01/08/2025
36pho.com: Góc Phố Lý Quốc Sư và Ấu Triệu cùng nhịp sống thường ngày 🫶🏻
Phố Lý Quốc Sư là một phố thuộc phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, bắt đầu từ ngã tư Hàng Bôn
01/08/2025
36pho.com: Góc Phố Lý Quốc Sư và Ấu Triệu cùng nhịp sống thường ngày 🫶🏻
01/01/2024
36pho: ĐỀN/ CHÙA LÝ TRIỀU QUỐC SƯ
Đền Lý Quốc Sư là một ngôi đền cổ được xây cất từ năm 1131 thời nhà Lý và gọi là Lý Quốc Sư tự. Hiện nằm ở số 50 phố Lý Quốc Sư, phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
Nơi đây thờ thiền sư Nguyễn Minh Không người đã chữa khỏi bệnh cho vua Lý Thần Tông. Ông được phong làm quốc sư và được triều đình phong ấp ở làng Tiên Thị (nay là Điềm Xá) huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Khi ông mất, dân làng lập đền thờ gọi là "Lý Quốc Sư Tự". Năm 1932, thiền sư Nguyễn Văn Định trụ trì đã bài trí thêm tượng Phật nên đền được gọi là chùa Lý Quốc Sư. Tên Lý Quốc Sư cũng được đặt cho tên phố chạy qua chùa và nối với phố Nhà Chung).
Lần trở lại sự tích ngôi chùa, sử cũ chép: vào năm 1136, Minh Không Thiền sư chữa khỏi bệnh nan y cho vua Lý Thần Tông, sau dó, ông được vua phong là Quốc Sư.
Theo sách Lĩnh nam chích quái, Thiền sư Minh Không thuở nhỏ tên là Nguyễn Chí Thành, sinh ngày 14 tháng 8 năm Bính Ngọ (1066), tại làng Điềm Giang, phủ Trường Yên (nay là thôn Quốc Thanh, xã Gia Thắng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình). Vốn thông minh nên sau 10 năm theo học thiền sư Từ Đạo Hạnh, ngài được thầy khen, ban pháp danh Minh Không, thuộc đời thứ 13 dòng Ti-ni-đa-lưu-chi và về trụ trì tại chùa Giao Thủy (Nam Định). Năm 1136, vua Lý Thần Tông bị bệnh nặng, gầm thét như hổ, lông lá mọc khắp người, các danh y tài giỏi cũng bó tay. Lúc đó, nghe tiếng thiền sư Minh Không, triều đình cho vời vào cung và ngài đã chữa khỏi bệnh cho vua. Cảm phục tài năng, nhớ ơn cứu mạng của thiền sư, vua Lý Thần Tông phong ngài là Quốc sư. Ngày 1 tháng 8 niên hiệu Đại Định thứ 2 (1141), Quốc sư ngồi hoá tại chùa Giao Thủy, thọ 76 tuổi. Thương tiếc thiền sư, dân làng lập đền thờ ngài, nên đền có tên là đền Lý Quốc Sư thuộc phường Báo Thiên.
Theo tác giả Nguyễn Uẩn trong sách Hà Nội đầu thế kỷ XX (tập 2), toà tháp cao 12 tầng có quả chuông đồng nặng 12 tấn ở cạnh chùa Sùng Khánh được vua Lý Thánh Tông cho dựng sau năm Đinh Dậu (1057) có tên gọi là Đại thắng tư thiên bảo tháp, dân gian quen gọi là tháp Báo Thiên và chùa Sùng Khánh được gọi là chùa Báo Thiên, nên phường cũng mang tên là phường Báo Thiên. Thời giặc Minh xâm chiếm Thăng Long, chùa và tháp bị phá huỷ nặng nề. Đến thời Lê Thánh Tông, đền Lý Quốc Sư vẫn thuộc phường Báo Thiên. Đến thời nhà Nguyễn, phường Báo Thiên đổi thành làng Tiên Thị nên dân gian vẫn gọi đền Lý Quốc Sư theo tên làng là đền Tiên Thị.
Cuối thế kỷ XIX, vị trí của đền Lý Quốc Sư được Nguyễn Uẩn nêu rõ như sau: Phía bắc, bên phải Nhà thờ lớn có xóm cư dân ở trên đất thôn Tiên Thị hầu hết theo đạo công giáo. Trên khu vực này có di chỉ huyện Thọ Xương và đình làng Tiên Thị. Vụ cháy lớn năm 1887 làm cháy suốt khu Nhà Chung, sang Chân Cầm, huyện Thọ Xương, đình Tiên Thị cũng bị cháy rụi. Quay lưng vào khu Thọ Xương cũ là đền Lý Quốc Sư. Ngôi đền cổ có từ thời Lý, trước kia ở cạnh tháp Báo Thiên, phải di đến chỗ mới, để nhường chỗ cho khu vực Nhà thờ Lớn mà người Pháp cho xây dựng. Địa điểm mới ấy, chính là ngôi chùa Lý Quốc Sư hiện nay - số nhà 50 phố Lý Quốc Sư. Năm Ất Mão (1855), quan huyện Thọ Xương là Phan Huy Kiêm đứng ra chủ trì việc xây dựng lại. Đốc học Hà Nội Lê Đình Duyên soạn văn bia sau khi đền được tôn tạo xong, cho đến nay, vẫn còn bia đá với bài khắc trên bia Trùng tu Tiên thị từ bi ký. Năm 1932, hoà thượng Thích Thanh Định, tự Quang Huy, đến trụ trì, tôn thêm tượng Phật, Bồ Tát trong đền, nên từ đó cho đến nay, đền Tiên Thị được gọi là chùa Lý Triều Quốc sư.
Đầu thế kỷ XX, con đường nhỏ nối phố cổ Hàng Bông với xóm Chân Cầm, làng Tiên Thị được mở thành phố và có tên là phố Lamblot. Ngôi chùa bị phá hủy trong chiến sự mùa đông năm 1946, đến tháng 6/1954 được tu tạo lại; hiện vẫn còn bia đồng do cử nhân Trần Lê Nhân soạn ghi lại việc trùng tu này.
Trải 10 thế kỷ với bao thăng trầm, hưng phế của các triều đại, chùa Lý Triều Quốc sư vẫn còn lưu giữ được một số hiện vật quý: trong hậu cung có tượng bà Tằng Thị Loan, ông Từ Vinh - thân mẫu và thân phụ của thiền sư Từ Đạo Hạnh và cả Thiền sư Giác Hải, đều được tạc bằng đá, tượng thiền sư Minh Không bằng gỗ cao 1m và Quan thế âm Bồ Tát cùng Thiện tài, Long nữ... tất cả những di vật quý hiếm này mang nét mỹ thuật của thời Hậu Lê rất tinh tế, mềm mại.
Riêng tượng thiền sư Minh Không bằng gỗ cao 1m được đặt ở chính giữa hậu cung lại thể hiện phong cách nghệ thuật giữa thế kỷ XX, khi chùa đại trùng tu năm 1954. Ba bức hoành phi ghi ba chữ Thiên, Nhân, Sư đã gói cả tài đức của Minh Không: Thiền sư là bậc Thầy trong cả vũ trụ và con người.
Khởi đầu là đền thờ nhân thần, sau đó thờ thêm Phật mà thành chùa, chùa Lý Triều Quốc sư được công nhận di tích lịch sử văn hoá năm 1995. Năm 2000 và 2010 chùa đều được tu sửa các hạng mục thêm khang trang để đón chào Thăng Long - Hà Nội 1000 năm tuổi.
Chùa Lý Triều Quốc sư cùng với đình thờ Tướng quân Phạm Ngũ Lão (cùng trên phố Lý Quốc Sư), chùa Bà Đá, đình Nam Hương, tượng vua Lê Thái Tổ làm nên quần thể di tích lịch sử văn hoá đặc sắc phía Tây hồ Hoàn Kiếm trong một không gian của những con phố nhỏ: Lý Quốc Sư - Nhà Thờ - Hàng Trống nhìn ra mặt hồ Gươm bốn mùa xanh lục. Bên kia, phía Tây Hồ Hoàn Kiếm, tượng Vua Lý Thái Tổ sừng sững uy nghi.
Ghi chú:
Theo truyền thuyết thiền sư Nguyễn Minh Không giỏi pháp thuật và còn là tổ nghề đúc đồng. Đền còn tấm bia do Lê Đình Diên soạn năm Tự Đức 1855 nhân dịp trùng tu. Những ngày đầu toàn quốc chống Pháp, đền đã bị hủy hoại, năm 1954 mới trùng tu như ngày nay. Đền có nhiều tượng nghệ thuật truyền thần với các nhân vật lịch sử, phong cách điêu khắc thời Lê như nhóm tượng gỗ phủ sơn 4 tượng công chúa thời nhà Lý, 4 quan nhà Lý với phẩm phục triều đình, mỗi người một dáng vẻ thần thái khác nhau. Đáng chú ý có 4 chân dung phù điêu đá tô màu: Từ Đạo Hạnh trong bia cao 1,3m, Đức Thánh Mẫu ngồi chống chân trên đài sen như tượng tròn dựa vào bia cao 82 cm, Đức Thánh phụ cao 93 cm đội mũ vuông, có dải trùm vai và sư Giác Hải đầu búi tó, râu ngắn cao 97 cm. Đây là những tượng đá cổ thế kỷ 16 mô tả theo hình thức tự nhiên, gần với người thực. Chùa còn có một quả chuông Bảo Tháp tự chung có niên đại Ất Hợi nhưng chưa rõ đời vua.
(En Quy Tê sưu tầm và biên soạn.
Nguồn: Internet)
29/12/2023
29/12/2023
36pho.com: Cuối Lý Quốc Sư, 1950s
20/12/2023
36pho.com: Chùa Lý Quốc Sư 1950 !
10/10/2023
Đền Phù Ủng trên phố Lý Quốc Sư (23.09.2023) - xem ảnh do người nước ngoài chụp trước đây nhiều năm thấy con hổ trắng mới được đắp lại, thay cho biển di tích.
01/07/2023
36pho.com: Ly Quoc Su, Hanoi.
20/06/2023
20/06/2023
36pho.com: ĐỀN PHÙ ỦNG
Đền Phù Ủng ở 25 phố Lý Quốc Sư, phường Hàng trống, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Đây là ngôi đền khá cổ kính, tam quan ngay sát vỉa hè, được xây theo kiểu chồng diêm 2 tầng 8 mái, mặt trước có đắp nổi 4 chữ Hán lớn: “Phù Ủng vọng từ”. Kiến trúc chính của đền gồm: Bái đường 3 gian xây theo kiểu “vọng lâu”, có đắp hổ phù ở chính giữa, hai bên có rồng chầu; tiếp đó là Hậu cung có phần ngoài là “công đồng”, phần trong là “Cung cấm”. Đền Phù Ủng có quy mô không lớn, nhưng không gian thờ cúng vẫn rất linh nghiêm do cách bài từ và do các nhân vật được thờ trong đền là những danh tướng nổi tiếng trong lịch sử nước nhà, được tôn là bậc Thánh. Đó là đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo) và Phạm Ngũ Lão, cùng các gia tướng Yết Kiêu, Dã Tượng. Đền Phù Ủng là nơi thờ vọng Điện súy Thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão, vốn quê làng Phù Ủng, huyện Đường Hào (nay là huyện Ân Thi), tỉnh Hưng Yên. Do có nhiều công lao phò Vua giúp nước, chống giặc Nguyên Mông, dẹp loạn Ai Lao nên khi mất ông được phong làm Phúc thần. Dân làng Phù Ủng lập đền thờ Ông ngay trên nền đất cũ ở phia tây làng. Vào khoảng thời Lê, thế kỷ 18, dân làng Phù Ủng lên Thăng Long lập nghiệp và đã dựng đền thờ vị anh hùng của quê hương coi Ông như “Thành hoàng làng” ở nơi quê mới. Tuy tên đền là vậy, nhưng ở Hậu cung đền hiện nay tượng Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo) được đặt thờ ở vị trí cao và trang trọng nhất, kế đó mới là tượng thờ Phạm Ngũ Lão cùng hai con gái Trần Hưng Đạo, cuối cùng là hai phó tướng Yết Kiêu và Dã Tượng. Nhờ duyên trời định, Phạm Ngũ Lão được Trần Hưng Đạo mời về Vạn Kiếp dạy bảo, trao cho trọng trách huấn luyện quân sỹ, rồi được Hưng Đạo vương yêu mến gả con gái là Anh Nguyên Quận chúa, tiến cử với vua cho làm quẩn quân Cấm vệ, có nhiệm vụ bảo vệ Vua và Cấm thành. Trong hai cuộc kháng chiến chông quân Nguyên Mông (lần thứ 2 và 3), Phạm Ngũ Lão đã lập được nhiều chiến công ở Tây Kết - Vạn Kiếp, Bạch Đằng và được phong chức Kim nghiêu Đại tướng quân, sau này tới chức Điện Súy Thượng tướng quân.(st)
Ảnh: Nguyễn Văn Bình
(20:35’ chủ nhật 18/6/23).