phần đều sử dựng nguyên liệu chính là gạch nung. Một số tháp sử dụng kỹ thuật kết hợp gạch nung với đá (sa thạch - mè), nhưng thường rất ít, chỉ ở những cấu kiện trụ cửa, bậc cửa, lin tau, các khối đá bó vỉa ở móng tháp, bệ thờ, đài thờ, vật trang trí... (như Hà Trung, An Xá, Bích La, Dương Lệ, Trà Liên, Trung Đơn...), còn một số tháp khác hầu như chỉ xây bằng gạch (như Trà Lộc, Quảng Điền, Lâm Lang, Trương Xá, Trường Sánh, Nhan Biểu...). Trong số các công trình có sử dụng vật liệu đá thì Hà Trung là tiêu biểu. Ỡ đây theo khảo tả của H.Parmentier là thuộc một dạng kiến trúc đặc biệt, có năm tảng đá khổng lồ bằng sa thạch (hiện còn bốn tảng) nguyên là cột của một gian nhà lớn kiểu như ngôi nhà cột Đồng Dương và PÔ Naga; bên cạnh nhiều cột ốp (ít nhất là 10 cột) cùng với rất nhiều các cấu kiện khác có kích thước lớn được sử dụng bằng đá, cụ thể là tập trung vào công trình mà ông cho là thuộc một kiến trúc thấp như Mỹ Sơn B5 hay kiến trúc dài của Tháp Bạc. Đó là chưa kể các bệ cột, các đài thờ, các trang trí kiến trúc khác. Ngô Văn Doanh thì cho rằng: "Hà Trung là khu kiên trúc Chăm pa duy nhất hiện được biết dùng nhiều đá nhất để làm các bộ phận kiến trúc khác nhau” Việc những người thợ Chămpa xây cất nên các công trình sử dụng nhiều khối đá sa thạch có kích thước lớn tại một vùng đất hoàn toàn vắng bóng nguồn vật liệu này, quả là một bí ẩn kỳ tài về phương cách vận chuyển và tạo tác.
Cách thức, kỹ thuật xây dựng những tháp gạch Chămpa ở Quảng Trị cũng giống như nhiều nơi khác trên khu vực miền Trung, cho đến nay vẫn còn là những ẩn số. Tuy nhiên, trên thực tế tại các phế tích đền tháp đã sụp đổ, một đặc điểm chung là người ta khó tìm thấy (hoặc có thì cũng rất ít) những viên gạch còn nguyên vẹn mà chỉ toàn là những mảnh vỡ vụn nát không định hình, thậm chí ở một vài nơi, dù đào bới đến phần móng cũng chỉ thấy những lớp gạch dã mụn ra thành đất. Điều này bởi nhiều lý do, trong đó có sự tác động mạnh mẽ của điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, điều kiện lịch sử phức tạp và đầy biến động của vùng đất này; nhưng xét cho cùng thì cũng có thể thấy rằng các tháp Chăm ở Quảng Trị đều được sử dụng loại gạch có độ nung thấp. Ớ một số nền móng tháp như Hà Trung, An Xá, Dương Lệ... tuy còn một ít gạch nguyên được tìm thấy trong các đợt khai quật nhưng độ nung không cao. Đó là những viên gạch có kích thước lớn hơn nhiều so với gạch người Việt hiện đại; độ dày, mỏng, to, nhỏ tương tự nhau; chúng thường có màu nâu non và ở bên trong có lõi màu nâu đen. Giữa các viên gạch hoàn toàn không tìm thấy những dấu hiệu về việc sử dụng chất kết dính mà chỉ như là được xếp chồng lên nhau theo từng lớp. Vấn đề về cách thức và kỹ thuật xây dựng tháp Chăm mặc dù còn tồn nghi với nhiều giả thiết đang tiếp tục được các nhà nghiên cứu tìm tòi, song có thể nói bên cạnh những đặc điểm chung thường thấy ở các nơi thì chắc chắn những người thợ xây dựng các tháp Chăm ở Quảng Trị đã có một trình độ kỹ thuật cao, một sự sáng tạo vượt bậc và có sự linh hoạt chút ít trong phương pháp để tùy thuộc vào điều kiện của địa phương mình. Điều đáng ngạc nhiên là cho đến nay, trên các phế tích đền tháp ở Quảng Trị, chúng tôi vẫn chưa phát hiện ra những viên gạch Chăm có trang trí. Điều này có lẽ do tất cả những lớp gạch có trang trí ở các đền tháp đã bị mủn nát, không còn nguyên hình dạng nên không thể nhìn thấy được các hoạ tiết trang trí.
Về niên đại xây dựng các đền tháp Chăm thì cho đến nay chưa có một dấu hiệu nào để có thể làm căn cứ xác nhận được một trong số hơn. 20 địa điểm mang dấu tích đền tháp ở Quảng Trị có trước thế kỷ VIII. Dĩ nhiên, không thể loại trừ một số ngôi tháp được xây dựng vào thời gian trước đó mà do nhiều lý do khách quan cũng như chủ quan, chúng ta chưa có điều kiện tiếp cận. Tháp có niên đại sớm nhất mà chúng tôi biết được qua phong cách nghệ thuật điêu khắc đá là Bích La Trung. Tấm phù điêu lá nhĩ (tympan) tạc hình Shiva múa điệu vũ trụ (tandra) hiện đang trưng bày ở Bảo tàng nghệ thuật Chăm Đà Năng được mang về từ tháp Bích La đã được các nhà nghiên cứu xác định là thuộc phong cách Hòa Lai (đầu thế kỷ IX). Tuy nhiên, theo pho tượng Shiva khất thực tìm được ở Trâm Lý mà chúng tôi nghi là thuộc tháp Trà Lộc thì địa điểm này có khả năng thuộc thời kỳ sớm nhất: phong cách Mĩ Sơn El (thế kỷ VIII). Tháp có niên đại muộn hơn cả là Trung Đơn được xác định bởi phù điêu thủy quái Makara mang phong cách Trà Kiệu (thế kỷ XI). Các ngôi đền tháp khác như Hà Trung, Dương Lệ, Câu Hoan, Trà Liên, Duy Viên, An Xá... qua những dấu vết còn lại đều cho thấy chúng hoặc sớm hoặc muộn đều thuộc thời đại Đồng Dương (cuối thế kỷ IX đầu thế kỷ X).
Có một địa điểm được xác định niên đại xây dựng tương đối chính xác là khu đền tháp Hà Trung. Thông qua nội dung của cột bia ký chạm dày đặc chữ Chăm cổ ở cả bốn mặt, nhà nghiên cứu Majumdar xác định ngôi đền được xây dựng vào năm 838 saka (năm 916 tây lịch) dưới thời vua Indravarman. Ngoài ra, các nhà khảo cổ học của Trung tâm Văn hoá Việt Nam (Đại học quốc gia Hà Nội) và Bảo tàng Quảng Trị trong đợt khai quật khu tháp An Xá tháng 7-1993 cũng đã khẳng định cụm tháp này được xây dựng trong thời đại đầu Đồng Dương.
Như vậy, có thể nói trong bốn thế kỷ từ VIII đến Xi là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của nghệ thuật kiến trúc đền tháp Chămpa trên vùng đất Quảng Trị. Sau đó, vì không thể chống cự nổi trước sức mạnh Nam tiến của người Việt nên lãnh thổ Chăm pa ngày một thu hẹp dần kể từ cuộc chinh phạt của Lý Thường Kiệt đầu thế kỷ XI cho đến khi mất hết quyền sở hữu đất đai, kể cả quyền sở hữu các công trình văn hóa để tan biến vào trong cộng đồng người Việt tại xứ này sau thế kỷ XIV. Điều này lý giải vì sao các đền tháp ở Quảng Tri không có niên đại muộn hơn thế kỷ XI.
2. THÀNH LŨY
Trên toàn địa bàn tỉnh Quảng Trị qua những cứ liệu thực tế và sự lưu truyền trong dân gian cho thấy hiện có hai địa điểm liên quan đến những công trình kiến trúc thành lũy mà cho dù trải qua thời gian đã trở nên hoang phế nhưng vẫn còn để lại những vết tích đáng tin cậy. Đó là địa điểm Bến Lũy thuộc làng Cổ Lũy, xã Vinh Giang, huyện Vĩnh Linh và địa điểm nằm ở phía tây nam khu chợ Thuận thuộc làng Vệ Nghĩa, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong.
Cả hai công trình hiện chỉ cỏn những dấu tích mờ nhạt, nhưng dựa vào những chứng cứ về khảo cổ học trên trục lịch đại với các hiện vật thuộc nền văn hóa trước và trong thời kỳ Chămpa cũng như sự quy chiếu về mặt địa lý, lịch sử... trong khu vực tọa lạc của những địa điểm này, các nhà nghiên cứu đã bước đầu phục dựng lại được quy mô, cách thức xây dựng, phác họa được bối cảnh ra đời, sự tồn tại và ý nghĩa của các công trình nói trên và khẳng định chủ kiến tạo ban đầu là thuộc về một dân tộc bản địa có trước người Việt: người Chăm. Đây chính là hai tòa thành được gọi theo hai tên: thành Cổ Lũy (gọi theo tên địa danh) và thành Thuận Châu (gọi theo cách hiểu là thành cũ của châu Thuận từ thời nhà Trần).
Thành Cổ Lũy và thành Thuận Châu đều được xây dựng trên vùng đồng bằng ven biển, gần các con sông chính trong vùng là sông Bến Hải/Hiền Lương (sông Hồi/sông Minh Lương) và sông Thạch Hãn, đặc biệt là gần hai cửa biển: Cửa Tùng (cửa Tùng Luật), Cửa Việt (cửa Việt Yên) nhằm tạo ra tại những nơi này các lỵ sở hành chính gắn kết với các thị tứ để vừa thiết lập nên trung tâm chính trị, đồng thời làm nhiệm vụ trấn giữ những địa bàn xung yếu ven biển - nơi nối thông từ bên ngoài với các vùng đồng bằng dân cư rộng lớn ở hai phía bắc và nam của khu vực Quảng Trị. Người Chăm với con mắt nhìn chiến lược về biển cũng như có nhiều lợi thế về mặt quân sự biển nên các trung tâm chính trị, quân sự được đặt không xa so với cửa biển. Từ đây theo các trục sông về phía tây là những trung tâm tôn giáo (đền tháp/thánh địa) nối kết chặt chẽ với các trung tâm thương mại (cảng sông, cảng biển) về phía đông để tạo ra thế liên hoàn. Sự gắn bó mật thiết giữa trung tâm chính trị, quân sự, trung tâm văn hóa và kinh tế đã trở thành một mô hình tương đối trọn vẹn, có ý nghĩa nhiều mặt trong chiến lược quốc phòng và phát triển dân sinh.
Thành lũy của người Chăm ở Quảng Trị là kết quả của nghệ thuật sử dụng triệt để những gì đã có của tự nhiên như địa hình, cung đường, sông nước... để phát triển lên một trình độ hoàn thiện, làm cho nó trở thành những pháo đài phòng thủ chắc chắn, tiện cho việc giao thương về kinh tế, văn hóa, xã hội trên vùng mà nó chi phối.
Thành Cổ Lũy và thành Thuận Châu là hai tòa thành cổ giữ vai trò trọng yếu trong hai khu vực thuộc châu Ma Linh và Châu Ô xưa. Kiến trúc của thành đều được đạp bằng đất, thường có hình chữ nhật, bốn mặt là các lũy đất. Cấu tạo của lũy là nền đất nện chặt, kè đá củ đậu (đá cuội) hoặc đá ong lẫn lộn. Chiều cao của lũy không lớn (cao nhất chỉ chừng hơn 5m). Ớ một vài nơi của hệ thống tuy, qua thực tế hiện còn cho thấy có dấu hiệu về sự tồn tại của những mảng tường thành được đạp bằng gạch, tuy nhiên đấy có thể chỉ là những điểm nguyên là cổng thành hoặc là bề mặt của thân thành phía bên trong. Xung quanh lũy là hệ thống hào thành rập rờn sông nước được tận dụng từ chiều uốn khúc của các con hói, nhánh sông. Bên trong là bãi đất bằng rộng dùng xây dựng các dinh thự, kho tàng. Bên ngoài thành là khu vực thị tứ, nơi giao lưu buôn bán tấp nập nhờ mạch nối của các trục đường giao thông thủy, bộ.
Thời điểm có sự hiện diện của thành Cổ Lũy và thành Thuận Châu trên vùng phía Bắc vương quốc Chăm pa có thể đã bắt đầu từ thế kỷ IV - V trong thời kỳ hình thành và phát triển của vương triều Gangaraja. Những tài liệu hiếm hoi về các tòa thành cổ Chămpa đã không cho phép chúng ta khẳng định qui mô, cách thức và kỹ thuật xây dựng, càng không thể biết được điều gì chính xác về thời gian hình thành. Tác giả Phan Khoang trong "Việt sử xứ Đàng Trong" cho rằng "từ đời Phạm Văn, người Chăm đã biết thuật xây thành, đắp lũy, họ kiến trúc những tường thành bằng gạch, có những tháp canh bằng đá để bảo vệ những thành thị". Chúng tôi cho rằng rất có thể người Chăm đã biết kỹ thuật đắp các lũy thành bằng đất sớm hơn. Song dù sao, qua một số nguồn thư tịch cổ Trung Hoa và Đại Việt cho chúng ta biết rằng vùng đất Bình Trị Thiên chính thức thuộc về người Chăm từ giữa thế kỷ IV, dưới thời Phạm Văn nên việc xây dựng các công trình quân sự để phòng thủ, chống lại sự xâm lấn của thế lực phong kiến Trung Hoa hẳn đã phải thực hiện trong khoảng thời gian này. Cố nhiên, các thành lũy Chăm pa chắc chắn là sự nâng cao hơn, hoàn thiện hơn từ những đôn lũy của chính quyền đô hộ Trung Hoa tại quận Nhật Nam. Nó cũng như về sau này, khi còn xẩy ra cuộc tranh chấp Chăm - Việt (thế kỷ XI - XIV), nhà Trần đã sử dụng và sửa sang lại thành Thuận Châu và Hóa Châu. Học giả Đào Duy Anh cho rằng "chỗ thành Thuận Châu của nhà Trần, xưa kia có lẽ là trị sở Ô Châu của Chiêm Thành. Chúng tôi ngờ rằng thành Chu Ngô của nhà Hán ở vào khoảng ấy”. Như vậy, rất có thể thành Thuận Châu được xây dựng trên nền tảng của thành Chu Ngô - một thời gian từng là quận trị của quận Nhật Nam; còn thành Cổ Lũy là sự nâng cấp từ một đồn lũy quân sự trấn giữ, bảo vệ cảng biển Cửa Tùng dưới thời nhà Hán. Thành Cổ Lũy có thể đã chấm dứt vai trò của mình từ trước thời nhà Trần (thế kỷ XIII); còn thành Thuận Châu vẫn được người Việt sử dụng suốt trong các thế kỷ XIV - XV - XVI. Sau năm 1558, khi Nguyễn Hoàng chọn ái Tử để xây dựng thủ phủ Đàng Trong của nhà Chúa Nguyễn (cách Thành Thuận 2km về phía tây) thì tòa thành này chỉ còn được sử dụng làm lỵ sở của một huyện: huyện Vũ Xương (sau đổi thành Đăng Xương). Tầm nhìn chiến lược về biển của người Chăm đến đây đã được thay thế bằng con mắt nhìn chiến lược về vùng núi và trung du của người Việt.
3. CÁC CÔNG TRÌNH KHAI THÁC NƯỚC
Trên vùng đất luôn khô rát, cháy bỏng bởi gió Lào mà người Quảng Trị từ xưa đến nay phải gánh chịu thì nhu cầu về nước luôn là nỗi khát vọng ám ảnh và trở thành nỗi trăn trở ngàn đời buộc các thành phần cư dân nơi đây phải luôn tìm cách tạo ra cho mình những cách thức kỹ thuật cốt làm sao khai thác được nguồn nước phù hợp với điều kiện địa lý, thủy văn của vùng đất mình cư trú. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, các thế hệ người dân Quảng Trị thuộc nhiều thành phần dân tộc khác nhau đã không ngừng vật lộn với môi trường thiên nhiên khắc nghiệt, không ngừng sáng tạo và liên tục kế thừa những thành tựu văn hóa của nhau trong lĩnh vực khai thác nguồn nước, trong đó có thành quả quan trọng của một bộ phận cư dân Chăm pa. Hệ quả của sự sáng tạo và kế thừa này đã sản sinh ra hàng loạt những công trình khai thác nước cổ với tính chất, quy mô, kỹ thuật giống và khác nhau tồn tại cùng thời gian cho đến tận ngày nay.
Hệ thống các công trình khai thác nước cổ ở Quảng Trị rất phong phú và đa dạng theo sự ảnh hưởng của điều kiện địa hình. Nếu không tính các công trình thuộc sản phẩm riêng biệt của người Việt giai đoạn sau này thì hệ thống khai thác nước cổ (mà chúng tôi cho là của người Chăm) ở Quảng Trị
bao gồm các loại hình với các đặc điểm sau đây:
a. Hệ thống các công trình khai thác nước gồm nhiều thành phần cấu trúc phức tạp, liên hoàn, đa hình dạng, đa chức năng, nằm ven các triền đồi đất đỏ bazan hoặc ven các triền đồi cát vùng đồng bằng và ven biển để nhằm khai thác mạch nước nổi (phun lộ thiên hay phun ngầm). Hệ thống này bao gồm những công trình mang tính chất “dẫn thủy nhập điền" có vai trò thủy lợi cao, được nhân dân các địa phương quen gọi là giếng với các tên gọi: giếng Bà, giếng Ông, giếng Lợi, giếng G*i, giếng Kình, giếng Đào, giếng Côi, giếng Dưới, giếng Trạng, giếng Máng, giếng Tép, giếng Pheo, giếng Đàng, giếng Mới... Ở vùng đất đỏ bazan tây Do Linh (Do An, Do Sơn); giếng Đắn, giếng Ba Vòi, giếng Mài Rạ... Ở vùng đất đỏ đông nam Vinh Linh (Vinh Hiền, Vinh Thành), giếng Mới, giếng Làng, giếng Chùa, giếng Đá Ở vùng cồn cát đông Do Linh (Do Mỹ).
Hệ thống này vận dụng triệt để những ưu điểm tự nhiên vốn có tại các bề mặt địa hình để tạo ra những cấu trúc, cách thức kỹ thuật phù hợp trên cơ sở sử dụng nguyên vật liệu tại chỗ. Có loại cấu trúc gồm nhiều thành phần phức tạp, liên hoàn với nhau tạo thành hệ thống (systèms) với sự có mặt của các bể lắng (bassin supérieur), máng/vòi dẫn diệc dễ cu ve), bể hứng (bassin d'alimentation), vũng (puits'), các mương phai bên cạnh những hồ chứa, đập nước cùng tham gia vào quá trình lưu thông dòng chảy (như giếng Đào, giếng Trạng làng An Nha, giếng Máng làng Long Sơn, giếng Gái làng Thanh Khê xã Do An...); lại có loại chỉ cấu trúc đơn giản, gồm một, hai thành phần với. bể và mương dẫn (như giếng ông, Giếng Bà, giếng Tép Giếng G*i làng Hảo Sơn xã Do An...) hoặc chỉ là những hố đào sâu xuống đất có kè đá xung quanh dạng vuông hay tròn nằm độc lập để nhận nước ngầm thấm ra từ vách của một giếng bên trên (như giếng Đắn, giếng Mới, giếng Trạng làng Liêm Công xã Vĩnh Thành...).
Có loại không hề sử dụng nguyên liệu đá mà chỉ đắp bằng đất, hoặc kè chắn xung quanh thành giếng bằng một ít gạch, các tấm gỗ, cọc tre (như các giếng ven cồn cát làng An Mỹ xã Do Mỹ, các giếng Khai, giếng Mới, giếng Chùa Ở làng Thủy Tú, Vĩnh Tú, Vĩnh Linh); cũng có loại sử dụng nguyên các viên đá từ trong tự nhiên (đá ong, đá bazan) hoặc được chế ra theo cách chế tác giản đơn để xây những bể lắng bể hứng, mương dẫn bằng kỹ thuật xếp, kè đá (các giếng đá xếp ở các làng Hảo Sơn, An Nha, An Hướng, Phường Xuân, Thanh Khê xã Do An); bên cạnh đó, lại có loại xây dựng công phu bằng cách xếp chồng những bi đá hình tròn được chế tác theo kỹ thuật đẽo, mài trình độ cao để tạo ra bể chứa (có nơi lại có lỗ thoát nước ra ngoài qua thành giếng) hay xếp những viên đá được chế tác có bề mặt nhẵn dùng lát nền quanh thành giếng (như giếng Pheo, giếng Mới, giếng Đàng, Giếng Boong Ở tây Do Linh (Tân Văn, Do An), giếng Đá Ở đông Do Linh (Như Thượng, Do Mỹ).
Tuy vậy, về mặt chức năng, tất cả các công trình này đều nhằm vào mục đích là cung cấp nguồn nước để không chỉ phục vụ cho sinh hoạt con người mà còn phục vụ đắc lực cho sản xuất nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước cho ăn uống, tắm giặt, chăn nuôi, trồng trọt của cư dân địa phương. Cơ chế hoạt động của các công trình khai thác nước trong hệ thống này đều tuân thủ theo nguyên tắc: nước tự chảy. Tức là nước từ mạch ngầm tự dâng ở một bể chứa, sau đó do vào các bể, rảnh theo lối nước chảy từ chỗ cao xuống chỗ thấp. Gs. Trần Quốc Vượng cho rằng: “Đây là một loại hình công trình thủy lợi có một chưa hai đặc trưng của Quảng Trị".
b. Hệ thống các giếng đơn mang hình ảnh của loại giếng khơi được đào sâu xuống dưới mặt đất để khai thác mạch ngầm. Chức năng của hệ thống này chỉ thuần túy lấy nước dùng cho sinh hoạt và hoàn toàn không bao hàm ý nghĩa về thủy lợi. Cấu trúc của loại giếng này có hình vuông hoặc tròn, xếp đá gốc (như các giếng Thồ Lồ làng Tùng Luật, giếng Làng làng Nghĩa An...) hay những phiến đá chế có kích thước lớn, được đục đẽo công phu xếp theo kỹ thuật đơn giản (như giếng Tây, giếng Tô làng Lâm Xuân), hoặc có khi lại được gắn kết bởi kỹ thuật xẻ ngoạm, khớp mộng chốt giữa các phiến đá với những trụ đá (hoặc trụ gỗ) kè 4 góc; lại có khi kết hợp vừa xếp đá ong chế, vừa kè chắn bởi các tấm đá phiến có kích thước lớn được tạo dáng đẹp ở quanh vách; (như giếng Đá làng Kim Đâu, giếng đá làng Cẩm Thạch, làng An Xuân); các giếng nửa đá, nửa gạch (trên xếp gạch, dưới kè đá hay dưới xếp gạch trên kè đá) dưới đây có lát gỗ (như giếng Xóm làng Bích Khê, giếng Chùa làng Đại Hào, giếng Chợ ở chợ Thuận), hoặc chỉ xếp bằng gạch (như giếng Gạch làng Hà Trung)...
Những công trình khai thác nước thuộc hai hệ thống này trải qua thời gian có một số đã trở nên hoang phế, một số khác đã được cải tạo lại để phù hợp với nhu cầu của nhân dân địa phương, nhưng nhìn chung chúng đều là những giếng có mạch nước trong vắt vọt lên, tiết ra, rỉ ra từ lòng đất, dưới chân các triền đồi. Quanh năm suốt tháng, các giếng này không bao giờ cạn. Đó là những công trình phục vụ đắc lực cho sinh hoạt con người và sản xuất nông nghiệp.
Gần một thế kỷ qua, hệ thống các công trình khai thác nước cổ ở Quảng Trị (nhất là hệ thống giếng vùng tây Do Linh) luôn là đối tượng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong, ngoài nước với nhiều cách tiếp cận và giải thích các vấn nạn một cách khác nhau.
M. Colani dựa vào các dầu vết tín ngưỡng (tục thờ đá, thờ cây, thuật phong thủy, mồ mả cũ), đối sánh cách khai thác nước vùng này với các phương thức thủy lợi của người Việt và người Chăm, dẫn các chứng cớ dân tộc học của các tập đoàn thiểu số vùng Assam ở Đông Bắc ấn và Indonésia rồi đi đến kết luận: Hệ thống thủy lợi Quảng Trị "là thuộc về một dân tộc lạ, chắc đã để lại hậu duệ ở Quảng từ nhưng là một số rất nhỏ, đã bi chìm vào trong tổng thể".
L.P. Cadière tán đồng quan điểm với M. Colani về chủ nhân ngoại lai của các công trình khai thác nước ở Quảng Trị bằng cách đưa ra dấu vết còn lại của một thương điếm (emporium) có tên là Phường Hàng ở làng Mai Xá, trạm thuế quan Cửa Tùng rồi cho rằng những người đi biển đã dấn đây từ thời xa xưa và thâm nhập vào các vùng đất bên trong, chủ yếu theo hướng nam tây. Cuối cùng ông nhận định: Những người xây dựng (những hệ thống) ở Do Linh "là những người đi biển tới từ Indonésia hay hậu duệ của họ".
Tạ Chí Đại Trường đưa ra một loạt phản biện xác đáng và hợp lý đối với những giả thiết "ngoại lai", từ đó dựa vào các cứ liệu lịch sử và những lập luận của mình để đi đến một giải đáp mà theo ông là “thừa giản dị": "Hệ thống thủy lơi dùng cho sinh hoạt và nông nghiệp ở Do Linh là của những chiến tù (nhà Mạc) 1572 ".
Bên cạnh những quan điểm nói trên, nhiều công trình của các nhà nghiên cứu đã nêu ra và thiên về ý kiến cho rằng chủ nhân của hệ thống các công trình khai thác nước ở tây Do Linh nói riêng, Ở đông Do Linh, Vinh Linh, Cam Lộ và nhiều nơi khác trên địa bàn Quảng Trị nói chung là thuộc về người Chăm. Những kiến giải này một mặt dựa vào các chứng cứ văn hóa, lịch sử về sự tồn tại gần một thiên niên kỷ của cư dân Chăm tại Quảng Trị; mặt khác, căn cứ vào các kết quả nghiên cứu điền dã về khảo cổ học, dân tộc học, văn hóa học tại địa phương làm cơ sở để đưa ra những lập luận khá đầy đủ, có sức thuyết phục cao; đồng thời chủ trương coi các hệ thống giếng có cấu trúc phức tạp, liên hoàn, đa chức năng dựa trên nguyên tắc tự chảy theo lối dẫn thủy nhập điền có cùng chủ nhân sáng tạo với hệ thống giếng đơn xếp đá hay gạch, dưới có lát gỗ mà từ lâu nay đã được coi là giếng Chăm hay giếng theo kiểu kỹ thuật Chăm. Chúng tôi đi theo quan điểm này.
Gần đây, một số ý kiến lại đi theo một cách nhìn khác hẳn bằng cách không tán đồng nhưng cũng không phủ nhận các kiến giải của các nghiên cứu trước đây mà cho là “khó có thể nói rằng bộ phận cư dân cụ thể nào là chủ nhân đích thực của các công trình khai thác nước độc đáo trên". Từ đó những người theo quan điểm này đi đến kết luận vấn đề chủ nhân của hệ thống các công trình khai thác nước ở Do Linh (chỉ có hệ thống các công trình khai thác nước sử dụng đá xếp ở Do Linh mà thôi!) bắt đầu từ các cư dân thời đại đá mới, sơ kỳ kim khí, sau đó là các tộc người thuộc nhóm Môn - Khơ me kế thừa, rồi đến cư dân Chămpa (nhưng là nhóm cư dân sót lại sau thế kỷ XI - XV) nâng cấp, hoàn thiện và cuối cùng là người Việt cải tạo, sử dụng - kể từ sau năm 1572 cho đến tận ngày nay.
Như vậy, những công trình khai thác nước cổ ở Quảng Trị (nhất là hệ thống giếng xếp đá ở tây Do Linh) đã và đang trở thành vấn đề khoa học khá lý thú nhưng cũng chứa nhiều ẩn số gần một thế kỷ nay là của người Assam, Indonésia, Sa Huỳnh, Việt cổ, Bĩu - Vân Kiều, Tà ôi, Chămpa hay của người Việt sau năm 1572? Hệ thống giếng xếp đá có cấu trúc phức tạp, liên hoàn, đa chức năng dựa trên nguyên tắc nước tự chảy theo lối dẫn thủy nhập điền ở vùng đồi đất đỏ bazan tây Do Linh có quan hệ thế nào với hệ thống giếng ở vùng đồi đất đỏ bazan đông Vĩnh Linh; có liên quan gì đến hệ thống giếng ở vùng cồn cát đông Do Linh và liệu có gốc gác gì chăng với hệ thông giếng đơn xếp đá hay gạch, dưới có lát gỗ mà từ lâu nay đã được coi là giếng Chăm hay giếng theo kiểu kỹ thuật Chăm? Những máng đá ở các giếng Đào, giếng Máng, giếng Trạng... có cùng cách thức kỹ thuật với giếng Pheo, giếng Mới (ở tây Do Linh) giếng Đá (ở đông Do Linh) liệu có thể nói là thuộc một hệ hoàn toàn khác so với kỹ thuật lắp ghép đá phiến ở các giếng đơn như giếng Tây, Giếng Tô, nhất là các giếng Đá ở làng Kim Đâu, An Xuân, Cẩm Thạch không ?.
Một bộ phận dân tộc từ Assam, Indonésia tới, để lại những dấu vết qua các emporium, qua tục thờ đá hay một đám tù binh nhà Mạc mang ơn vị cứu tinh Nguyễn Hoàng để rồi lập đền thờ vua cũng như để lại những dấu vết về tiền khai, hậu khai... có thể có địa bàn cư trú rộng đến mức phân bố cả vùng lớn Quảng Trị không ? Những "kỹ sư bán khai" có gốc thương nhân đi làm nông nghiệp hoặc một đám tù binh đi xây dựng đồn điền mà đã đạt được những thành tựu thế kia thì lẽ nào một dân tộc có truyền thống nông nghiệp lâu đời nổi tiếng về kỹ thuật khai thác các mạch nước (nhất là kỹ thuật chế tác đá) từng có thời gian cư trú trên địa bàn này gần một thiên niên kỷ lại không thể là chủ nhân ? Để tạo ra được hệ thống dẫn thủy quy mô như ở vùng tây Do Linh đòi hỏi phải có sự tổ chức, một nguồn nhân lực và thời gian không phải ít, điều này chỉ có thể được thực hiện bởi một bộ phận cư dân nông nghiệp sống định cư; vậy, các cư dân với lối sống du canh du cư như người Vân Kiều, Tà ôi liệu có khả năng là chủ nhân sáng tạo không?
Tất cả các vấn đề nêu trên chắc chắn sẽ được các nhà khoa học giải thích tường tận trong một ngày gần đây. Tuy nhiên, dù sao thì trên thực tế, những hệ thống khai thác nước mà ngày nay vẫn còn tồn tại và đang phát huy tác dụng tốt đều đã trải qua nhiều thời kỳ với nhiều lớp chủ nhân sử dụng. Sự tổ chức khai thác nước, sử dụng nước của con người sao cho phù hợp với điều kiện địa lý, thủy văn của vùng đất mình cư trú à một thành tựu văn hóa mà dấu ấn của mỗi lớp cư dân, mỗi thời đại đều có những tính cách riêng của mình.
Thực tế cũng cho thấy một hệ thống thủy lợi, hệ thống dẫn thủy, khai thác nước không phải lúc nào cũng thuộc về một phương pháp kỹ thuật đồng nhất. Điều kiện địa lý, thủy văn của mỗi vùng đất đã tạo nên sự lệch khác trong sản phẩm vật chất có mang tính văn hóa thà con người trên vùng đất ấy tạo ra chứ đâu phải một quy cách của một hệ thống là nhất thiết phải thuộc vào một thành phần tộc người khác nhau. Người ta đã đi tìm sự so sánh các hệ thống dẫn thủy Quảng Tri với "người Mọi phía nam Trung Kỳ", với người Chăm Ở Phan Rang, Phú Yên, người Khơ me Ở Nam Bộ, người Thái và người Việt Ở Bắc, rồi với cả văn minh cự thạch ở Lào, của người Dayak Ở Nam Dương; trong khi đó chính ngay trên vùng đất nhỏ bé này, mỗi công trình, mỗi hệ thống đã mang một dáng vẻ riêng. Điều không thể không thừa nhận là trình độ kỹ thuật khai thác.nước ngâm của cư dân Chăm pa từ lâu đã thành thạo hơn nhiều so với các cư dân khác.
Người Chăm có mặt ở vùng đất Quảng Trị cũng như trên toàn bộ dải đất Bình - Tri - Thiên từ khá sớm. Họ đã biết làm nông nghiệp tử đầu công nguyên. Họ rất giỏi trong việc dò tìm mạch. nước để khai thác phục vụ cho sinh hoạt và trồng trọt. Kết hợp với kinh nghiệm dò tìm mạch nước, đào giếng, làm các bê chứa, người Chăm cổ đã xây dựng hàng loạt những hồ, đập nước, những hệ thống dẫn thủy liên hoàn, đa chức năng dùng đá xếp hoặc không dùng đá xếp ở ven triền các đồi đất đỏ bazan, đồi cát ven biển cũng như hàng loạt các giếng đơn xếp đá, gạch tại các khu vực cư trú, các địa điểm, công trình tôn giáo, các thị tứ, ven các cảng cổ gần biển... để phục vụ thiết thực cho đời sống sinh hoạt và sản xuất Nhiều nhà nghiên cứu đã nêu ý kiến cho rằng người Chăm đào hàng loạt giếng ở các khu vực cư trú, ở ven các cảng cổ để không chỉ dùng trong sinh hoạt cư dân mà còn dùng để xuất khẩu nước ngọt. Cư dân Việt từ thế kỷ XI đã kế thừa và phát triển các thành tựu văn hóa này. Vì vậy, trải qua hàng thế kỷ, các công trình khai thác nước cổ ở Quảng Trị đã trở thành sản phẩm văn hóa của nhiều lớp cư dân, trong đó chủ nhân sáng tạo - theo chúng tôi - là thuộc về người bản địa cổ Chăm pa từ những thế kỷ đầu công nguyên.
4. MỘ TÁNG VÀ CÁC DI VẬT VĂN HÓA KHÁC
Nhiều năm qua, bằng việc phát hiện của nhân dân cùng với các cuộc điều tra, khai quật khảo cổ học của các nhà nghiên cứu, người ta đã tìm thấy khá nhiều vò gốm, sành, bán sứ ở nhiều nơi thuộc địa bàn Vĩnh Linh, Do Linh, Triệu Phong, Hải Lăng. Những địa điểm phát hiện loại di vật này thường nằm trên (hoặc ven) các cồn cát, xung quanh các khu vực nguyên là các vùng cư trú của người Chăm xưa. Trong số những chiếc vò đã được phát hiện có nhiều loại với kích cỡ, chất liệu khác nhau. Có vò thuộc dạng gốm đất nung, xương gốm thô, độ nung thấp, không men, màu đỏ hoặc nâu đỏ vốn là loại gốm Chăm đặc trưng; có vò thuộc dạng bán sứ có 4 - 6 núm trên vai, có men ngà mà các nhà nghiên cứu đã thẩm định là loại đồ bán sứ được sản xuất dưới thời nhà Đường - Trung Quốc (thế kỷ VII - IX); một số vò đồ bán sứ Việt có men nâu, men trấu, men ngọc thuộc thời Trần, Lê; nhiều vò thuộc dạng sành, xương chắc, độ nung cao, có hoặc không men vốn là đồ sành do người Việt sản xuất dưới các thế kỷ XV - XVII. Những chiếc vò này có khi được chôn lẻ tẻ, nhưng thường được chôn tập trung thành từng cụm có từ 2 - 5 chiếc; bên trong có các vết tích than tro, đồ kim loại, đồ gốm, đá... Những chiếc vò hay cụm vò (đa dạng về chất liệu, kỹ thuật chế tác, hoa văn trang trí, đôi khi có chứa những hiện vật gốm, kim loại, than tro) có mặt ở hầu khắp địa bàn Quảng Trị cũng như nhiều nơi khác ở miền Trung cho thấy chúng tồn tại trong một thời gian dài không cùng tính chất và mang nhiều chức năng; song, rõ ràng một số trong chúng là những mộ vò.
Người Chăm là một dân tộc theo phong tục hỏa táng. Họ quan niệm rằng: khi chết, linh hồn con người phải về thượng giới nên việc tiêu hủy xác chết lấy tro xương cốt bỏ xuống biển, sông, suối hay ao hồ cũng là biểu hiện của thần Siva là hủy diệt để tái tạo. Tuy nhiên, người chết cần phải để lại một cái gì đó cho con cháu tưởng nhớ, đó là 9 (hoặc 7) mảnh xương trán mà thân nhân đem về thờ phụng. Để bảo vệ những lưu vật này, người ta đem chôn nó ngoài nghĩa địa, tại khu vực dành cho những thân nhân trong dòng họ và lấp lên đó một tượng nứt bằng đá. Tập quán hỏa táng và chôn những lưu vật của người chết trong mộ vò là một tập tục lâu đời của người Chăm có từ thời đại Sa Huỳnh.
Căn cứ vào việc thẩm định niên đại của những chiếc vò và vết tích có được từ bên trong cũng như cách thức chôn, các nhà nghiên cứu cho rằng đó là những mộ vò của người Chăm ở Quảng Trị suốt nhiều thế kỷ và thuộc vào những tầng lớp xã hội khác nhau. Những vò, cụm vò có mang đặc điểm gốm Chăm như Nhan Biểu, Trung Đơn là những mộ vò thuộc tầng lớp bình dân; còn những vò, cụm vò mang đặc điểm đồ bán sứ thời Đường là của những gia đình thuộc tầng lớp trên. Đặc biệt, cụm vò ở Dương Lệ Đông được coi là tiêu biểu nhất.
Đối với khá nhiều vò, cụm vò mang đặc điểm đồ sành Việt, bên trên có những nắp đậy là đồ bán sứ các thời Trần, Lê như Ở Động Bồ Chao, Dốc Miếu, Trí Bưu, Văn Trị, Trà Liên... thì chúng tôi ngờ rằng: đấy là những mộ vò Chăm thuộc các thế kỷ muộn về sau (từ thế kỷ XIV - XVII) - tức là ở vào thời kỳ mà cư dân Việt và cư dân Chăm sống cộng cư, xen kẽ lẫn nhau trên hầu khắp các địa bàn khu vực Trị Thiên.
Việc sử dụng các loại đồ sành, bán sứ của người Việt để phục vụ cho táng tục truyền thống của mình thì cũng như cách mà người Chăm đã từng làm đối với các đồ bán sứ Đường Trung Quốc trước đó (thế kỷ VIII - Xi). Đây chính là những tư liệu tốt cho việc nghiên cứu táng tục, truyền thống sản xuất và sử dụng đồ gốm của cư dân Chăm cổ cùng với việc giao lưu buôn bán của người Chăm và người Hoa có từ rất sớm ở Quảng Trị cũng như việc giao lưu văn hóa giữa cư dân Việt và cư dân Chăm trong quá trình cộng cư, xen cư.
Bên cạnh số di vật về mộ táng, người Chăm đã để lại trên địa bàn tỉnh Quảng Trị nhiều tác phẩm điêu khắc đá với trình độ nghệ thuật tuyệt vời và độc đáo. Đó. là gồm những mảng phù điêu, các bộ phận trang trí được gắn trên các đền tháp hoặc các bệ thờ, đài thờ đặt trong lòng tháp. Đặc biệt là những pho tượng về các vị thần, biểu tượng mang tính chất tôn giáo được người Chăm tôn vinh trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của mình. Người Chăm là một dân tộc không chỉ nổi tiếng về kỹ thuật.xây dựng các tháp gạch mà còn có tài nghệ cao về điêu khắc đá. Từ những mô úp hoa văn trang trí đơn giản cho đến những mảng phù điêu phức tạp mang nhiều chủ đề hay những pho tượng có kích thước lớn, đều được các nghệ nhân thể hiện một cách sống động bằng một kỹ thuật chạm khắc điêu luyện. Các tác phẩm nghệ thuật điêu khắc đá Chămpa thường gắn bó mật thiết với các di tích đền tháp, vì thế, số phận của những công trình này là điều kiện quyết định cho sự tồn tại của những di vật.
Cũng như nhiều nơi khác trong vùng phía bắc vương quốc Chămpa ngày trước, do sớm bị mất khỏi tầm quản lý, bảo vệ của chính chủ nhân tạo lập ra chúng, nên tất cả các đền tháp Quảng Trị nhanh chóng trở thành hoang phế. Chính điều này đã kéo theo sự biến động không nhỏ đối với các di vật Mặt khác, hàng thế kỷ đi qua với biết bao biến cố thăng trầm xẩy ra trên vùng đất này đã làm cho những di vật vốn dã không còn nguyên vẹn, càng không thể nguyên vị. Tuy vậy, thông qua những gì còn lại tại các phế tích đền tháp, các miếu thờ của người Việt hoặc những sưu tập hiện vật được lưu giữ tại Bảo tàng Quảng Trị, Bảo tàng Nghệ thuật Chăm Đà Năng (kể cả những di vật chỉ thấy được thông qua các bức ảnh người Pháp chụp lại hồi đầu thế kỷ) cũng đủ phản ánh một nội dung khá phong phú trên nhiều khía cạnh về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật; đặc biệt là tài nghệ điêu khắc đá của người Chăm. Ngẫu tượng Yoni ở Dương Lệ với một kích thước đáng ngạc nhiên đã dược các nhà nghiên cứu cho là một trong những Yoni to nhất được tìm thấy ở Việt Nam. Hai pho tượng Si va và U ma ở Trâm Lý và Dương Lệ là những tượng tròn dạt đến trình độ, tài năng điêu luyện của những nghệ nhân Chăm pa. BÒ thần Nan din Ở Cam Giang, Quảng Điền có thể coi là những hình tượng nghệ thuật hoàn hảo với cách xử lý tài tình có một không hai. Những cột đá, những tác phẩm điêu khắc đá Hà Trung có một phong cách thể hiện rất riêng, mang nhiều nét đặc trưng trong tiến trình phát triển của nghệ thuật Chăm. Những Garuda Ở Thạch Hãn, Đa Nghi, Ganesa Ở Trương Xá, Shiva Ở Bích La, Buddha Ở Thạch Hãn, Apsara Ở Đa Nghi, phù điêu lá nhĩ (tympan) ở Bích La, Trà Liên, Phương Sơn, Li nga Ở Cam Giang, Câu Hoan, các đài thờ, bệ thờ An Xá, Trà Liên... đều là những tác phẩm nghệ thuật có giá trị, biểu thị một cảm quan thẩm mỹ tuyệt vời của nhóm cư dân Chăm ở Quảng Trị.
Ngoài ra, một số đồ gia dụng như những chiếc nồi đồng dạng cà om, những thỏi sáp ong dùng thắp sáng và một số đồ kim loại mang tính chất tín ngưỡng cũng được phát hiện ở Do Thành, Do Mỹ, Triệu An đã phản ánh khá nhiều điều lý thú về đời sống của cư dân Chăm pa.
Như vậy, lần theo những dâu ấn vật chất còn tồn lưu dưới mọi hình thức được quy chiếu về theo bốn loại hình đã nêu, bước đầu chúng ta có thể hình dung được một bức tranh toàn cảnh tương đối đầy đủ về hệ thống di tích lịch sử, văn hóa mà một bộ phận cư dân Chăm pa trong quá trình tồn tại đã để lại trên vùng đất Quảng Trị. Cho dù còn nhiều vấn đề phải được nghiên cứu, nhìn nhận lại một cách thực sự nghiêm túc, khoa học mới mong tiếp cận gần hơn với sự thật lịch sử; song, sự tiềm tàng về số lượng, phong phú về loại hình, đa dạng về tính chất và nội dung - đặc biệt là sự hiện diện của các công trình khai thác nước mang nhiều dáng vẻ đặc thù, riêng biệt và độc đáo - đã không chỉ phản ánh sinh động những giá trị tinh hoa văn hóa Chăm pa, mà còn góp phần làm giàu thêm vốn di sản của vùng đất Quảng Trị nói riêng, cả nước nói chung.

Want your business to be the top-listed Government Service in Dong Ha?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Website

Address

Công Viên Fidel Castro
Dong Ha