21/02/2020
Văn chương TRẦN BẢO ĐỊNH dưới góc nhìn Xuyên văn bản
; ; .
Trước hết, khi viết, ông không tự buộc mình vào đặc thù của một thể loại nào. Hơn nữa, tri kiến mà ông mang lại trong văn bản là sự cộng hưởng của “một tập thể hàn lâm-dân gian”. Cho nên, trong tự thân văn bản đã là sự đa dạng các góc nhìn/quan niệm – hay sự phong phú tri kiến. Đây là dự phóng “căng đầy” chực chờ người đọc tiếp chạm. Để từ đó, ý hướng gây dựng tác phẩm mà Trần Bảo Định phóng tỏa sẽ tiếp tục “va chạm/cộng hưởng” với tri kiến của các nhà nghiên cứu lão thành hay các lão nông Đồng Tháp Mười, các “tay chơi chim” thiện nghệ; sau nữa, các chất điểm tri kiến đó lại kích hoạt trí tưởng tượng của người đọc. Có lẽ vậy nên người đọc cũng cần có “nội công” nhất định để có thể cảm nghiệm/trải nghiệm các “tuyệt chiêu” của “Vô danh thần tăng”. Các tác phẩm hay “Tàng kinh” của Trần Bảo Định, do đó, có thể trở thành siêu ý thể/liên ý thể/giải ý thể trong suốt quá trình vận động của nó từ khi thoát thai đến lúc nó vận động trong lòng cộng đồng diễn giải. Điều này khiến chúng ta cần nhìn lại văn chương Trần Bảo Định, một lần nữa, dưới góc nhìn xuyên văn bản.
Gérard Genette đề xuất khái niệm tính xuyên văn bản (transtextuality). Theo ông, xuyên văn bản có năm kiểu loại: liên văn bản (intertextuality), cận văn bản (paratextuality), siêu văn bản (metatextuality), kiến trúc văn bản (architextuality) , ngoa dụ văn bản (hypertextuality) .
- Xuyên văn bản (Transtextuality): “Genette says that “all that sets the text in a relationship, whether obvious or concealed, with other texts” which it “covers all aspects of a particular text” (1992, pp 83-84)” . Tính xuyên văn bản này, có lẽ, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự cộng hưởng tri kiến trong văn chương Trần Bảo Định. Câu chuyện về các loài vật (Đời cá hô, Lia thia trống, Thát lát kỳ hôn, Chim vịt kêu chiều, ...) cũng như chuyện cây cối, côn trùng (Chôm chôm mùa nhớ, Chuối trổ buồng, Xoài mút quê tôi, Bòn bon ngọt tình quê, Mãng cầu xiêm Ngã Năm, Mắt khóm trong lòng khóm, ...hay Chuồn chuồn điểm nước, Đời Bọ hung, Nhện chúa ở hậu liêu chùa Nổi, ...), chuyện đất chuyện người (Hôn lễ “Gái đưa” làng Bình Cách, Thủ Thừa trong lòng người, Lễ giỗ người anh hùng đất Ba Châu), chuyện phong tục tập quán (Cúng việc lề, Đưa Bà Táo, Cúng Thần Nông vùng đất Hưng Điền xưa, Tết Trâu làng Long Trì,... ), ... chính là cả quá trình “tu luyện nội công” của Ông già Nam bộ nhiều chuyện ở thư viện của Viện Đại học Đà Lạt, gồm cả quá trình trực tiếp trải nghiệm sinh hoạt với người lao động bình dân ở các miền quê phương Nam. Hơn nữa, mỗi câu chuyện mà nhà văn mang đến còn là kết quả của quá trình “đọc-góp ý” của nhiều người (từ người bình dân đến giới hàn lâm). Điều này không có nghĩa là các tri kiến (text) từ các nguồn tri nhận khác nhau được nhà văn lắp ghép và đặt cạnh nhau. Kỳ thực, các text hòa quyện nhờ quá trình tương tác giữa các nguồn tin trước khi văn bản thành hình. Mỗi khía cạnh tri kiến được tác giả lập thành trong văn bản có thể được ví như mỗi rễ cây cắm chặt vào đất đai ngọt lành quê nhà. Đằm mình trong dòng nước phù sa chuyên chở bao đời, từng con chữ gầy dựng cả miền châu thổ trù phú mà tình nghĩa cũng như ý ăn nết ở của con người kết tinh trong trái ngọt cây lành. Theo đó, văn chương Trần Bảo Định cho thấy cuộc sống của con người phương Nam hiện lên trong dáng vẻ chân phương tròn đầy của nó.
- Trong tính xuyên bản bản, Gérard Genette đề cập đến liên văn bản (Intertextuality): “Intertextuality includes quotation, plagiarism, and allusion. Genette divides intertextuality into three large categories: implicit or explicit; covert or overt; hidden or open” . Tính liên văn bản, dễ thấy, chính là các trích dẫn và ám chỉ trong từng con chữ. Chính vì chỗ trích dẫn nên các thông tin mà Trần Bảo Định mang lại có tính đáng tin cậy như một công trình khảo cứu. Ở khía cạnh này, nhà văn tỏ ra là một nhà biên khảo kỹ lưỡng với vốn tài liệu tham khảo phong phú. Ngoài ra, lối viết “nửa đùa nửa thật” chất chứa một tình ý sâu xa. Tưởng là Ông già nói chơi, “cà rởn”, mà ngó lại nhân quầng xã hội thì không phải là không có vậy. Sự ám chỉ ở đây được làm cho nhẹ nhàng, mềm mại thông qua tiếng cười. Cái cười hay cái tánh “cà khịa” của dân quê Nam bộ; dẫu thế nào thì cũng không thể thờ ơ với tiếng cười này được.
(Trích "Bước đầu khám phá văn chương Trần Bảo Định" - VQV).
P/S: đọc dò lại và chú thích hình như còn mệt hơn viết nè !!!!