Sách Giao Điểm - TMT

Sách Giao Điểm - TMT

Share

Nơi chia sẻ tinh hoa tri thức

Photos from Sách Giao Điểm - TMT's post 12/08/2021

[ - HẠT PHÙ SA SÔNG NƯỚC CỬU LONG - ]

Để phục dựng chân trời minh triết phương Nam, nhà văn đã nghiệm trải bằng chính cuộc đời trong bầu sữa quê hương. Thấm nhuần cái nắng gió mưa giông của xứ sở và bằng cách dấn thân vào huyền sử, dã sử của đất và người, nhà văn đi vào căn cơ thể tính phương Nam. Cơn mưa bình nguyên gột rửa và làm cho minh triết phương Nam thêm xán lạn sau bao nhiêu bụi mờ trầm tích của thời gian và thời cuộc.

Nền minh triết ấy, khởi đi từ thể tính của nước trong mô hình Thiên – Nhân – Địa, ứng với thiên đạo lập thành nhân đạo. Từ ngũ hành, thành ra ngũ đức và từ đó, nhân bản phương Nam sáng trong bởi nhân nghĩa và tình thương bao dung đứng về phía con người nói chung. Thế cuộc dù đổi thay thì sau rốt, cũng chỉ còn lại tình đất và tình người thấm đẫm.

VÕ QUỐC VIỆT

Photos from Sách Giao Điểm - TMT's post 21/02/2020

Văn chương TRẦN BẢO ĐỊNH dưới góc nhìn Xuyên văn bản

; ; .

Trước hết, khi viết, ông không tự buộc mình vào đặc thù của một thể loại nào. Hơn nữa, tri kiến mà ông mang lại trong văn bản là sự cộng hưởng của “một tập thể hàn lâm-dân gian”. Cho nên, trong tự thân văn bản đã là sự đa dạng các góc nhìn/quan niệm – hay sự phong phú tri kiến. Đây là dự phóng “căng đầy” chực chờ người đọc tiếp chạm. Để từ đó, ý hướng gây dựng tác phẩm mà Trần Bảo Định phóng tỏa sẽ tiếp tục “va chạm/cộng hưởng” với tri kiến của các nhà nghiên cứu lão thành hay các lão nông Đồng Tháp Mười, các “tay chơi chim” thiện nghệ; sau nữa, các chất điểm tri kiến đó lại kích hoạt trí tưởng tượng của người đọc. Có lẽ vậy nên người đọc cũng cần có “nội công” nhất định để có thể cảm nghiệm/trải nghiệm các “tuyệt chiêu” của “Vô danh thần tăng”. Các tác phẩm hay “Tàng kinh” của Trần Bảo Định, do đó, có thể trở thành siêu ý thể/liên ý thể/giải ý thể trong suốt quá trình vận động của nó từ khi thoát thai đến lúc nó vận động trong lòng cộng đồng diễn giải. Điều này khiến chúng ta cần nhìn lại văn chương Trần Bảo Định, một lần nữa, dưới góc nhìn xuyên văn bản.

Gérard Genette đề xuất khái niệm tính xuyên văn bản (transtextuality). Theo ông, xuyên văn bản có năm kiểu loại: liên văn bản (intertextuality), cận văn bản (paratextuality), siêu văn bản (metatextuality), kiến trúc văn bản (architextuality) , ngoa dụ văn bản (hypertextuality) .

- Xuyên văn bản (Transtextuality): “Genette says that “all that sets the text in a relationship, whether obvious or concealed, with other texts” which it “covers all aspects of a particular text” (1992, pp 83-84)” . Tính xuyên văn bản này, có lẽ, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự cộng hưởng tri kiến trong văn chương Trần Bảo Định. Câu chuyện về các loài vật (Đời cá hô, Lia thia trống, Thát lát kỳ hôn, Chim vịt kêu chiều, ...) cũng như chuyện cây cối, côn trùng (Chôm chôm mùa nhớ, Chuối trổ buồng, Xoài mút quê tôi, Bòn bon ngọt tình quê, Mãng cầu xiêm Ngã Năm, Mắt khóm trong lòng khóm, ...hay Chuồn chuồn điểm nước, Đời Bọ hung, Nhện chúa ở hậu liêu chùa Nổi, ...), chuyện đất chuyện người (Hôn lễ “Gái đưa” làng Bình Cách, Thủ Thừa trong lòng người, Lễ giỗ người anh hùng đất Ba Châu), chuyện phong tục tập quán (Cúng việc lề, Đưa Bà Táo, Cúng Thần Nông vùng đất Hưng Điền xưa, Tết Trâu làng Long Trì,... ), ... chính là cả quá trình “tu luyện nội công” của Ông già Nam bộ nhiều chuyện ở thư viện của Viện Đại học Đà Lạt, gồm cả quá trình trực tiếp trải nghiệm sinh hoạt với người lao động bình dân ở các miền quê phương Nam. Hơn nữa, mỗi câu chuyện mà nhà văn mang đến còn là kết quả của quá trình “đọc-góp ý” của nhiều người (từ người bình dân đến giới hàn lâm). Điều này không có nghĩa là các tri kiến (text) từ các nguồn tri nhận khác nhau được nhà văn lắp ghép và đặt cạnh nhau. Kỳ thực, các text hòa quyện nhờ quá trình tương tác giữa các nguồn tin trước khi văn bản thành hình. Mỗi khía cạnh tri kiến được tác giả lập thành trong văn bản có thể được ví như mỗi rễ cây cắm chặt vào đất đai ngọt lành quê nhà. Đằm mình trong dòng nước phù sa chuyên chở bao đời, từng con chữ gầy dựng cả miền châu thổ trù phú mà tình nghĩa cũng như ý ăn nết ở của con người kết tinh trong trái ngọt cây lành. Theo đó, văn chương Trần Bảo Định cho thấy cuộc sống của con người phương Nam hiện lên trong dáng vẻ chân phương tròn đầy của nó.

- Trong tính xuyên bản bản, Gérard Genette đề cập đến liên văn bản (Intertextuality): “Intertextuality includes quotation, plagiarism, and allusion. Genette divides intertextuality into three large categories: implicit or explicit; covert or overt; hidden or open” . Tính liên văn bản, dễ thấy, chính là các trích dẫn và ám chỉ trong từng con chữ. Chính vì chỗ trích dẫn nên các thông tin mà Trần Bảo Định mang lại có tính đáng tin cậy như một công trình khảo cứu. Ở khía cạnh này, nhà văn tỏ ra là một nhà biên khảo kỹ lưỡng với vốn tài liệu tham khảo phong phú. Ngoài ra, lối viết “nửa đùa nửa thật” chất chứa một tình ý sâu xa. Tưởng là Ông già nói chơi, “cà rởn”, mà ngó lại nhân quầng xã hội thì không phải là không có vậy. Sự ám chỉ ở đây được làm cho nhẹ nhàng, mềm mại thông qua tiếng cười. Cái cười hay cái tánh “cà khịa” của dân quê Nam bộ; dẫu thế nào thì cũng không thể thờ ơ với tiếng cười này được.

(Trích "Bước đầu khám phá văn chương Trần Bảo Định" - VQV).
P/S: đọc dò lại và chú thích hình như còn mệt hơn viết nè !!!!

Photos from Sách Giao Điểm - TMT's post 20/02/2020

KINH NGHIỆM THẾ GIỚI – sự truy vấn về bản chất tồn hữu của thế giới. (Đôi điều suy nghĩ trước Mù Khơi của Thanh Tâm Tuyền).
; ;

“Theo nghĩa ấy, hiện tượng học là một môn học mô tả, chứ không phải lập luận”(Ý niệm hiện tượng học , tr. 65-66). Và truy tìm kinh nghiệm thế giới tức là chúng ta cần phải mô tả cuộc gặp gỡ giữa nhận thức và những gì chưa phải/thuộc về nhận thức. Kinh nghiệm thế giới đơn thuần là những hiện tượng cho thấy sự chuyển động của nhận thức trong cuộc va chạm với cái đã tạo ra nhận thức. Trong phạm vi tác phẩm văn xuôi, việc mô tả cái kinh nghiệm thế giới mà chúng ta nhận thấy qua một loạt các hiện tượng được bày ra qua con chữ là cách mà chúng ta có thể đi đến một sự quy giản về nhân vật, về cốt truyện, về ngôn từ, về tình tiết về hình tượng, v..v… về tất cả, để chỉ còn lại cuối cùng cái ý hướng nền tảng làm khuấy động cả chân trời nhận thức của kẻ đã thoát thai ra chính cái nhận thức đó.

Vì thế, chung quy, chúng ta đang đi ngược. Từ cái ý hướng ra đi, ý thức có tính ý hướng. Ý thức được mang lại, ý thức là sự xáo động khi một chất điểm tồn hữu linh động trong thế giới. Với cái ý hướng đó, khi ý hướng chộp lấy được thế giới thông qua cái trực quan thu nhận được. Thông qua các hiện tượng, ý hướng của ý thức trở nên hoàn bị và trở thành “ý thể” (sự ý thức về thể tính hay siệu việt tính của nhận thức phổ quát).
Từ đó, “ý thể” sẽ trở thành “siêu ý thể” khi chính bản thân nó vượt lên trên chính nó xuôi về một nhận thức thuần túy bản chất của tồn hữu bản chất trong tất cả. Còn chúng ta, khi đọc một văn bản văn học, cụ thể là một tác phẩm văn xuôi, chúng ta truy ngược từ muôn vàn “hiện tượng” bày ra trong tác phẩm, từ đó quy lược cái kinh nghiệm thế giới đó trở về uyên nguyên của ý hướng ở cái nhận thức ban đầu lúc cái ý thức đó chỉ đơn thuần là “một sự ngạc nhiên” về thế giới. Đây chính là cái ta đang tìm, cái mà chúng ta cần truy vấn và đào sâu. Muốn đạt được mục tiêu, chúng ta phải bắt tay từ chỗ nắm bắt muôn vàn kinh nghiệm về thế giới. Nắm bắt để làm gì, để cắt bỏ, để xua đi đám mây mù sương khói hỗn loạn, xáo động ngõ hầu tìm thấy cõi thinh lặng gốc rễ của nhận thức. Mà từ đó, nhận thức thoát thai.

Tại sao chúng tôi lại đến với vấn đề này khi tiếp nhận tiểu thuyết Mù khơi của Thanh Tâm Tuyền ? Hay nói khác đi, chúng tôi thử đặt ra giả định về việc kinh nghiệm cái kinh nghiệm thế giới mà Thanh Tâm Tuyền đã “lập thức” qua Mù Khơi. Nghĩa là nối dài kinh nghiệm thế giới đó bằng hoạt động tiếp nhận. Lúc đó, ý thể trở thành siêu ý thể để siêu ý thể trở thành cái gì nữa ? Đặt ra câu hỏi này là tạo sự kết nối của chính ý thức “tôi”. Việc “tôi” nhận thức và trải nghiệm cái kinh nghiệm về nhận thức hay nói khác đi là cuộc va chạm nhận thức giữa “tôi” và tác phẩm của Thanh Tâm Tuyền là cái kinh nghiệm thế giới của “tôi” mà chúng ta vẫn quen gọi là phê bình hay việc tiếp nhận một văn bản. Vậy công việc này là như thế nào ? Thực chất công việc phê bình hay đọc một văn bản văn học là như thế nào ?

Khởi đi từ việc nhận thức của người viết (kinh nghiệm thế giới của người viết), khi người viết hoài thai một ý tưởng, chính cái ý tưởng đó nhảy xộc ra ngoài và chiếm lĩnh thế giới. Thế giới hiện ra cho người viết. Thế giới của văn bản được định hình trong nhận thức của người viết. Kẻ ấy làm thế giới xuất hiện và ngược lại thế giới mang lại nhận thức cho hắn. Khi đó khả thể của nhận thức hay ý hướng tiền giả định của người viết được đưa vào tiến trình thực lưu tồn hoạt. Khi đó ý hướng nội tại thuần túy trở thành ý thể (hay có thể gọi là văn bản). Chính ở khâu này, “tôi” bắt được kinh nghiệm thế giới Thanh Tâm Tuyền, tôi giao hòa với thế giới đã xuất hiện vì/và cho Thanh Tâm Tuyền. Sau đó, “tôi” biến cái kinh nghiệm đó, biến cái thế giới của người viết trở thành cái thế giới bội sinh cho chính “tôi”. Khi đó, ý thể đã được Thanh Tâm Tuyền ươm mầm nảy nở trong lòng “tôi”, nghĩa là tạo ra cái kinh nghiệm của riêng “tôi”, gây nên một xáo trộn về mặt tinh thần – nhận thức. Đó là cuộc gặp gỡ giữa “tôi” và văn bản Thanh Tâm Tuyền. Đó là kinh nghiệm thế giới của tôi khi va chạm với kinh nghiệm về thế giới của kẻ viết.

(Trích KINH NGHIỆM THẾ GIỚI – CON NGƯỜI BỊ KẾT ÁN CÔ ĐỘC VÀ CUỘC ĐỜI TAN RÃ TRONG TIỂU THUYẾT MÙ KHƠI CỦA THANH TÂM TUYỀN của VQV).

Photos from Sách Giao Điểm - TMT's post 13/02/2020

THƠ TỰ DO THÍCH NHẤT HẠNH TRONG “THỬ TÌM DẤU CHÂN TRÊN CÁT”
---
Tinh thần tự do hay sự tỉnh thức.
- Sự tỉnh thức trong Thiền học và trong thơ.
- Bởi khởi đi từ trực giác tâm linh đến thơ cũng là sự tỉnh thức: “Trong lời tựa “Hoàng Công thi tập”, Ngô Thì Nhậm đã nêu lên một khía cạnh nhận thức, lĩnh hội thơ văn bằng trực giác, trực cảm tâm linh. Ông đã xem đây là một đặc trưng của nhận thức luận phương Đông thường thấy trong thơ văn: “Việc binh, việc hình, việc lễ, việc nhạc, thánh nhân đã có phép tắc cả…Đến như phép luật làm thơ lại là một điều huyền bí, thánh nhân không truyền lại, ta chỉ có thể hiểu bằng thần, không thể tìm bằng trí được”. Cái điều huyền bí, chỉ có thể hiểu bằng thần, không thể tìm bằng trí như Ngô Thì Nhậm đã nói, phải chăng đó chính là sự sáng tác và cảm thụ văn chương bằng trực cảm tâm linh” . “ Trực cảm tâm linh là sự nhận thức trực tiếp bằng tâm linh, có tính chất cảm tính, trực giác, không qua tư duy tư biện, suy luận, suy lý của lý trí, của trí tuệ” .
- Quá khứ và tương lai là hai lá cờ ảo tưởng mà chỉ bằng biết rằng thân tồn hữu,biết rằng nguyên sơ của mình là vĩnh hằng, biết rằng và nhận ra nhau thực hữu trong giây phút hiện tại, an trú, điều ngự tâm mình trong giây phút hiện tại để đạp đổ hai ảo tưởng (quá khứ và tương lai) (Một mũi tên rơi hai con le le).
- Tỉnh thức hay chuyến du hành về nguyên thỉ tồn hữu, sự thể hiện thực tồn bằng hình ảnh thơ chân thực (Người hành khất năm xưa còn ngồi đó). Bài thơ này là sự tỉnh thức về luân chuyển hằng hà sa số kiếp. Đặt ra vấn đề có và không có, được và mất, tồn tại và không tồn tại, vĩnh hằng và tạm bợ thoáng qua.
- Sự tỉnh thức thể hiện ở cái nhìn về thế giới xung quanh, cái nhìn như thuở ban sơ, cái nhìn lần đầu tiên chạm đến thế giới và khai mở ra thế giới, khai sinh ra “thức”. (“Chân dung”)
- Sự tỉnh thức còn thể hiện ở sự kết nối linh thiêng nhiệm màu giữa cá thể và toàn thể, giữa hữu hạn và vô hạn, giữa bản thể và hiện thể, giữa bản nguyên bất biến và tại thể bội phân muôn vàn. ( “Chân dung”)
- Sự tỉnh thức thể hiện ở sự phát hiện ra những điều thường tình bình dị của đời sống và yêu những gì phát hiện được ấy. Phát hiện ra sự kì diệu của đời sống ở chính những nhỏ nhặt, bé mọn thậm chí tủn mủn. (Chân dung)
- Mẹ, anh chị, em út, bạn bè, - quê hương - hòa bình - chân như -- tình yêu thương tuyệt đối mang chúng ta  trở về căn cội – uyên nguyên của hồn người, trong một có tất cả, trong mỗi có muôn vàn, trong anh có em rồi, trong ta có người rồi, có mình đây những cũng đã có mình tự ngàn xưa, có mình đến ngàn sau; người có thấy rằng ánh trăng ngày xưa ngó nhìn họ Lý của là ánh trăng bây giờ ta nhìn (chân dung)
- Sự truy nguyên về bản thể của chính mình để từ đó định vị mình là ai, xác định cái gì là mình để cuối cùng thấy rằng không có mình mà toàn thẩy không cái gì là không có mình. Cái nhìn chân nguyên nhân tính có thể hàn gắn những vết thương những rạn nứt những đau thương của nhân loại. Sự tỉnh thức khởi đi từ việc nhìn thấy chính mình ở những cái không phải mình để nhận ra không có mình mà lại có mình tất cả (Hãy gọi đúng tên tôi). Sự tỉnh thức ở đây gắn liền với lòng đại bi, thương cả những kẻ ác, thương và hóa độ cho cả cái ác, vượt lên trên ranh giới thiện ác, thị phi. Đó là sự thức tỉnh trước sự phù phiếm của những khái niệm hay chính những ảo tưởng do con người huyễn hoặc tạo ra.
- Hoa mặt trời hay trí huệ siêu việt có thể đập tan mọi kết thằng trong tâm, đập vỡ tâm huyễn tưởng để từ đó có thể nhìn – nhận thấy thực tướng hiện tồn. Nhìn thấy cuộc “nhà chòi” ảo tưởng – thế gian và không còn bị mắc kẹt trong chính những khái niệm hay những kết cấu tinh thần mà con người lầm tưởng nhận vơ là “tâm”. Vượt lên trên đó là tỉnh thức là tự do. Tư do hay thơ tự do của Thích Nhất Hạnh có lẽ nên được hiểu ở trắc diện này (Hoa mặt trời).
- Tỉnh thức hay chính là sự thấu cảm được a tăng kỳ kiếp, vô lượng tuần hoàn của sinh diệt, rồi vượt lên trên sinh diệt “vòng tay nhận thức, vô lượng do tuần, nối liền diệt sinh năng sở” (Vòng tay nhận thức).  thơ tự do hay tự do tính = siêu việt  trí huệ/bát nhã.
(Ghi chép vội khi đọc thơ của Ông già Làng Mai).

Photos from Sách Giao Điểm - TMT's post 05/01/2020

PLOTINUS và SHANKARACHARYA

Phương thức duy lý, tri kiến khách quan. Giới hạn của tri kiến khách quan. Khả năng mở rộng áp dụng phương pháp tâm lý học. Hình thức mới tri kiến. Ý niệm của Plotinus. Những dạng thức khác nhau của ý thức. Ngủ (dạng thức tiềm tàng của ý thức). Mơ (ý thức quy hồi nội giới và phản chiếu chính nó). Tinh thần tỉnh thức (cảm giác nhị nguyên về thế giới, sự phân chia Tôi và Phi-Tôi). Mê tưởng (sự giải phóng của Tự Ngã). Turiya (Ý thức hoàn bị về toàn thể tự nó). “Giọt sương trôi vào biển nắng”. Nirvana (Niết Bàn).

Sự phát triển khoa học, tức là phát triển tri kiến khách quan, đang vấp phải trở ngại bốn bề. Khoa học cứu xét hiện tượng; ngay khi nó cố gắng khám phá nguyên do, nó lập tức đối mặt với tường thành trường hãn của vô minh/vô danh, và đối mặt với bất khả tri. Truy vấn thu hẹp chính nó vào cớ sự rằng: điều bất khả tri này hoàn toàn thực sự bất khả tri, hoặc nó chỉ bất khả tri đối với phương pháp và khoa học của nhân loại ?
Ở thời buổi này, tình thế cụ thể là: số lượng vấn đề vô minh trong mỗi địa hạt tri kiến khoa học đã gia tăng nhanh chóng; và mối đe doạ vô minh vẫn chực chờ nuốt chửng tri kiến – hoặc được chấp nhận như là đã biết được. [Bao nhiêu cái mà ta cho là mình biết, hoặc tạm cho là mình biết, quá ư ít ỏi so với cái mà ta chưa biết, những cái ta không thể biết; thậm chí những điều ta chưa biết, cái địa hạt vô tri/vô minh/vô danh thể kia đang chực chờ nuốt trọn phần ít ỏi hiểu biết còn lại của đời người]. Người ta có thể xác định tiến trình khoa học, nhưng càng về sau thì địa hạt vô tri/vô minh càng loang đổ lây lan tràn lấn tăng trưởng nhanh chóng. [Vết dầu loang bất khả tri nhận ngày càng khỏa lấp mặt biển động tri kiến yếu nhược mà chúng ta đang chèo chóng bằng chiếc thuyền con rách nát giữa các luồng sóng cả].
Và tất nhiên vô minh đã tồn hiện trước đó rồi, nhưng trong hạn mức ít hơn hiện tại. Trước đó, nó không được nhận thức một cách sáng rõ – ở thời đó, khoa học không biết rằng nó không biết. Còn bây giờ khoa học biết được nhiều hơn, và càng biết nhiều hơn cái trạng thái điều kiện của nó. Chỉ cần thêm chút nữa là trong mỗi ngành khoa học riêng biệt, bao nhiêu điều vô minh sẽ lớn dậy phủ bóng trên những gì mà khoa học đã biết được.
Tự thân mỗi bộ phận khoa học đã đang bắt đầu thoái thác các nền tảng căn cơ của nó. Chỉ cần thêm chút nữa là khoa học sẽ rơi vào tình thế tự hỏi rằng “Tôi ở đâu?”. [Rằng khoa học sẽ tự hỏi chính nó rằng nó đã đi đến bước đường nào rồi].
Tư duy minh xác – nhận thức các vấn đề của nó như là việc truy quyết kết vấn chung cuộc từ chỗ phát hiện của từng ngành khoa học riêng rẽ và liên ngành – lối tư duy ấy sẽ cảm thấy tự thân bị ép buộc phải vạch ra các kết luận từ cái mà khoa học không hề biết tẹo nào. Sau đó tất cả trần đời sẽ nhìn thấy ì đùn trước mặt cuộc đời tượng đài có bàn chân đất sét, hoặc dã chẳng có bàn chân nào mà chỉ có cái thân thể mù sương hù dọa, lửng lờ treo ngược giữa trời không.
Năm dài tháng rộng dần trôi, triết lý trên đời đã mở mắt nhìn thấy sự thiếu sót nghèo hèn của bàn chân thần tượng, nhưng đa số nhân sĩ trí thức uyên thâm vẫn tiếp tục mộng mị thôi miên mê mải bởi thực chứng luận, rơi vào cõi hàm hồ của cái luận thuyết chỉ nhìn thấy chút ít trần đời dưới gót chân thần tượng. Thế nên, cần phải sớm rũ bỏ những ảo tưởng của bầy đàn. Toán học, đặt nền tảng trên tri kiến minh xác, rõ ràng vẫn là đỉnh đầu khoa học với lòng kiêu hãnh ngạo mạn hết biết, thế mà bây giờ bản thân nó cũng như các thần dân và chư hầu bồi phục của nền toán học minh xác trong tận xương tủy lại quay ra từ chối tất cả những gì thuộc về thực chứng luận. Toán học rơi vào vòng tròn lẩn quẩn của khoa học thực chứng chỉ bởi vì các lầm tưởng sai hoặc, và thay vì đứng vào hàng ngũ tiên phong của khoa học thực chứng thì toán học sớm muộn gì cũng trở thành vũ khí căn cơ TẠO PHẢN LUẬN THUYẾT THỰC CHỨNG.

Mới qua sông !
Saigon - Phiên An - Gia Định
xx-xx-20xx.
VQV

25/12/2019

--- HẤP LỰC CƯỜNG HÃN CỦA TÌNH YÊU ---

Lý tính và đời sống. Sống như là nhận thức. Lý trí và tình cảm. Cảm tính như một phương thức tri nhận. Sự phát triển của cảm xúc từ lập trường tri nhận. Cảm tính thuần túy và đa tạp. Cảm tính cá nhân và phi cá nhân. Cảm tính cá nhân và siêu-cá nhân. Loại trừ các yếu tố tự thân như là ý nghĩa của việc tiếp cận tri nhận thức chân thực. “Hãy cứ là trẻ con…”. “Cầu cho trái tim thuần khiết…”. Giá trị đạo đức từ lập trường tri nhận. Thiếu sót của thuyết duy lí (intellectualism). Nỗi khiếp đảm vô cớ như vương miện của văn minh lý trí. Hiểm họa luân lý. Mỹ học luân lý. Tôn giáo và nghệ thuật như hình thức nhận thức cảm tính được tổ chức. Nhận thức về Chúa, nhận thức về Cái đẹp.
-----
NGHĨA LÝ CUỘC ĐỜI là chủ đề muôn thuở của tâm thức trù ngự con người. Tất cả các hệ thống thuyết lý, tất cả mọi tôn giáo đều cố công rao giảng trao truyền nhằm tìm thấy và đưa tới cho con người lời hồi đáp cho truy vấn này. Một số người cho rằng nghĩ lý cuộc đời thị tại phụng hiến phục vụ cho đi, trong sự hàng phục điều ngự bản ngã, trong hy sinh tự nguyên, trong phụng hiến vạn hữu, thậm chí là phụng hiến chính cả cuộc đời. Một số khác lại tuyên cáo rằng nghĩa lý cuộc đời thị tại niềm hoan lạc ngất ngây của diễn trình đời sống, là việc đào thoát giải vây vượt khởi “sự bức bách khôn cùng kĩnh hãi bốn bề của cái chết”. Đằng kia có người còn cho rằng nghĩa lý cuộc đời là sự toàn vẹn, và sáng tạo một mai hậu tươi hồng phía bên kia mộ phần huyệt lạnh, hoặc dã trong đời sống mai sau của chính mình. Đằng này lại có kẻ cho rằng nghĩa lý cuộc đời nằm trong sự tiếp cận với Phi-hiện: vẫn thế, họ cho rằng nghĩa lý cuộc đời nằm ở chỗ vẹn toàn của nòi giống, trong tổ chức cuộc đời trên mặt đất trần gian; trong khi đó có một số người chối từ khả năng của bất cứ nỗ lực thấu hiểu nghĩa lý của diễn trình đời sống.

Lầm tưởng của tất cả những giải thích này đều chung gộp lại trong thực tế là tất cả nỗ lực khám phá nghĩa lý cuộc đời vượt ra ngoài chính bản thân cuộc đời, hoặc là sự giải thích bám víu vào tương lai mai hậu của con người, hoặc là trong cách thế tồn hiện mơ hồ nào đó bên kia mộ phần, hoặc là trong sự tiến hóa của Bản ngã thông qua nhiều hóa thân tiếp nối – sự giải thích nghĩa lý cuộc đời luôn luôn đeo bám vào cái gì đót vượt ngoài chính bản nhiên đời sống tại hiện của nhân loại. Nhưng nếu như thay vì suy đoán về nó như vậy, con người nên nhướm mắt thơ ngây ngó lại chính bản thân mình, sau nữa con người sẽ lại thấy rằng trong thực tiễn nghĩa lý cuộc đời chung quy không phải là cái gì quá ư kín mật. NÓ GỒM THÂU TRONG TRI KIẾN. Tất cả sự đời, thông qua các diễn hoạt tan tụ nhân duyên, các sự viện và sự cố nối nhau tiếp biến, náo động và mê đắm, hẳn nhiên kéo đẩy lôi cuốn thậm chí gông cổ cầm đầu ta đưa tới TRI KIẾN VỀ PHIẾM THỂ. Tất cả kinh nghiệm sống trải cuộc đời đều trở thành TRI KIẾN. [Thành ra Ouspensky cho rằng nghĩa lý cuộc đời chính là việc trải nghiệm cuộc đời và có được tri kiến như thế nào về đời. Thế nên, cái quan trọng là sống trải và lập thành tri kiến, chứ không phải cái gì đó mơ hồ sau khi mộ phần đã xanh cỏ]. Cảm xúc cường hãn nhất của nhân loại chính là khát vọng trắc ẩn hướng về những gì chưa biết/không biết/vô danh sự. [Phải vậy không mà hễ người ta chạm được, cấu cắn, chụt húp, cào hốt, ăn dọng đã đầy no nê tình ái thì ái tình đâm ra trơ trẽn hèn mọn rẻ rúng không ngờ. Và ái tình héo tàn trên nấm mồ ngày đang tiếp nối]. Thậm chí khi tình yêu là hấp lực mê đắm cường hãn hơn cả, cái hấp lực câu nhốt bao vây lòng người mà vạn vật tự nguyên hy sinh, cái hấp lực đó cũng là lòng mong mỏi khát khao hướng về vô danh sự/điều chưa biết, hướng về cảnh vật lạ lỳ mới mẻ sắp sửa. [Vậy chăng bản chất tình yêu là động hướng xuôi chảy về phía chưa thể biết, sự căng trải cơi nới thêm nữa biên cương tri nhận của đời người. Bản chất của tình yêu nằm ở chỗ tiên phong của động hướng diễn hoạt cuộc đời. Tình yêu do đó không thể an tĩnh bình yên cứng đọng. Yêu phải là luôn luôn trải nghiệm, khám pha. Trải để nghiệm và từ nghiệm ứng vào lại không ngừng tự vấn và truy vấn. Truy để vấn nên cứ phải tiến tới, mở ra thêm, bứt phá cái biên cương bao vây. Tình yêu là để hòng khám phá. Khám để biết nhưng phá hủy để lại tiếp tục đào thoát khỏi sự biết, tiếp tục lao mình về chỗ/về phía chưa biết được để thỏa thê nuông chiều khao khát khám phá. Tình yêu thuộc về phần cốt lõi và tiên phong của động hướng diễn hoạt cuộc đời].

XVIII
VQV-2x-1x-20xx

22/12/2019

----- ĐỊA MẪU VÀ FECHNER -----

Vũ trụ hoạt sinh và vũ trụ tính lý. Những hình thức và đường hướng khác nhau của lý tính. Tự nhiên tràn đầy sức sống. Hồn đá và hồn cây. Tâm hồn đại ngàn. Kẻ xưng “Tôi” như là lý tính tập thể. Con người như là tồn hữu phức hợp. “Nhân tính” như là hiện hoạt. Tâm hồn thế giới. Ngoại diện của Đại Thiên (Mahadeva). Giáo sư James bàn về ý thức của vũ trụ. Ý niệm của Fechner. Zendavesta (Luật thư). Cõi trần sống động.

----

Giả tỷ tính lý hữu tồn trên cõi phàm trần này, thế thì nó hẳn phải nhuần thấm vạn hữu, mặc dù tự thân nó biểu thị muôn vàn trạng tướng.
Ta thường có thói quen gán linh vật thuyết (animism) và tính lý trong hình thức này nọ cho những sự vật thể trạng mà chúng ta tạm biết là “hiện hoạt”, tức là gán cho những sự vật thể trạng mà chúng ta cảm thấy tương đồng với chính mình ở cái chức năng xác định LINH VẬT THUYẾT trong đáy mắt thịt thà tròng ngươi.
Các vật thể vô tri và hiện tượng cơ giới đối với chúng ta thẩy đều vô hồn và phi lý.
Nhưng không thể như vậy được.
Đó chỉ là đối với trí năng hạn hẹp của chúng ta, đối với khả năng hiệp thông bị giới hạn của chúng ta với những trí năng khác, đối với kỹ năng phân tích loại suy bị hạn định của chúng ta rằng tính lý và hoạt sinh thần thức nhìn chung biểu thị chỉ trong các trường hợp chủng loài cụ thể đang sống, bên cạnh đó là hàng loạt sự vật chết và hiện tượng cơ học đang hiện tồn.
Nhưng nếu ta không thể chuyện trò cùng nhau, nếu mỗi người trong chúng ta không thể suy viễn về sự hiện hoạt tính lý và sự hoạt sinh thần thức ở tha thể bằng phương pháp loại suy đối sánh với chính mình, thì hẳn là sau đó mỗi kẻ trong bầy đàn chúng ta sẽ nghĩ xét lại chính mình thảm thương cô độc trong diễn trình sống hiện và sinh hoạt, và lòng ta sẽ phán quyết lưu đày biệt xứ tất cả phần còn lại của nhân loại vào cõi cơ giới “câm lặng niềm chết”. [Vì nếu ta không thể hiệp thông với tha thể, nghĩa là không thể tìm thấy tương đồng tương liên với những kẻ hoạt sinh ngoài kia, thì lập tức chúng ta trở thành một tinh cầu cô độc hay những con linh cẩu cô đơn lang thang trong đêm sa mạc Phi châu nguyên thủy, và xu thế tất nhiên, ta sẽ khép tất cả những cái tha thể đó vào trong phạm vi cơ giới và chết chóc cứng đọng, ta rơi vào cô độc tuyệt đối].
(XVII+)
VQV - 2x-1x-20xx

11/12/2019

----- TRIỂN HẠN PHI THƯỜNG -----

Phương diện hiện tượng và thực tướng của con người. “Người giữa lòng mình”. Làm sao ta biết được nội tướng nhân tính ? Chúng ta có thể biết được sự tồn hữu của ý thức trong điều kiện không gian bất đồng hay không ? Não và ý thức. Tính thống nhất của thế giới. Bất khả nhận thức về tồn hữu đồng thời của tinh thần và vật chất. Tinh thần hoặc vật chất. Hành động thuận lý và phi lý trong tự nhiên và đời sống con người. Hành động thuận lý có thể tồn tại song song hành động phi lý được hay không ? Thế giới như một trò đùa tự thân cơ ngẫu. Tính bất khả luận lý của vũ trụ cơ giới. Trạng thái bất dung hòa của tính chất cơ giới và sự tồn hữu của luận lý. Kant về “chủ thể”. Spinoza về việc nhận thức thế giới vô hình. Cần thiết định danh sáng rõ cái gì ta có thể và không thể biết về sự tàng ẩn của thế giới.

.........

Nhưng sau nữa vấn đề là gì ?
Nhìn dưới một góc độ nào đó, nó là một khái niệm hợp lý, tức là một mẫu thức nghĩ tưởng. Không ai không sờ thấy ngó thấy chạm thấy cội cây gốc đá sự vật, hắn cũng sẽ không ngừng nhìn thấy – đấy là khả thể nghĩ tưởng về vật chất. Từ một góc nhìn khác, nó là ảo tưởng [được tạo ra] từ việc tiếp nhận hiện thực. Thậm chí càng thực tế hơn, nó là mẫu thức tư duy bất xác của sự thể tồn hoạt trong thực tiễn. Vật chất cơ hồ là một tiết đoạn của cái gì đó; cái tiết đoạn phi hiện (non-existent) mang tính nghĩ tưởng. Nhưng thể trạng phiếm vật phi hiện mang tính nghĩ tưởng ấy mà vật chất là một tiết đoạn của nó, cái thể trạng phiếm vật phi hiện đó đang tồn hoạt. Đó là chân hữu, cõi giới bốn chiều.
Chẳng hạn như cái bàn được chế tác từ gỗ, gỗ là bản chất của cái bàn, gỗ đang tồn hoạt; nhưng bản nhiên chân thực của sự hữu hoạt ấy chúng ta lại không biết tới. Tất cả những gì chúng ta biết về nó chỉ là mẫu thức hoạt động tiếp nhận của [các quan năng mà chúng ta có] về nó. Và nếu chúng ta chấm dứt sinh hiện; nó hẳn vẫn tương tiến hoạt tồn, nhưng là sự tương tiến tiếp hoạt tồn di cho các hoạt động tiếp nhận tương tự như sự tiếp nhận của chúng ta [- loài người]. Nhưng trong tự thân bản chất hiện hoạt trong cách thế nào đó – Bằng cách nào nào, [cách thế hữu hoạt tồn liên hiện biến bản nhiên] mà chúng ta không biết. Hẳn là trong [hệ trục tọa độ mà trí năng tự tác ngụy để định vị sự thể vạn hữu tức là] không tính và thời tính, chúng tự mình áp đặt các mẫu thức này cho bản nhiên chân tính vạn hữu. Có lẽ tất cả gỗ tương tự, của những kỷ thời khác nhau, những góc bể chân trời khác biệt, cấu thành thể khối đồ đạc, tạc thành cây đời cành nhánh – có lẽ tất cả các sự gỗ ấy điều là hữu hiện duy nhất. Chắc hẳn cái bản nhiên này (hoặc một bộ phận của nó) của cái bàn được tác tạo, không tồn hiện riêng rẽ cách biệt với hoạt động tiếp nhận của chúng ta. Nhưng chúng ta đã thất bại trong việc nhận thức rằng một sự vật cụ thể chỉ là sự định danh mang tính nhân tạo do sự cảm ứng của chúng ta tạo thành, của cái duyên do bất định tràn trải vượt thoát vô biên qua sự thể đó.
Nhưng sự vật thể trạng ấy có thể chiếm lĩnh linh hồn tự thức như là một-là riêng-là thứ nhất của chính nó; và trong trường hợp này sự vật thể trạng tồn liên cực cùng độc lập với hoạt động tiếp nhận của chúng ta. Nhiều sự vật thể trạng sở hữu linh hồn tự thức như vậy, đặc biệt là các loại đồ đạc cũ kỹ, chẳng hạn như ngôi nhà vùng nước mặn năm xưa, tháp chuông giáo đường hoang phế, lối xưa xe ngựa hồn thu thảo, nền cũ lâu đài bóng tịch dương, ngôi mộ hời câm tiếng cô hồn, một cổ thư kỳ thuật, một danh tác nghệ thuật cổ nhân, bóng trăng đêm vắng vẫn còn mối cảm hoài cố thổ quê nhà há chẳng phải là cái linh thức hồn hề di hoạt đó sao.
(XVI)

VQV - bão nổi trong The Coffee House.
(+vô cực - của năm 2019 mũ vô cực)

28/11/2019

TÌNH YÊU - ĐỆ TAM CẤU THỨC LUẬN
Chuyện một người còn lang thang trên đường chân trời!!!

Thuyết huyền nhiệm và tình yêu. Tình yêu và sự chết. Những liên đới khác giữa vấn đề yêu và chết. Nhận thức của ta về ái tình còn thiếu điều gì ? Tình yêu - hiện tượng tâm lý đơn thuần và thường nhật. Khả năng nhận thức tinh thần về tình yêu. Khả lực sáng tạo của tình yêu. Phủ định tình yêu. Tình yêu và thần bí thuyết. “Nhiệm màu” trong tình yêu. Nietzsche, Edward Carpenter và Schopenhauer về tình yêu. “Biển tình”.

Còn ái tình trong cách thế hiện thời của cái nhìn về thế giới được xem như một cái gì đó được mang lại, thể như điều gì đó đã được thấu hiểu và biết rõ bấy lâu. Kỳ thực, những hệ thống luận cứ [về ái tình] đóng góp cho nhân loại rất ít hiểu biết, tức là thức ngộ (enlightening) để đưa đến sự thấu hiểu về tình yêu. Thế nên mặc dù trên thực tế, tình yêu đối với chúng ta cũng huyền bí như sự chết, nhưng chẳng biết vì những nguyên do lạ lùng gì mà chúng ta vẫn còn nghĩ về ái tình quá ít ỏi, [những ưu tư băn khoăn hoài tưởng của chúng ta về tình yêu trên khắp cõi đại địa này dường như vẫn còn quá sơ sài]. Dường như chúng ta đã căn định ra những tiêu chuẩn đứt đoạn và khô đét liên quan đến việc thấu hiểu chính cuộc tình của mình, và nhân loại vẫn thơ ngây vô tư lự chấp nhận những tiêu chuyển nọ kia [khi nghiêng mình ngó xuống vực thẳm của tình yêu]. Nghệ thuật, từ bản chất của nó, đã sẻ chia cho lòng ta nhiều hơn hết về những vấn đề yêu đương dưới vòm trời này; nghệ thuật quả đã dành rất nhiều tín mộ cho vấn đề ái tình; lòng yêu đã từng và có lẽ vẫn tiếp tục sẽ là chủ đề cốt yếu của nghệ thuật. Nhưng ngay cả nghệ thuật trong cương giới tự thân duy chỉ mô tả và phân tích tâm lý các trắc diện muôn vàn nẻo hướng của tình yêu đi chăng nữa thì vẫn hiếm khi nó đụng chạm đến phần sâu thẳm vô hạn và bất diệt mà ái tình đã mang đến cho loài người.

Thực tế, tình yêu là một hiện tượng vũ trụ (cosmic), nhưng trong phạm vi nhân loại và nhân tính, tình yêu có vẻ là một hiện tượng mang tính cơ ngẫu: một hiện tượng vũ trụ mà nhân loại chẳng có gì phải tương tiến tương tác cả trong đời sống thường nhật lẫn trong linh hồn, dù gì vầng thái dương thường ngày vẫn chiếu tỏa, và dưới ánh mặt trời rực rỡ con người vẫn đi lại quẩn quanh với những vụn vặt ái tình, rồi trưng dụng ái tình cho những mục đích riêng mình thầm kín. Nếu nhân loại hiểu được thảm trạng này, dù chỉ trong một góc nhỏ ý thức tâm hồn, thì một cõi giới khác mới mẻ sẽ căng mở ra và cái nhìn sự đời phóng trải từ tất cả giác độ thông thường của tấm thân phàm tục sẽ trở thành vào trong thể cách lạ kỳ phi thường rất đỗi.

Thế rồi lòng ta sẽ hiểu được ái tình là một cái gì đó khác nữa [một thể sự khác mà đôi khi ta lầm tưởng là điều gì thiết thân, thực ra ta lại chẳng biết được gì về ái tình] và hoàn toàn khác biệt với các trạng tướng hèn mọn của đời sống địa đàng rất ư vòm trời của mắt ếch.
(XV)
(Một buổi sáng lưng chừng, bao vây trong ước hẹn)
VQV dịch.

Want your business to be the top-listed Government Service in Ho Chi Minh City?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Address

11
Ho Chi Minh City