07/06/2026
KHÔNG THỂ NHÂN DANH SÁNG TẠO ĐỂ TÁI ĐỊNH NGHĨA LỊCH SỬ VÀ XÓI MÒN NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG
Lịch sử dân tộc không phải là một tập hợp những câu chuyện có thể tùy ý cắt ghép, chế biến hay diễn giải theo sở thích cá nhân. Đó là ký ức chung của một dân tộc, là nền tảng hình thành bản sắc quốc gia, là nơi kết tinh những hy sinh, mất mát và khát vọng của nhiều thế hệ người Việt Nam đã đổ máu vì độc lập, tự do.
Những ngày gần đây, cuốn sách “Chuyện với Thanh – Lời kể mới về ánh sáng” của Nguyễn Thành Nam do Nhà xuất bản Hội nhà văn phát hành đã khơi dậy những tranh luận sâu sắc trên không gian mạng. Bên cạnh vài tiếng nói ca ngợi lối kể chuyện “cá nhân hóa”, phần lớn dư luận bày tỏ sự bức xúc trước cách cuốn sách sử dụng hàng loạt ngôn từ được cho là giễu nhại, tầm thường hóa hành trình tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những cụm từ như “đi phượt”, “lang thang”, “chu du thiên hạ”, “job để đi đây đi đó” không khỏi khiến người ta phẫn nộ đặt câu hỏi liệu đây có phải là sự sáng tạo vô hại hay thực chất là một hành vi làm xói mòn nhận thức chính trị có chủ đích?
Điều 117 Bộ luật Hình sự quy định về Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia. Khách thể được pháp luật bảo vệ không phải là cá nhân mà là chế độ chính trị, nền tảng tư tưởng của Đảng, sự ổn định và an ninh quốc gia. Trong khoa học pháp lý hình sự Việt Nam và thực tiễn đấu tranh tư tưởng hiện nay, các cơ quan chức năng đã nhiều lần khẳng định rằng hành vi chống Nhà nước không nhất thiết phải gắn với bạo lực hay lật đổ công khai. Những phương thức tinh vi hơn – xuyên tạc lịch sử Đảng, hạ thấp vai trò lãnh tụ, giải thiêng các giá trị cách mạng, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ – khi tiệm cận ranh giới đỏ của pháp luật, đều cần được xem xét nghiêm túc về mục đích và hậu quả thực tế.
Điều 331 Bộ luật Hình sự bổ sung một lớp bảo vệ quan trọng: Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Điều luật này không đòi hỏi phải chứng minh trực tiếp “mục đích chống Nhà nước”, mà tập trung vào việc xử lý các hành vi lạm dụng quyền tự do ngôn luận, tự do sáng tác vượt quá giới hạn pháp luật cho phép, gây thiệt hại thực tế cho lợi ích quốc gia và nhân dân.
Không chỉ dừng lại ở chế tài hình sự, hành lang pháp lý hiện nay còn có Luật An ninh mạng năm 2018 với các quy định nghiêm cấm thông tin có nội dung xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; cho đến Luật Báo chí, Luật Xuất bản quy định rõ trách nhiệm kiểm duyệt, cấm phổ biến các tác phẩm làm tổn hại đến lợi ích quốc gia. Ở cấp độ chế tài hành chính, Nghị định số 15/2020/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 14/2022/NĐ-CP) cũng thiết lập các khung xử phạt nghiêm khắc đối với hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân trên môi trường mạng.
Như vậy, chúng ta hoàn toàn không thiếu công cụ, không thiếu chế tài. Vấn đề cốt lõi nằm ở năng lực nhận diện và bóc tách bản chất của các hiện tượng truyền thông. Khi các hành vi không còn biểu hiện thô lậu, trực diện mà chuyển sang trạng thái ngụy trang tinh vi dưới danh nghĩa “giai thoại”, “tự sự” hay “góc nhìn mới”, việc bóc trần bản chất tư tưởng phía sau những trang viết trở thành đòi hỏi sống còn. Nếu không nhìn nhận đúng bản chất, chúng ta sẽ dễ dàng bỏ lọt những hành vi “ném đá dò đường”, tạo tiền lệ mở đường cho các chiến dịch phá hoại tư tưởng tinh vi hơn trong tương lai.
Từ góc độ khoa học chính trị và lịch sử, cuốn sách đã sử dụng những cách diễn đạt như “đi phượt”, “lang thang”, “chu du thiên hạ”, “job để đi đây đi đó” để mô tả hành trình bôn ba tìm đường cứu nước của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành. Dù nhân danh bất kỳ lý do gì, việc đặt hành trình thiêng liêng ấy vào hệ ngôn ngữ giải trí của thời đại số thực chất đã tạo ra kết quả rất gần với các kỹ thuật điển hình của tâm lý chiến hiện đại để “giải thiêng”, hạ bệ các nhân vật lịch sử mà phương Tây từng áp dụng với các biểu tượng cách mạng, biến nó thành công cụ “lật sử” thâm độc trong các cuộc "cách mạng màu".
Thủ đoạn ấy diễn ra theo logic rõ ràng và nguy hiểm như sau:
Bước đầu tiên là trung tính hóa và hạ thấp giá trị cốt lõi: biến hành trình cứu nước đầy hy sinh, gian khổ, mang tầm vóc dân tộc và thời đại – xuất phát từ nỗi đau mất nước, khát vọng giải phóng dân tộc, từ sự trăn trở của các bậc tiền bối – thành một chuyến phiêu lưu cá nhân ngẫu hứng, gần như là suy nghĩ “kiếm job để đi đây đi đó” của một thanh niên hiện đại. Ngôn ngữ không chỉ phản ánh hiện thực, ngôn ngữ định hình nhận thức. Khi bản chất chính trị sâu sắc của sự kiện bị tước bỏ, thiên sử ký vĩ đại ấy không còn giữ trọn ý nghĩa nguyên bản, và lý tưởng giải phóng dân tộc bị hạ cấp thành sở thích khám phá thế giới của một người trẻ tuổi.
Bước tiếp theo là đảo chiều biểu tượng: khi lãnh tụ vĩ đại bị hạ cấp thành nhân vật hài hước, khi Đảng và cách mạng bị mô tả như sản phẩm của ngẫu nhiên lịch sử thay vì tất yếu khách quan của quy luật phát triển xã hội, thì niềm tin của thế hệ trẻ vào giá trị cách mạng bị bào mòn nghiêm trọng, tính chính danh của Đảng – người lãnh đạo Nhà nước và xã hội – bị lung lay, và nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh bị phủ nhận một cách tinh vi.
Không phải ngẫu nhiên mà trong rất nhiều trường hợp, đối tượng bị nhắm đến của các chiến dịch “giải thiêng”, hạ bệ luôn là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong cấu trúc lịch sử - chính trị của Việt Nam hiện đại, Người không chỉ là một vĩ nhân kiệt xuất, mà còn là biểu tượng kết tinh giữa chủ nghĩa yêu nước truyền thống với lý tưởng cách mạng và chủ nghĩa xã hội, là cầu nối giữa lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc với sự ra đời của Việt Nam hiện đại.
Bởi vậy, hạ thấp lãnh tụ xét đến cùng không chỉ nhằm vào một con người đã đi vào lịch sử. Điều bị tác động sâu xa hơn là cách xã hội nhìn nhận về nguồn gốc của nền độc lập dân tộc, về tính chính danh của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong tiến trình lịch sử Việt Nam.
Đó cũng là lý do trong công cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, việc hạ thấp lãnh tụ, phủ nhận thành quả cách mạng và làm suy giảm niềm tin xã hội vào các giá trị nền tảng luôn được xem là những phương thức, thủ đoạn mà các thế lực thù địch, phản động triệt để khai thác. Vì thế, những biểu hiện như vậy khó có thể xem là ngẫu nhiên, ngược lại, nó mang nhiều nét tương đồng với những phương thức thường được nhắc đến trong chiến lược “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà Đảng ta đã nhiều lần cảnh báo. Lịch sử thế giới thế kỷ XX đã chứng minh một bài học xương máu: Các thể chế chính trị sụp đổ không chỉ vì suy thoái kinh tế, mà trước hết vì nền tảng tư tưởng bị đục khoét từ bên trong bởi những khuynh hướng xét lại lịch sử núp bóng văn nghệ và học thuật.
Đáng lo là, những biểu hiện như vậy không xuất hiện đơn lẻ. Trong nhiều năm qua, không gian mạng chứng kiến hàng loạt phương thức, thủ đoạn, hành vi làm mờ ranh giới giữa phản biện lịch sử với bóp méo lịch sử, giữa sáng tạo nghệ thuật với việc làm biến dạng các giá trị nền tảng. Nhân danh “đổi mới cách tiếp cận”, nhân danh “giải thiêng”, nhân danh “quyền tự do sáng tác”, một số kẻ đưa lịch sử ra khỏi bối cảnh cụ thể, tách các sự kiện khỏi điều kiện lịch sử cụ thể, rồi đánh giá chúng bằng tiêu chuẩn cảm tính của hiện tại. Kết quả là những gì từng được hun đúc bằng máu, nước mắt và sự hy sinh của cả một dân tộc dần bị biến thành những câu chuyện mua vui, những mẩu hài hước rẻ tiền trên mạng xã hội.
Và cuốn sách đang gây phẫn nộ kia, dù vô tình hay có chủ đích lại xuất hiện trong bối cảnh như vậy!!!!
Tự do sáng tác là quyền được Hiến pháp bảo đảm. Tự do nghiên cứu là điều kiện cần thiết cho sự phát triển của xã hội. Nhưng không có quyền tự do nào đồng nghĩa với quyền làm biến dạng lịch sử, không có sáng tạo nào có thể đứng cao hơn sự thật. Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một nhân vật lịch sử. Người là biểu tượng của hành trình giải phóng dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX, là điểm giao thoa giữa lịch sử cách mạng, khát vọng độc lập dân tộc và sự ra đời của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện đại. Khi chặng đường bôn ba tìm đường cứu nước của Người bị tầm thường hóa, điều bị tác động không chỉ là hình ảnh của một cá nhân đã đi vào lịch sử, mà sâu xa hơn là cách xã hội nhìn nhận về nguồn gốc của nền độc lập, về nền tảng tư tưởng, về vai trò lãnh đạo của Đảng và về những giá trị đã làm nên đất nước hôm nay.
Những thủ đoạn kiểu này luôn được ẩn nấp dưới nhiều “vỏ bọc” tinh vi khác nhau để lách qua những kẽ hở pháp lý, có thể chưa đủ yếu tố để pháp luật hình sự trực tiếp can thiệp ngay lập tức, nhưng không vì thế mà chúng được phép lọt lưới trách nhiệm xã hội. Phía sau một tác phẩm lệch lạc không chỉ có trách nhiệm cá nhân của tác giả, mà còn có vai trò gác cổng của hệ thống kiểm duyệt, cơ quan quản lý văn hóa, cùng đội ngũ biên tập và nhà xuất bản.
Việc buông lỏng hoặc thiếu trách nhiệm để những nội dung như vậy lan truyền không khỏi làm dấy lên mối lo ngại sâu sắc, vô hình trung tạo điều kiện cho những tác động tiêu cực về nhận thức lịch sử và tư tưởng lan rộng trong xã hội. Dư luận xã hội và đạo đức cách mạng có quyền đặt ra những câu hỏi nghiêm khắc không chỉ với người viết mà cả với những người gác cổng trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Các cơ quan chức năng có trách nhiệm xem xét khách quan, toàn diện, trên cơ sở chứng cứ và lập trường kiên định của Đảng, Nhà nước về bảo vệ nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh – kim chỉ nam cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Mỗi văn nghệ sĩ, trí thức và công dân đều phải nâng cao cảnh giác, kiên quyết vạch mặt, phản bác những thủ đoạn tinh vi nhằm tái định nghĩa lòng yêu nước, tách rời tình cảm dân tộc khỏi niềm tin vào Đảng.
Bảo vệ sự thật lịch sử không phải là bảo vệ quá khứ. Đó là bảo vệ nền tảng tinh thần của hiện tại và tương lai dân tộc. Trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng không khoan nhượng này, không thể nhân danh sáng tạo để tái định nghĩa lịch sử, không thể nhân danh tự do để làm biến dạng những giá trị đã được hun đúc bằng máu, nước mắt và sự hy sinh của biết bao thế hệ người Việt Nam. Bảo vệ sự thật lịch sử không phải để thần thánh hóa quá khứ, mà để ngăn lịch sử bị bóp méo đến mức đánh mất bản chất của nó.
Bởi xét đến cùng, một dân tộc có thể tha thứ cho những sai lầm trong quá khứ, nhưng không thể tồn tại nếu đánh mất ký ức lịch sử và những giá trị đã làm nên chính mình. Giữ gìn sự thật lịch sử, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, của dân tộc hôm nay chính là bảo vệ tương lai của đất nước ngày mai./.
Tác giả: Phạm Thủy
Trường Đại học An Ninh
PN.Theo: PTC

07/06/2026
07/06/2026
07/06/2026