Trung tâm Hỗ trợ Hội nhập quốc tế Thành phố

Trung tâm Hỗ trợ Hội nhập quốc tế Thành phố

Share

- Thông tin hội nhập: sinh động
- Diễn biến các hiệp định Quốc Tế: kịp thời

02/06/2026

Những "điểm nghẽn" thực hiện kiểm kê khí nhà kính trong doanh nghiệp

Kết quả giám sát các doanh nghiệp đại chúng chỉ ra rằng, phần lớn các tổ chức kinh tế đang đối mặt với thách thức lớn trong việc thực hiện kiểm kê và báo cáo phát thải khí nhà kính chất lượng cao…

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang dự thảo, lấy ý kiến Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính cập nhật năm 2026.

Theo Quyết định số 13/2024/QĐ-TTg ban hành danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính (cập nhật năm 2024), có 2.166 cơ sở; trong đó có 1.805 cơ sở thuộc ngành công thương; 75 cơ sở thuộc ngành giao thông vận tải; 229 cơ sở thuộc ngành xây dựng và 57 cơ sở thuộc ngành tài nguyên và môi trường.

Đến nay, Việt Nam đã thực hiện và công bố sáu kỳ kiểm kê khí nhà kính quốc gia cho các năm 1994, 2000, 2010, 2013, 2014, 2016, 2018 và 2020 dựa trên số liệu tổng hợp của quốc gia và cấp ngành.

KIỂM KÊ KHÍ NHÀ KÍNH VÀ GIẢM PHÁT THẢI LÀ CẤU PHẦN CHUYÊN MÔN MỚI, ĐÒI HỎI NGUỒN LỰC ĐẦU TƯ LỚN

Trong hồ sơ xây dựng dự thảo Quyết định, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết trong thời gian qua, các hoạt động kiểm kê khí nhà kính theo Quyết định số 13/2024/QĐ-TTg đã được triển khai và đạt được một số kết quả tích cực trong công tác quản lý nhà nước về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính. Quyết định được ban hành đã góp phần kiểm soát khoảng 23% tổng phát thải khí nhà kính quốc gia.

Việc xác định danh mục các lĩnh vực phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính cung cấp căn cứ cho các bộ, ngành, địa phương cũng như doanh nghiệp để rà soát và cải thiện hệ thống cơ sở dữ liệu hiện có nhằm đáp ứng nhu cầu kiểm kê khí nhà kính theo lĩnh vực, nguồn phát thải. Các bộ, ngành, địa phương và đặc biệt là một số doanh nghiệp đã và đang xây dựng cơ chế cung cấp số liệu phục vụ kiểm kê khí nhà kính.

Tuy nhiên, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết qua quá trình triển khai thực hiện, công tác quản lý và chấp hành các quy định pháp luật liên quan đã bộc lộ một số tồn tại, bất cập.

Thứ nhất, về năng lực thực thi và nguồn nhân lực chuyên môn trong thực tế ghi nhận sự thiếu hụt nghiêm trọng đội ngũ chuyên gia và cán bộ kỹ thuật chuyên sâu trong lĩnh vực giảm nhẹ phát thải khí nhà kính. Không những thế, năng lực quản lý nhà nước về biến đổi khí hậu tại cấp cơ sở chưa đáp ứng tiến độ và yêu cầu thực tiễn.

Một trong những nguyên nhân chính là do kiểm kê khí nhà kính và giảm phát thải là cấu phần chuyên môn mới, đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn, dẫn đến việc thiết lập chế độ thông tin, quản lý số liệu, cũng như mức độ tuân thủ quy định pháp luật của các đối tượng nghĩa vụ chưa đạt tính đồng bộ, thống nhất và toàn diện.

Thứ hai, về tính chính xác của dữ liệu quản lý cơ sở: Hệ thống thông tin lưu trữ về tình trạng hoạt động, địa chỉ kinh doanh và pháp nhân của một số cơ sở thuộc danh mục bắt buộc hiện không còn phù hợp với thực tế.

Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ biến động thị trường dẫn đến việc các doanh nghiệp tự ý thay đổi địa điểm, chuyển đổi tên gọi thương mại, thay đổi ngành nghề kinh doanh hoặc chấm dứt hoạt động nhưng chưa thực hiện nghĩa vụ cập nhật kịp thời đến cơ quan quản lý chuyên ngành.

Thứ ba, chế độ báo cáo, cung cấp thông tin về số liệu hoạt động của các cơ sở phát thải khí nhà kính tại một số địa phương còn mang tính hình thức, chưa bảo đảm các tiêu chuẩn về định lượng chất lượng và tiến độ thời gian theo quy định.

Mặc dù Thông tư số 96/2020/TT-BTC của Bộ Tài chính đã quy định bắt buộc các doanh nghiệp niêm yết phải công bố thông tin phát thải khí nhà kính trực tiếp và gián tiếp trong Báo cáo thường niên, thực tiễn áp dụng tính đến giai đoạn hiện nay vẫn ghi nhận nhiều rào cản. Kết quả giám sát các doanh nghiệp đại chúng chỉ ra rằng phần lớn các tổ chức kinh tế đang đối mặt với thách thức lớn trong việc thực hiện kiểm kê và báo cáo phát thải khí nhà kính chất lượng cao, đặc biệt là lượng phát thải thuộc Phạm vi 3 (Scope 3).

Theo Tiêu chuẩn báo cáo và kế toán doanh nghiệp thuộc Nghị định thư về khí nhà kính, kiểm kê khí nhà kính chất lượng cao bao gồm toàn bộ các nguồn phát thải gián tiếp phát sinh trong chuỗi giá trị của doanh nghiệp, tính cả dòng thượng nguồn (nguyên liệu đầu vào) và dòng hạ nguồn (tiêu thụ, phân phối sản phẩm).

Khác với Phạm vi 1 (phát thải trực tiếp từ các nguồn do doanh nghiệp sở hữu hoặc kiểm soát) và Phạm vi 2 (phát thải gián tiếp từ nguồn năng lượng điện, nhiệt tiêu thụ), Phạm vi 3 phản ánh tác động môi trường diện rộng từ các nguồn nằm ngoài quyền sở hữu hoặc kiểm soát trực tiếp của tổ chức.

Còn dữ liệu khoa học từ Viện Tài nguyên Thế giới (WRI) xác định rằng, lượng phát thải thuộc Phạm vi 3 chiếm tỷ trọng áp đảo, cấu thành trung bình 75% tổng lượng phát thải của một doanh nghiệp thông thường, và có thể tiệm cận mức 100% đối với các ngành đặc thù như dịch vụ tài chính, bảo hiểm và cung ứng nguyên liệu sản xuất. Đối với các tập đoàn kinh tế phụ thuộc sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, tỷ lệ phát thải Phạm vi 3 cấu thành từ 90-95% tổng chuỗi giá trị.

CƠ HỘI CHO THÚC ĐẨY CHUYỂN ĐỔI SỐ KINH TẾ XANH, TIẾP CẬN CÁC NGUỒN TÀI CHÍNH KHÍ HẬU QUỐC TẾ

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tiến trình cấu trúc hóa dữ liệu kiểm kê khí nhà kính chất lượng cao hiện đang gặp phải các điểm nghẽn kỹ thuật và vận hành.

Cụ thể trong quy trình thu thập dữ liệu thứ cấp, để bảo đảm tính chính xác của báo cáo, doanh nghiệp phải tổng hợp dữ liệu từ nhiều nguồn cấu phần bao gồm nội bộ, nhà cung ứng, khách hàng và các bên liên quan. Hoạt động này phụ thuộc chặt chẽ vào vị thế thương mại và tầm ảnh hưởng tài chính của doanh nghiệp đối với đối tác.

Tuy nhiên, trên thực tế, rất khó để thuyết phục các bên liên quan cung cấp và công khai các thông tin thứ cấp mang tính bảo mật như bảng cân đối tài chính, định mức chi phí và quy trình vận hành nội bộ.

Một điểm đáng chú ý là sự hạn chế cố hữu của khối doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs). Nhóm đối tượng này thường xuyên đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn lực tài chính và nhân sự chuyên môn kỹ thuật. Quy trình thu thập dữ liệu hiện tại chủ yếu được thực hiện bằng phương pháp thủ công, dẫn đến lãng phí thời gian, sai số lớn và không có khả năng thiết lập hệ thống quản trị dữ liệu tự động.

Ngoài ra, tính đa dạng và phức tạp của nguồn phát thải cũng là một trong những khó khăn thách thức với doanh nghiệp. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng các nguồn phát thải thuộc Phạm vi 3 vô cùng phân tán, phát sinh từ hàng hóa, dịch vụ đã mua, hoạt động logistics, vòng đời xử lý chất thải và quá trình sử dụng sản phẩm của người tiêu dùng. Do đó, việc định lượng các nguồn này trong một chuỗi cung ứng đa tầng, nhiều nhà thầu tham gia là một tác vụ phức tạp.

Dù các kết quả đo lường ban đầu có thể tồn tại biên độ sai số nhất định, việc mở rộng phạm vi kiểm kê sang Phạm vi 3 là bắt buộc để giúp tổ chức định vị các "điểm nóng" phát thải, tạo tiền đề xây dựng chiến lược giảm thiểu khả thi.

Để tối ưu hóa tính chính xác trong công tác kiểm kê, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng các doanh nghiệp cần thực hiện đồng bộ các giải pháp mang tính chiến lược.

Thứ nhất, tái cấu trúc quy trình mua hàng và quản lý nhà cung cấp: Do phát thải Phạm vi 2 và 3 nằm ngoài tầm kiểm soát trực tiếp của doanh nghiệp, vai trò của bộ phận quản lý chuỗi cung ứng (trọng tâm là phòng mua hàng) trở nên quyết định. Hoạt động điều phối, thu thập dữ liệu khí nhà kính từ đối tác phải được chuẩn hóa thành một chức năng bắt buộc của bộ phận mua hàng, đi kèm các chương trình đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn.

Thứ hai, sự hợp tác của các đơn vị cung ứng dịch vụ, sản phẩm là điều kiện tiên quyết để tiếp cận các dữ liệu nhạy cảm kinh doanh. Mối quan hệ này phải được xây dựng dựa trên nguyên tắc đồng hành, đôi bên cùng có lợi, nâng cao năng lực quản trị dữ liệu cho đối tác thay vì áp đặt chế tài hành chính đơn thuần. Doanh nghiệp cần tích hợp các tiêu chuẩn phát thải vào bộ tiêu chí lựa chọn và xếp hạng nhà cung cấp, đồng thời có cơ chế thưởng phạt minh bạch đối với các cam kết phát triển bền vững.

Thứ ba, việc tuân thủ các yêu cầu kiểm kê chất lượng cao tạo áp lực lớn lên nguồn lực tổ chức, đòi hỏi đầu tư thích đáng vào hệ thống quản trị mới. Đây đồng thời là cơ hội để ứng dụng các công cụ tự động hóa và trí tuệ nhân tạo vào việc thu thập, phân tích dữ liệu nhằm tối ưu hóa chi phí vận hành về dài hạn.

Mặc dù Chính phủ Việt Nam và cộng đồng doanh nghiệp đã thể hiện cam kết chính trị mạnh mẽ, song những rào cản về năng lực kỹ thuật, tính sẵn có của dữ liệu và nguồn lực tài chính vẫn là những thách thức nội tại làm ảnh hưởng đến độ tin cậy của công tác kiểm kê.

Tuy nhiên, bối cảnh này cũng mở ra cơ hội lớn để thúc đẩy chuyển đổi số kinh tế xanh, hoàn thiện hệ thống quản trị quốc gia và gia tăng hiệu quả hợp tác công- tư, đồng thời tiếp cận các nguồn tài chính khí hậu quốc tế.

Công tác kiểm kê phát thải khí nhà kính chính là chìa khóa định hình và giám sát lộ trình giảm nhẹ biến đổi khí hậu của quốc gia. Bằng việc chuẩn hóa dữ liệu báo cáo theo các quy chuẩn và định ước quốc tế, Việt Nam có thể hoạch định các chính sách dựa trên bằng chứng khoa học, khẳng định vị thế một thành viên có trách nhiệm trong các cam kết toàn cầu.

Nguồn: VnEconomy

02/06/2026

Mỹ điều tra Việt Nam theo mục 301: Rủi ro thuế quan mới hay cơ hội để nâng cấp nền kinh tế?

28/05/2026

Phân tầng tiêu chí áp dụng khung tiêu chuẩn ESG theo quy mô doanh nghiệp

27/05/2026

Tăng cường khai thác hiệu quả các FTA, mở rộng thị trường mới, thị trường tiềm năng

Lãnh đạo Bộ Công Thương nhấn mạnh yêu cầu xây dựng chiến lược phát triển thị trường nước ngoài gắn với chiến lược xuất nhập khẩu và hội nhập kinh tế quốc tế. Đồng thời tăng cường khai thác hiệu quả các FTA, mở rộng thị trường mới, thị trường tiềm năng và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.

Tháo gỡ nhiều khó khăn liên quan đến xuất khẩu nông sản, thủy sản

Theo đại diện Vụ Phát triển thị trường nước ngoài, cho biết trong 4 tháng đầu năm 2026, Vụ đã triển khai 7 nhóm nhiệm vụ trọng tâm. Trong đó, nổi bật là việc xây dựng các chương trình công tác bám sát định hướng phát triển thị trường xuất khẩu và hội nhập kinh tế quốc tế cũng như mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu 15 - 16%.

Đồng thời, chuẩn bị cho các hoạt động đối ngoại về kinh tế của lãnh đạo cấp cao và lãnh đạo Bộ. Tăng cường công tác nghiên cứu, phản ứng chính sách như xây dựng chiến lược nâng cấp, đàm phán và ký kết các FTA giai đoạn 2026 - 2035, cũng như Chiến lược phát triển thương mại với thị trường Trung Quốc đến năm 2035.

Công tác đàm phán và mở rộng hợp tác thương mại tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực. Trong thời gian qua, Vụ Phát triển thị trường nước ngoài đã triển khai nhiều hoạt động thúc đẩy đàm phán các thỏa thuận thương mại ưu đãi song phương, mở rộng hợp tác tại các thị trường tiềm năng, đồng thời tăng cường trao đổi nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.

Trong hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp, Vụ đã phối hợp tháo gỡ nhiều khó khăn liên quan đến xuất khẩu nông sản, thủy sản. Hỗ trợ doanh nghiệp xử lý các vướng mắc phát sinh tại thị trường nước ngoài, đồng thời tăng cường hướng dẫn doanh nghiệp tiếp cận các tiêu chuẩn kỹ thuật và quy định nhập khẩu quốc tế.

Đáng chú ý, công tác thương vụ bước đầu được đổi mới thông qua nền tảng số phát triển thị trường nước ngoài được đưa vào vận hành từ tháng 3/2026. Sau hơn 2 tháng hoạt động, hệ thống ghi nhận khoảng 253.000 lượt truy cập, với hàng nghìn tin tức thị trường, báo cáo công tác và báo cáo phân tích được cập nhật từ hệ thống thương vụ Việt Nam ở nước ngoài.

Bên cạnh kết quả đạt được, công tác phát triển thị trường vẫn đối mặt một số khó khăn, thách thức như áp lực đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, yêu cầu nâng cao năng lực dự báo, tăng cường khả năng thích ứng với biến động thị trường và nâng cao hiệu quả phối hợp trong công tác điều hành, hỗ trợ doanh nghiệp.

Vụ Phát triển thị trường nước ngoài đề xuất 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới, tập trung vào đổi mới tư duy quản trị theo hướng gắn với mục tiêu, kết quả; tăng cường nghiên cứu, dự báo và theo dõi sát diễn biến thị trường quốc tế; cơ cấu lại thị trường xuất nhập khẩu theo hướng cân bằng, bền vững, giảm phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống.

Mở rộng thị trường mới, thị trường tiềm năng

Tại buổi làm việc với Vụ Phát triển thị trường nước ngoài về tình hình thực hiện nhiệm vụ 4 tháng đầu năm 2026 và phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng ghi nhận và đánh giá cao nỗ lực của tập thể cán bộ, công chức Vụ Phát triển thị trường nước ngoài trong bối cảnh tình hình kinh tế, thương mại thế giới tiếp tục có nhiều biến động.

Theo Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng, công tác phát triển thị trường nước ngoài trong thời gian tới đứng trước nhiều yêu cầu mới, đòi hỏi phải tăng cường năng lực dự báo, nghiên cứu chiến lược và phối hợp liên ngành. Do đó, Bộ Công Thương cần tiếp tục hoàn thiện mô hình quản trị, đẩy mạnh chuyển đổi số, chuẩn hóa dữ liệu và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các đơn vị nhằm đáp ứng yêu cầu điều hành trong giai đoạn mới.

Bộ trưởng cũng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng chiến lược phát triển thị trường nước ngoài gắn với chiến lược xuất nhập khẩu và hội nhập kinh tế quốc tế. Đồng thời tăng cường khai thác hiệu quả các FTA, mở rộng thị trường mới, thị trường tiềm năng và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.

Bộ trưởng yêu cầu tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thương vụ Việt Nam ở nước ngoài; tăng cường ứng dụng công nghệ số, thương mại điện tử xuyên biên giới và xây dựng hệ thống dữ liệu dùng chung phục vụ công tác quản lý, điều hành và hỗ trợ doanh nghiệp.

Nguồn: Thương trường

27/05/2026

Đón triển vọng thương mại Việt Nam - ASEAN

27/05/2026

Cảnh báo gia tăng các vụ phòng vệ thương mại nhắm vào hàng xuất khẩu của Việt Nam

Pakistan khởi xướng điều tra chống bán phá giá đối với băng dính BOPP nhập khẩu từ Việt Nam, trong khi Liên minh Kinh tế Á - Âu mở điều tra tự vệ với lốp xe ô tô nhập khẩu. Diễn biến mới cho thấy áp lực phòng vệ thương mại tại nhiều thị trường xuất khẩu đang gia tăng, đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam chủ động ứng phó và phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng để giảm thiểu rủi ro.

Theo thông tin từ Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công thương), Ủy ban Thuế quan quốc gia Pakistan (NTC) đã chính thức khởi xướng điều tra chống bán phá giá đối với sản phẩm băng dính tự dính BOPP dạng cuộn jumbo có xuất xứ và/hoặc nhập khẩu từ Việt Nam.

Thông báo này được phía Pakistan ban hành ngày 30/4/2026, sau khi hai doanh nghiệp nội địa là Universal Coating Films (Pvt.) Limited và Tri-Pack Films Limited tại Karachi nộp đơn kiện hôm 24/3/2026.

Sản phẩm bị điều tra là băng dính tự dính làm từ màng polypropylene định hướng hai trục (BOPP) dạng cuộn jumbo, thuộc các mã HS 3919.9010 và 3919.9090 theo biểu thuế hải quan Pakistan.

Theo cáo buộc của nguyên đơn, sản phẩm từ Việt Nam đang được bán với giá thấp bất thường tại thị trường Pakistan, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước.

NTC xác định thời kỳ điều tra hành vi bán phá giá từ ngày 1/1/2025 đến 31/12/2025, trong khi giai đoạn đánh giá thiệt hại kéo dài từ ngày 1/1/2023 đến hết năm 2025.

Đáng chú ý, cơ quan điều tra Pakistan yêu cầu các bên liên quan phải đăng ký tham gia vụ việc trong vòng 10 ngày kể từ ngày công bố thông báo khởi xướng và không chấp nhận gia hạn. Hồ sơ đăng ký cần cung cấp đầy đủ thông tin doanh nghiệp, người đại diện, địa chỉ liên hệ cùng các tài liệu, ý kiến và chứng cứ liên quan.

Các doanh nghiệp có tối đa 45 ngày kể từ ngày đăng Công báo để nộp bình luận, dữ liệu và chứng cứ phục vụ điều tra.

Theo quy trình của Pakistan, kết luận sơ bộ dự kiến được ban hành trong khoảng 60 - 180 ngày kể từ ngày khởi xướng vụ việc, trong khi kết luận cuối cùng sẽ được đưa ra trong vòng 180 ngày kể từ ngày công bố kết luận sơ bộ.

Trước diễn biến này, Cục Phòng vệ thương mại khuyến nghị các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu liên quan cần khẩn trương rà soát tình hình xuất khẩu sang Pakistan, đặc biệt là dữ liệu về sản lượng và giá bán trong giai đoạn bị điều tra. Cơ quan này cũng lưu ý doanh nghiệp chủ động đăng ký tư cách bên liên quan đúng thời hạn, chuẩn bị phương án ứng phó và nghiên cứu kỹ quy định điều tra chống bán phá giá của Pakistan để bảo vệ quyền lợi.

Ngoài ra, các hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp được khuyến nghị hợp tác đầy đủ với cơ quan điều tra Pakistan trong toàn bộ quá trình xử lý vụ việc, bao gồm trả lời bảng câu hỏi, cung cấp dữ liệu đúng hạn và tham gia thẩm tra tại chỗ nếu được yêu cầu.

Theo Cục Phòng vệ thương mại, việc không hợp tác hoặc hợp tác không đầy đủ có thể khiến cơ quan điều tra sử dụng các dữ liệu sẵn có bất lợi, làm gia tăng đáng kể mức thuế chống bán phá giá áp lên doanh nghiệp Việt Nam.

Không chỉ băng dính BOPP, Cục Phòng vệ thương mại cũng cho biết, cơ quan này vừa nhận được thông tin về việc Cục Bảo vệ thị trường nội địa thuộc Ủy ban Kinh tế Á - Âu (EEC) đã thông báo khởi xướng điều tra áp dụng biện pháp tự vệ đối với lốp xe ô tô nhập khẩu vào lãnh thổ hải quan của Liên minh Kinh tế Á - Âu (EAEU).

Theo đó, hàng hóa bị điều tra là lốp xe ô tô có đường kính vành 13 - 21 inch, nhập khẩu vào lãnh thổ hải quan của EAEU (trừ một số lốp xe có đường kính vành 17,5 - 21 inch, có chỉ số tải trọng vượt quá 115 và thuộc các ký hiệu cấp tốc độ F, G, J, K, L, M, N, P, Q, R, S, T, U, H theo quy định kỹ thuật liên quan). Mã HS tham khảo theo Thông báo của EEC 4011 10 000 3, 4011 10 000 9, 4011 20 100 0, 4011 20 900 0, 8708 70 500 9 và 8708 70 990 9.

Ngày khởi xướng điều tra vào ngày 7/5/2026, thông báo khởi xướng điều tra được đăng tải tại chuyên mục “Bảo vệ thị trường nội địa” trên Cổng thông tin chung và dữ liệu mở của EAEU, đồng thời được công bố trên trang thông tin điện tử chính thức của EAEU.

Cục Phòng vệ thương mại cho biết, thời hạn đăng ký tham gia vụ việc trong vòng 25 ngày kể từ ngày khởi xướng điều tra, các bên liên quan có thể gửi đơn thông báo về ý định tham gia vụ việc để được công nhận tư cách bên liên quan trong quá trình điều tra.

Cùng với đó, thời hạn để yêu cầu điều trần công khai trong vòng 45 ngày kể từ ngày khởi xướng điều tra (dự kiến ngày 21/6/2026). Thời hạn để bình luận về vụ việc là trong vòng 60 ngày kể từ ngày khởi xướng điều tra (dự kiến ngày 6/7/2026).

Nhằm ứng phó hiệu quả vụ việc, Cục Phòng vệ thương mại khuyến nghị các hiệp hội ngành hàng thông báo đến các doanh nghiệp hội viên; rà soát các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu lốp xe có liên quan sang thị trường EAEU trong giai đoạn 2022 - 2025 và liên hệ, trao đổi với Cục Phòng vệ thương mại, Bộ Công thương để được hỗ trợ kịp thời./.

Nguồn: Thời báo Tài chính Việt Nam

26/05/2026

Lưu ý doanh nghiệp về quy định mới khi xuất khẩu sang Trung Quốc

25/05/2026

Nguồn gốc và sự tiến hóa của khái niệm Nền kinh tế xanh (Green Economy)

Khái niệm "Nền kinh tế xanh" không phải là một ý tưởng bột phát mà là kết quả của một quá trình tiến hóa tư duy kéo dài nhiều thập kỷ, nảy sinh từ sự va chạm giữa khát vọng tăng trưởng kinh tế vô hạn và giới hạn sinh thái hữu hạn của Trái Đất.

Để hiểu rõ nguồn gốc của Kinh tế xanh, cần nhìn lại dòng chảy lịch sử từ những lý thuyết kinh tế học môi trường sơ khai cho đến khi trở thành một chương trình nghị sự chính trị toàn cầu. ↵

Những hạt giống đầu tiên: Sự trỗi dậy của Kinh tế học Môi trường (Thập niên 1960 - 1970)

Trước những năm 1960, tư duy kinh tế truyền thống (Tân cổ điển) thường xem tài nguyên thiên nhiên là vô tận và môi trường là một "ngoại ứng" (externality) nằm ngoài các mô hình tính toán. Tuy nhiên, sự gia tăng của ô nhiễm công nghiệp và các cuộc khủng hoảng sinh thái đã buộc các nhà kinh tế phải thay đổi cái nhìn.

Năm 1966, Kenneth Boulding trong bài luận nổi tiếng "The Economics of the Coming Spaceship Earth" đã đưa ra một ẩn dụ mang tính bước ngoặt. Ông so sánh nền kinh tế hiện tại là "kinh tế cao bồi" (cowboy economy) – nơi con người khai thác và tiêu thụ tài nguyên như thể chúng vô tận, và đề xuất chuyển sang "kinh tế phi hành gia" (spaceman economy) – nơi Trái Đất được coi là một con tàu vũ trụ duy nhất, có nguồn dự trữ hạn chế và con người phải tìm cách tái chế, bảo tồn để sinh tồn.

Đến năm 1972, báo cáo "The Limits to Growth" (Giới hạn của sự tăng trưởng) của Câu lạc bộ Rome đã gây chấn động thế giới khi cảnh báo rằng nếu xu hướng tiêu thụ và phát triển dân số tiếp tục như hiện tại, hệ thống kinh tế toàn cầu sẽ sụp đổ trong vòng 100 năm. Đây là những nền tảng lý thuyết đầu tiên đặt câu hỏi về tính bền vững của mô hình tăng trưởng dựa trên hóa thạch.

Sự ra đời chính thức của thuật ngữ "Kinh tế Xanh" (1989)

Thuật ngữ "Nền kinh tế xanh" (Green Economy) thực sự xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1989 trong báo cáo mang tên "Blueprint for a Green Economy" (Bản thiết kế cho một nền kinh tế xanh). Báo cáo này được thực hiện bởi một nhóm các nhà kinh tế hàng đầu (David Pearce, Anil Markandya và Edward Barbier) cho Chính phủ Anh.

Tại thời điểm đó, mục tiêu của báo cáo là định nghĩa lại cách thức đo lường sự tiến bộ kinh tế. Các tác giả lập luận rằng: Kinh tế không thể tách rời khỏi môi trường. Các dịch vụ hệ sinh thái (như không khí sạch, nước ngọt, đa dạng sinh học) cần phải được định giá kinh tế để được bảo vệ. Chính sách thuế và trợ cấp phải được thay đổi để khuyến khích các hoạt động thân thiện với môi trường. Mặc dù báo cáo này tập trung nhiều vào các công cụ chính sách kỹ thuật, nó đã đặt viên gạch đầu tiên cho một mô hình kinh tế mà ở đó "tăng trưởng" không còn đồng nghĩa với "hủy hoại".

Từ "Phát triển bền vững" đến "Kinh tế Xanh"

Trong suốt những năm 1990 và đầu 2000, khái niệm "Phát triển bền vững" (Sustainable Development) chiếm ưu thế sau Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất Rio 1992. Tuy nhiên, sau hơn một thập kỷ, cộng đồng quốc tế nhận thấy rằng mặc dù mục tiêu phát triển bền vững rất cao đẹp, nhưng việc thực hiện lại thiếu một động lực kinh tế cụ thể.

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 chính là bước ngoặt quyết định. Khi các nền kinh tế lớn sụp đổ, các nhà lãnh đạo thế giới tìm kiếm một mô hình mới để vừa phục hồi kinh tế, vừa giải quyết thách thức biến đổi khí hậu.

Năm 2008, Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) đã phát động sáng kiến "Kinh tế Xanh" và đưa ra khái niệm "Thỏa thuận mới xanh toàn cầu" (Global Green New Deal). Theo UNEP, nền kinh tế xanh là nền kinh tế: "Vừa cải thiện phúc lợi con người và công bằng xã hội, vừa giảm thiểu đáng kể các rủi ro môi trường và khan hiếm sinh thái."

Hội nghị Rio+20: Sự đồng thuận toàn cầu (2012)

Khái niệm nền kinh tế xanh thực sự trở thành tiêu điểm tại Hội nghị Thượng đỉnh Liên Hợp Quốc về Phát triển bền vững (Rio+20) năm 2012. Tại đây, "Kinh tế xanh trong bối cảnh phát triển bền vững và xóa nghèo" đã được xác định là một trong hai chủ đề chính.

Sự kiện này đánh dấu sự chuyển dịch quan trọng: Kinh tế xanh không còn là lý thuyết của các nhà khoa học môi trường, mà đã trở thành công cụ chiến lược để đạt được các mục tiêu kinh tế và xã hội. Nó nhấn mạnh vào 3 trụ cột chính: Ít phát thải carbon: Thay thế năng lượng hóa thạch bằng năng lượng tái tạo. Sử dụng tài nguyên hiệu quả: Áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn, giảm lãng phí. Công bằng xã hội: Đảm bảo quá trình chuyển đổi xanh không bỏ lại ai phía sau.

Ý nghĩa và Tầm nhìn hiện đại

Đến nay, nguồn gốc của kinh tế xanh đã mở rộng sang các khái niệm liên quan như Kinh tế tuần hoàn (Circular Economy) và Kinh tế sinh học (Bio-economy). Trong kỷ nguyên hiện nay, kinh tế xanh không chỉ đơn thuần là trồng cây hay giảm rác thải, mà là một sự tái cấu trúc toàn bộ hệ thống:

Vốn tự nhiên: Coi thiên nhiên là một loại tài sản cần được đầu tư và quản lý, tương tự như vốn tài chính hay nhân lực. Tách rời (Decoupling): Mục tiêu cốt lõi là tách rời tăng trưởng kinh tế khỏi sự suy thoái môi trường. Nghĩa là GDP vẫn có thể tăng nhưng lượng khí thải và tiêu thụ tài nguyên phải giảm xuống. Việc làm xanh: Tạo ra các ngành nghề mới trong lĩnh vực năng lượng sạch, nông nghiệp hữu cơ và công nghệ môi trường.

Nhìn lại hành trình hơn 60 năm, có thể thấy nguồn gốc của khái niệm nền kinh tế xanh là một cuộc cách mạng về nhận thức. Nó bắt đầu từ nỗi sợ hãi về sự sụp đổ (thập niên 70), đi qua giai đoạn định hình lý thuyết (thập niên 80-90) và trở thành giải pháp sống còn trong cuộc khủng hoảng hiện đại.

Kinh tế xanh không phải là một điểm đến cố định mà là một quá trình liên tục điều chỉnh hành vi của con người để hài hòa với các quy luật của tự nhiên. Với những người đã chứng kiến nhiều biến động của lịch sử và sự thay đổi của đất nước, chúng ta hiểu rằng sự phát triển đích thực không phải là những con số tăng trưởng hào nhoáng, mà là sự bền vững của nguồn nước, sự trong lành của bầu không khí và sự trường tồn của những cánh rừng cho thế hệ mai sau./.

Nguồn: Doanh nghiệp và Kinh tế xanh

21/05/2026

Tín chỉ carbon: Thị trường tỷ USD và lớp tài sản đầu tư tiềm năng mới

21/05/2026

Cơ chế CBAM của EU và bước ngoặt lịch sử của thương mại xanh

Cơ chế CBAM của EU bước vào giai đoạn vận hành chính thức với mức giá 75,36 euro/tấn CO₂ ngay từ quý đầu năm 2026. Cùng với cơ chế phạt lũy tiến cho giá trị phát thải mặc định, điều này không chỉ đơn thuần là một công cụ thuế carbon biên giới, mà đang thiết lập lại hệ số cạnh tranh trong thương mại toàn cầu, theo hướng dịch chuyển lợi thế sang những nước có năng lực kiểm kê khí nhà kính (MRV) bài bản và tỷ trọng năng lượng tái tạo cao...

Một cú rẽ lịch sử trong quan hệ thương mại quốc tế đang diễn ra. Không còn là những dự thảo hay giai đoạn thử nghiệm, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU) đã chính thức bước vào giai đoạn thực thi từ ngày 1/1/2026 với nghĩa vụ tài chính rõ ràng.

BIẾN ĐỘNG THỊ TRƯỜNG HỆ THỐNG GIAO DỊCH KHÍ THẢI

Thị trường carbon nội khối EU (EU ETS) đóng vai trò là thước đo phản chiếu trực tiếp cho xu hướng giá của CBAM, bởi cơ chế định giá chứng chỉ CBAM được neo theo giá đấu giá bình quân trên thị trường này.

Tính đến đầu tháng 5/2026, giá khí thải (EU Allowance – EUA) giao dịch quanh mức 74 euro/tấn CO₂, giảm khoảng 15% so với mức đỉnh đầu năm. Sự điều chỉnh giảm này cho thấy tác động tổng hợp của các yếu tố kỹ thuật sau giai đoạn tăng nóng trước đó, cùng với những bất ổn địa chính trị khiến dòng vốn đầu cơ rút bớt khỏi thị trường carbon.

Mặc dù vậy, các dự báo trung hạn vẫn cho thấy xu hướng phục hồi và tăng giá. Kết quả khảo sát từ Reuters cho thấy các quỹ đầu tư và ngân hàng lớn dự báo giá EUA trung bình đạt 80,61 euro/tấn vào năm 2026 và 93,29 euro/tấn vào năm 2027.

Điểm nghẽn quan trọng nhất quyết định xu hướng giá lại nằm ở phía nguồn cung. EU vừa thực hiện một động thái can thiệp mang tính "lấy tương lai cứu hiện tại". Cụ thể, Ủy ban châu Âu đã quyết định rút 14 triệu hạn ngạch từ Kho dự trữ ổn định thị trường (MSR) của các năm 2027- 2030 để bơm bổ sung vào thị trường năm 2026.

Thoạt nhìn, đó là một giải pháp hạ nhiệt giá trong ngắn hạn, giúp các doanh nghiệp sản xuất nội khối tránh bị sốc chi phí. Nhưng đây thực chất là một tín hiệu báo trước về sự khan hiếm có lộ trình. Khi lượng hạn ngạch được vay mượn từ tương lai không còn nữa, bước sang năm 2027, áp lực từ nhu cầu bắt buộc sẽ đẩy giá lên rất mạnh. Nhận định này phù hợp với dự báo một số chuyên gia khi cho rằng giá carbon có khả năng tăng vọt sau năm 2027, ngay khi giai đoạn điều chỉnh tạm thời kết thúc.

Bên cạnh các yếu tố cung-cầu nội tại, giá carbon châu Âu còn đang bị "neo" chặt vào biến động của thị trường khí đốt tự nhiên. Trong cơ cấu vận hành hiện tại, khi giá khí đốt tăng cao, các nhà máy điện có xu hướng quay sang sử dụng than, làm gia tăng nhu cầu mua tín chỉ carbon để bù đắp cho lượng phát thải lớn hơn, qua đó đẩy giá EUA đi lên và ngược lại. Hệ quả là thị trường carbon vẫn đang vận hành như một "hàm số" của thị trường năng lượng hóa thạch.

Tuy nhiên, giai đoạn 2027-2030 được dự báo sẽ chứng kiến sự “cởi trói” dần khỏi cơ chế này. Lý do là bởi cơ cấu người mua trên thị trường EU ETS sẽ chuyển dịch căn bản: nhu cầu mua hạn ngạch không còn đến chủ yếu từ lĩnh vực năng lượng (với mục đích chuyển dịch nhiên liệu giữa than và khí) mà chuyển sang từ chính lĩnh vực công nghiệp thực thụ, nơi các nhà sản xuất thép, xi măng, nhôm, phân bón buộc phải mua tín chỉ để bù đắp cho phần phát thải không thể cắt giảm bằng công nghệ hiện có.

Sự dịch chuyển cơ cấu cầu này sẽ khiến giá carbon trở nên ít biến động theo chu kỳ khí đốt hơn, đồng thời gia tăng áp lực tăng giá trong dài hạn khi các ngành công nghiệp nặng bắt đầu cạnh tranh gay gắt để có đủ hạn ngạch cho sản xuất.

CBAM CHÍNH THỨC: GIÁ CHỨNG CHỈ VÀ CẤU TRÚC PHẠT TỪ GIÁ TRỊ MẶC ĐỊNH

Ngày 7/4/2026, Ủy ban châu Âu công bố mức giá chứng chỉ CBAM chính thức đầu tiên cho quý I/2026 ở mức 75,36 euro/tấn CO₂, được tính bằng giá trung bình các phiên đấu giá EU ETS trong 3 tháng đầu năm.

Các mức giá cho quý II, III, IV sẽ lần lượt được công bố vào tháng 7, tháng 10/2026 và tháng 1/2027. Nhà nhập khẩu sẽ bắt đầu mua chứng chỉ từ tháng 2/2027 và nộp lần đầu chậm nhất vào ngày 30/9/2027 cho lượng hàng nhập khẩu của cả năm 2026.

Con số 75,36 euro chỉ là một mặt của bài toán. Yếu tố quyết định sức cạnh tranh nằm ở cơ chế xác định lượng phát thải, cụ thể là sự phân đôi giữa giá trị thực tế và giá trị mặc định.

Nếu nhà xuất khẩu không cung cấp được dữ liệu phát thải thực tế đã được xác minh bởi bên thứ ba theo chuẩn EU, cơ quan hải quan sẽ áp dụng hệ số mặc định kèm theo biểu đồ phạt lũy tiến: năm 2026 cộng 10%, năm 2027 cộng 20%, từ năm 2028 cộng 30% vào hệ số cơ sở.

Hậu quả về chi phí là rất lớn. Với thép sản xuất tại một nền kinh tế đang phát triển điển hình, hệ số mặc định thường ở mức 4,32 tấn CO₂/tấn. Khi bị cộng phạt 30% từ năm 2028, con số này lên tới khoảng 5,6 tấn CO₂/tấn, trong khi một nhà máy thép hiện đại sử dụng lò điện hồ quang và năng lượng tái tạo có thể chỉ đạt 2,5 tấn CO₂/tấn. Với giá 75,36 euro/tấn, chênh lệch chi phí carbon lên tới hơn 230 euro mỗi tấn thép xuất khẩu.

Giá trị mặc định không còn là "lựa chọn đơn giản" cho các nhà xuất khẩu nhỏ mà đã trở thành một cơ chế loại trừ những nhà cung cấp thiếu năng lực kiểm kê, báo cáo và thẩm định (MRV) khí nhà kính. Khác biệt về năng lực thể chế và kỹ thuật giữa các quốc gia xuất khẩu do đó được chuyển hóa trực tiếp thành khác biệt về thuế suất carbon thực tế.

CON ĐƯỜNG ĐỂ GIẢM THIỂU TÁC ĐỘNG CỦA CBAM MỘT CÁCH CĂN CƠ

Các quốc gia như Ấn Độ, Brazil và cả Trung Quốc đã có động thái phản ứng trước vấn đề này. Lập luận của họ rất rõ: Nguyên tắc “Trách nhiệm chung nhưng có phân hóa” (Common but Differentiated Responsibilities - CBDR) trong Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC). Các nước đang phát triển cho rằng, việc EU áp thuế carbon biên giới và yêu cầu xác minh nghiêm ngặt đã vô tình tạo ra rào cản kỹ thuật mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) ở các nước nghèo không thể vượt qua.

EU đang đặt tham vọng thương mại lên hàng đầu: bất kỳ quốc gia nào muốn bán hàng vào thị trường 450 triệu dân giàu có nhất hành tinh đều phải tuân thủ luật chơi về khí hậu của họ.

Nếu năm 2026 là cú sốc với nguyên liệu thô thì năm 2028 sẽ là một cuộc đại tu toàn diện. Ủy ban Môi trường (ENVI) của Nghị viện châu Âu đã có dự thảo mở rộng CBAM thêm khoảng 180 sản phẩm.

Danh mục mới sẽ bao gồm các sản phẩm chế tác sâu như: phụ tùng ô tô, máy móc công nghiệp, kết cấu thép xây dựng, thiết bị điện, và hàng tiêu dùng kim loại. Điều này có nghĩa là một chiếc ghế văn phòng bằng thép hay khung xe đạp xuất khẩu sang châu Âu cũng sẽ phải chịu thuế carbon.

Đây là bước tiến cực kỳ tham vọng nhằm bịt kín “lỗ hổng hàng hóa trung gian”, tránh việc nhà nhập khẩu chuyển từ nhập nguyên liệu thô (dễ bị đánh thuế) sang nhập thành phẩm (chưa bị đánh thuế).

Thép tái chế là điểm gây tranh cãi nhất. Trước đây, nhiều nhà sản xuất Ấn Độ, Đông Nam Á dùng thép phế liệu tái chế (lò điện hồ quang - EAF) và cho rằng điều này “xanh” hơn lò cao truyền thống. Nay, EU đề xuất rằng carbon phát sinh từ phế liệu trước tiêu dùng (pre-consumer scrap) vẫn phải được tính vào lượng phát thải của sản phẩm cuối cùng một cách chặt chẽ. Điều này triệt tiêu lợi thế chi phí của các nhà máy tái chế nhỏ lẻ, vốn không có công nghệ lọc khí hiện đại.

Sự vận hành chính thức của CBAM với mức giá 75,36 euro/tấn CO₂ ngay từ quý đầu năm 2026, cùng với cơ chế phạt lũy tiến lên tới 30% cho giá trị phát thải mặc định từ năm 2028 không chỉ đơn thuần là một công cụ thuế carbon biên giới. Nó đang thiết lập lại toàn bộ hệ số cạnh tranh trong thương mại toàn cầu, theo hướng dịch chuyển lợi thế từ những nước xuất khẩu dựa trên năng lượng hóa thạch giá rẻ sang những nước có năng lực kiểm kê khí nhà kính (MRV) bài bản và tỷ trọng năng lượng tái tạo cao.

Giá trị mặc định thoạt nhìn là một lựa chọn đơn giản hóa nhưng trên thực tế đã trở thành một rào cản kỹ thuật phi thuế quan đối với các nền kinh tế chưa xây dựng được hạ tầng dữ liệu carbon đáng tin cậy.

Từ góc độ pháp lý đa phương, cơ chế phạt cộng dồn 30% từ năm 2028 có thể sẽ không đứng vững trước các thách thức từ WTO, đặc biệt với những lập luận về đối xử quốc gia và rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBT).

Trong bối cảnh đó, thay vì phản ứng bằng các biện pháp thuế quan đối kháng, một hướng đi thực chất hơn cho các nước xuất khẩu là tập trung vào cải cách thể chế trong nước. Việc xây dựng một hệ thống định giá carbon nội địa thực sự vận hành, sau đó đàm phán cơ chế công nhận lẫn nhau với EU, có thể là con đường để giảm thiểu tác động của CBAM một cách căn cơ, thay vì chỉ chạy theo từng đợt điều chỉnh thuế.

Nguồn: VnEconomy

Want your business to be the top-listed Government Service in Ho Chi Minh City?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Telephone

Address

Ho Chi Minh City