12/05/2026
Chế định dành cho người chưa thành niên.
Vũ Văn Hai- P Viện trưởng Viện KSND khu vực 17-TP. Hồ Chí Minh
Bình luận một số quy định về thủ tục xét xử đối với người chưa thành niên phạm tội
12/05/2026 - 10:09 | Nghiên cứu, trao đổi
Trước khi Luật Tư pháp người chưa thành niên (sau đây gọi là Luật TPNCTN) được ban hành, thủ tục xét xử đối với người chưa thành niên chủ yếu được quy định trong Chương XXVIII của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2025 (sau đây gọi là BLTTHS). Mặc dù đã có những quy định tiến bộ như bắt buộc có người đại diện tham gia tố tụng, hạn chế áp dụng tạm giam và xét xử kín trong trường hợp cần thiết, nhưng các quy định này vẫn nằm trong khuôn khổ thủ tục tố tụng chung. Do đó, môi trường xét xử, cách thức điều hành phiên tòa và phương pháp xét hỏi chưa thực sự được thiết kế phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của người chưa thành niên.
Thực tiễn xét xử những năm qua cho thấy, việc áp dụng thủ tục chung đối với người chưa thành niên có thể tạo ra áp lực tâm lý lớn, làm giảm khả năng trình bày trung thực và đầy đủ của họ tại phiên tòa. Không gian phòng xử án truyền thống, cách thức thẩm vấn nặng về buộc tội, cùng với việc công khai thông tin chưa được kiểm soát chặt chẽ trong một số trường hợp, có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển nhân cách và cơ hội tái hòa nhập xã hội của người chưa thành niên. Bên cạnh đó, cơ chế xử lý chuyển hướng trước khi đưa vụ án ra xét xử còn hạn chế, dẫn đến tình trạng một số vụ việc lẽ ra có thể giải quyết theo hướng giáo dục, phục hồi vẫn phải đưa ra xét xử chính thức.
Ngoài yêu cầu khắc phục những bất cập thực tiễn, việc hoàn thiện thủ tục xét xử còn xuất phát từ định hướng chính sách hình sự mới của Nhà nước, coi giáo dục và phục hồi là mục tiêu chủ đạo trong xử lý người chưa thành niên. Điều này đòi hỏi thủ tục xét xử không chỉ bảo đảm tính hợp pháp, khách quan mà còn phải thân thiện, dễ tiếp cận và phù hợp với lứa tuổi. Đồng thời, Việt Nam là quốc gia thành viên của Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em, trong đó yêu cầu các quốc gia thiết lập hệ thống tư pháp riêng đối với trẻ em, bảo đảm thủ tục phù hợp và hạn chế tối đa việc tước tự do. Những yêu cầu này tạo áp lực cải cách mạnh mẽ đối với thiết kế thủ tục xét xử trong pháp luật quốc gia.
Trong bối cảnh đó, Luật TPNCTN năm 2024 đã thiết lập một khuôn khổ pháp lý chuyên biệt về thủ tục xét xử theo hướng tố tụng thân thiện, ưu tiên xử lý chuyển hướng và hạn chế tối đa việc áp dụng biện pháp tước tự do. Có thể khẳng định, các quy định mới về thủ tục xét xử không chỉ là sự điều chỉnh kỹ thuật lập pháp mà còn phản ánh sự chuyển biến căn bản trong tư duy tư pháp, từ mô hình xét xử mang tính trừng phạt sang mô hình phục hồi, lấy lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên làm trung tâm.
1. Nhận xét một số quy định về thủ tục xét xử đối với người chưa thành niên phạm tội
1.1. Điều kiện cho Hội đồng xét xử trong các vụ án có người chưa thành niên phạm tội
Quy định về Hội đồng xét xử trong các vụ án hình sự có người chưa thành niên phạm tội được thiết kế theo hướng bảo đảm tính chuyên môn hóa và phù hợp với đặc thù tâm lý của đối tượng này. Theo đó, những người tiến hành tố tụng như Thẩm phán phải đáp ứng các điều kiện nhất định như đã được đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng giải quyết các vụ án liên quan đến người chưa thành niên, có kinh nghiệm thực tiễn hoặc được trang bị kiến thức về tâm lý học, khoa học giáo dục người chưa thành niên. Đặc biệt, đối với thành phần Hội thẩm tham gia xét xử sơ thẩm, pháp luật yêu cầu phải có ít nhất một Hội thẩm là giáo viên, cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoặc người có kinh nghiệm trong các lĩnh vực liên quan đến quản lý, giáo dục, bảo vệ, chăm sóc người chưa thành niên, hoặc đã được đào tạo về tâm lý học, giáo dục học. Quy định này nhằm bảo đảm rằng hoạt động xét xử không chỉ thuần túy dựa trên yếu tố pháp lý mà còn kết hợp với hiểu biết về tâm lý, giáo dục, từ đó góp phần đưa ra quyết định phù hợp, bảo đảm mục tiêu giáo dục, hỗ trợ phục hồi và tái hòa nhập xã hội đối với người chưa thành niên phạm tội.
Tuy nhiên, hiện nay, số lượng thẩm phán, hội thẩm có chuyên môn sâu về tâm lý học trẻ em, giáo dục học hoặc công tác xã hội còn hạn chế, trong khi đây là những yếu tố quan trọng để bảo đảm việc áp dụng các biện pháp xử lý mang tính giáo dục, phục hồi đối với người chưa thành niên. Mặc dù pháp luật đã đặt ra yêu cầu về việc những người tiến hành tố tụng phải được đào tạo tâm lý học và khoa học giáo dục người chưa thành niên, nhưng trên thực tế, nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu này chưa nhiều và phân bố không đồng đều giữa các địa phương.
1.2. Thủ tục xét xử chuyên biệt và mô hình tòa án thân thiện
BLTTHS chỉ ghi nhận yêu cầu xét xử thân thiện đối với người chưa thành niên ở mức nguyên tắc, chưa thiết lập các tiêu chuẩn cụ thể về tổ chức phiên tòa, phương thức điều hành và cách thuức thể hiện của người tiến hành tố tụng. Trong khi đó, Luật TPNCTN đã cụ thể hóa thành chuẩn mực bắt buộc. Luật quy định về không gian phòng xử án, cách bố trí chỗ ngồi, trang phục của người tiến hành tố tụng, phương thức xét hỏi đều được định hướng theo tiêu chí thân thiện, giảm căng thẳng, tạo điều kiện để người chưa thành niên trình bày trung thực và đầy đủ. Điều 151 quy định phiên tòa phải được tổ chức theo thủ tục xét xử thân thiện, hạn chế tối đa tác động tiêu cực đến tâm lý của người chưa thành niên, đồng thời yêu cầu Thẩm phán chủ tọa mặc trang phục hành chính của Tòa án và Kiểm sát viên mặc trang phục phù hợp, không mặc trang phục Kiểm sát nhân dân. Quy định mới xác lập một nguyên tắc tố tụng quan trọng: người chưa thành niên khi tham gia phiên tòa phải được bảo đảm nhân phẩm, danh dự và sự ổn định tâm lý. Việc không sử dụng còng tay hay các biện pháp cưỡng chế công khai tại phiên tòa giúp giảm áp lực tâm lý, hạn chế sự xấu hổ trước cộng đồng và tạo điều kiện để họ hợp tác, trình bày trung thực. Điều này phù hợp với định hướng xây dựng mô hình “tòa án thân thiện”, lấy lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên làm trung tâm. Tuy nhiên, luật vẫn dự liệu ngoại lệ trong trường hợp người chưa thành niên có hành vi chống đối, gây rối trật tự hoặc có nguy cơ gây nguy hiểm. Quy định này bảo đảm sự cân bằng giữa yêu cầu nhân đạo và yêu cầu bảo đảm an ninh, trật tự phiên tòa. Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế trong trường hợp ngoại lệ phải dựa trên đánh giá cụ thể, cần thiết và tương xứng, tránh lạm dụng.
Tuy nhiên, quy định hiện hành vẫn còn một số điểm chưa thật sự rõ ràng, có thể gây khó khăn trong thực tiễn áp dụng. Trước hết, khái niệm “trang phục phù hợp” đối với Kiểm sát viên chưa được giải thích hoặc hướng dẫn cụ thể trong các văn bản pháp luật. Điều này có thể dẫn đến những cách hiểu và cách áp dụng khác nhau giữa các địa phương, làm giảm tính thống nhất trong tổ chức phiên tòa thân thiện. Trong khi đó, đối với luật sư hoặc người bào chữa, pháp luật hiện hành quy định khi tham gia phiên tòa phải mặc trang phục theo quy định của Liên đoàn Luật sư Việt Nam.
Bên cạnh đó, pháp luật cũng chưa có quy định rõ ràng về sự tham gia của lực lượng hỗ trợ tư pháp tại phiên tòa thân thiện. Trong thực tiễn, sự hiện diện của lực lượng này là cần thiết để bảo đảm an ninh, trật tự phiên tòa; tuy nhiên, nếu sử dụng sắc phục mang tính chất nghiêm trang hoặc mang yếu tố cưỡng chế cao có thể ảnh hưởng đến không khí thân thiện của phiên tòa. Do đó, việc thiếu quy định cụ thể về sự tham gia và trang phục của lực lượng hỗ trợ tư pháp có thể dẫn đến sự không thống nhất trong thực tiễn tổ chức phiên tòa.
1.3. Cơ chế bảo đảm quyền và sự tham gia của người đại diện, người làm công tác xã hội
So với cơ chế truyền thống thiên về thủ tục theo BLTTHS năm 2015, quy định mới của Luật năm 2024 đã mở rộng phạm vi bảo vệ quyền theo hướng toàn diện hơn, kết hợp giữa yếu tố pháp lý và yếu tố xã hội. Đây là biểu hiện rõ nét của mô hình tư pháp phục hồi, đặt người chưa thành niên vào vị trí trung tâm của quá trình xét xử và tái hòa nhập.
Thứ nhất, luật quy định rõ trách nhiệm của người đại diện hợp pháp trong việc bảo vệ lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên tại phiên tòa, không chỉ dừng lại ở việc chứng kiến hay xác nhận thủ tục tố tụng. Người đại diện được tạo điều kiện phát biểu ý kiến về điều kiện sống, quá trình giáo dục, nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm và khả năng phục hồi của người chưa thành niên. Điều này giúp Hội đồng xét xử có cái nhìn toàn diện, nhân văn hơn khi quyết định biện pháp xử lý.
Thứ hai, đối với người làm công tác xã hội, Điều 150 của Luật ghi nhận địa vị người tham gia tố tụng là một bước tiến quan trọng. Họ có thể cung cấp thông tin chuyên môn về đặc điểm tâm lý, điều kiện phát triển, môi trường sống và khả năng phục hồi của người chưa thành niên; đồng thời đề xuất các biện pháp giáo dục, hỗ trợ phù hợp. Sự tham gia này giúp chuyển trọng tâm của phiên tòa từ việc chỉ xác định trách nhiệm pháp lý sang việc đánh giá nhu cầu hỗ trợ và tái hòa nhập.
Đặc biệt, cơ chế mới hướng tới sự tham gia mang tính xuyên suốt của người làm công tác xã hội, bảo đảm tính liên tục giữa các giai đoạn tố tụng và giai đoạn thi hành biện pháp xử lý. Chẳng hạn, trong các vụ án có dấu hiệu sang chấn tâm lý, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn hoặc có đề xuất áp dụng biện pháp phục hồi thay thế hình phạt tù, sự vắng mặt của người làm công tác xã hội có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tính toàn diện của việc xem xét vụ án. Khi đó, việc hoãn phiên tòa có thể là cần thiết để bảo đảm quyền lợi của người chưa thành niên. Đây là biểu hiện của cách tiếp cận liên ngành, kết hợp giữa pháp luật, tâm lý học và công tác xã hội trong tư pháp người chưa thành niên.
Tuy nhiên các quy định hiện hành vẫn còn nhiều khoảng trống pháp lý liên quan đến tiêu chuẩn, phạm vi và địa vị tham gia tố tụng của người làm công tác xã hội.
Về mặt xác định chủ thể, Công văn số 92/TANDTC-PC ngày 12/02/2025 của Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng thống nhất một số quy định của Luật TPNCTN hướng dẫn trường hợp tại địa phương chưa có danh sách người làm công tác xã hội trong hoạt động tư pháp người chưa thành niên thì Tòa án đề nghị người làm công tác xã hội quy định tại Điều 7 của Nghị định số 110/2024/NĐ-CP ngày 30/8/2024 về công tác xã hội tham gia tố tụng. Tuy nhiên, quy định này mang tính khái quát, chỉ dừng lại ở việc xác định người làm công tác xã hội mà chưa đặt ra các tiêu chí cụ thể về trình độ chuyên môn hoặc kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực tư pháp người chưa thành niên. Điều này dẫn đến cách hiểu rộng, theo đó người làm công tác xã hội trong các lĩnh vực không trực tiếp liên quan đến tư pháp (như y tế, giáo dục) về mặt lý thuyết vẫn có thể được tham gia tố tụng. Việc thiếu tiêu chuẩn chuyên môn cụ thể có thể ảnh hưởng đến chất lượng ý kiến tư vấn và tính phù hợp của các đề xuất đối với quá trình giải quyết vụ án.
Bên cạnh đó, pháp luật tố tụng hình sự hiện hành chưa xác định rõ địa vị pháp lý của người làm công tác xã hội khi tham gia phiên tòa. BLTTHS chưa có quy định riêng về chủ thể này trong hệ thống những người tham gia tố tụng, dẫn đến khó khăn trong việc xác định họ thuộc người tham gia tố tụng nào theo quy định tại Điều 55 hay một chủ thể độc lập có chức năng hỗ trợ tư pháp. Việc chưa làm rõ tư cách pháp lý kéo theo hệ quả là chưa xác định được đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ, cũng như giá trị pháp lý của ý kiến mà họ trình bày tại phiên tòa.
Hơn nữa, pháp luật cũng chưa làm rõ hệ quả pháp lý trong trường hợp người làm công tác xã hội không tham gia hoặc không trình bày ý kiến tại phiên tòa. Người làm công tác xã hội không phải là chủ thể của hoạt động tranh tụng nên không có quyền tham gia tranh luận, đồng thời cũng không tham gia hoạt động xét hỏi với tư cách chủ động như Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên hay người bào chữa. Sự tham gia của họ chủ yếu mang tính hỗ trợ, được thực hiện thông qua việc trình bày ý kiến khi được Hội đồng xét xử yêu cầu nhằm làm rõ các vấn đề liên quan đến đặc điểm tâm lý, hoàn cảnh gia đình và khả năng giáo dục, phục hồi của bị cáo. Do đó, ý kiến của người làm công tác xã hội được đặt trong giai đoạn xét hỏi của phiên tòa, với tính chất là nguồn thông tin tham khảo quan trọng phục vụ việc đánh giá toàn diện nhân thân người chưa thành niên, chứ không phải là chứng cứ theo nghĩa chặt chẽ cũng như không thuộc nội dung tranh luận. Hiện nay, việc thiếu sự tham gia của chủ thể này chưa được coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, dẫn đến khả năng vai trò của họ bị xem nhẹ trong thực tiễn. Trong khi đó, đối với những vụ án có người chưa thành niên, đặc biệt là các trường hợp có yếu tố tâm lý phức tạp hoặc hoàn cảnh gia đình đặc biệt, sự tham gia của người làm công tác xã hội có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm đánh giá toàn diện về nhân thân và khả năng phục hồi của bị cáo.
1.4. Biện pháp xử lý chuyển hướng trước và trong xét xử
Điều 36 của Luật quy định 12 biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên. Việc ưu tiên áp dụng xử lý chuyển hướng là một sự tiến bộ trong tư pháp hình sự không phải chỉ đối với người chưa thành niên phạm tội mà còn đối với cả bị hại. Điều quan trọng nhất của xử lý chuyển hướng đó là khôi phục lại cho bị cáo và bị hại giá trị ban đầu của họ, được phát triển lành mạnh, bù đắp, chữa lành các tổn thương. Việc người chưa thành niên được xử lý chuyển hướng và đưa ra ngoài quy trình tố tụng hình sự sớm có thể sẽ giảm đáng kể tình trạng người chưa thành niên tái vi phạm pháp luật trong tương lai.
Luật xác định rõ: ngay trong giai đoạn xét xử, nếu Hội đồng xét xử nhận thấy người chưa thành niên có đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng thì có thể ra quyết định áp dụng biện pháp này đối với bị cáo. Quyết định phải bảo đảm các nội dung theo khoản 1 Điều 56 của Luật (trừ nội dung đình chỉ vụ án đối với bị cáo) và có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quy định này cho thấy xử lý chuyển hướng không chỉ là cơ chế tiền tố tụng mà còn là một giải pháp thay thế ngay tại phiên tòa, mở rộng cơ hội phục hồi cho người chưa thành niên, đảm bảo vừa xử lý hành vi vi phạm vừa can thiệp vào nguyên nhân xã hội và tâm lý dẫn đến hành vi đó. So với cách tiếp cận truyền thống theo BLHS – vốn đặt trọng tâm vào việc xác định tội danh và quyết định hình phạt – luật mới cho phép Tòa án linh hoạt chuyển từ mô hình xét xử kết tội sang mô hình xử lý phục hồi khi điều kiện cho phép.
Đáng chú ý, trong trường hợp cần xây dựng hoặc bổ sung kế hoạch xử lý chuyển hướng, Hội đồng xét xử có quyền tạm ngừng phiên tòa và đề nghị người làm công tác xã hội xây dựng hoặc hoàn thiện kế hoạch. Thời hạn tạm ngừng không quá 10 ngày kể từ ngày ra quyết định tạm ngừng phiên tòa; hết thời hạn này, Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Cơ chế này một mặt bảo đảm quyết định áp dụng biện pháp chuyển hướng được xây dựng trên cơ sở đánh giá chuyên môn đầy đủ, tránh hình thức hoặc áp dụng mang tính cảm tính; một mặt vẫn duy trì yêu cầu bảo đảm hiệu quả tố tụng thông qua việc giới hạn thời gian tạm ngừng (không quá 10 ngày), tránh kéo dài vụ án.
Tuy nhiên, ở nhiều địa phương, hệ thống dịch vụ hỗ trợ như tư vấn tâm lý, chương trình giáo dục phục hồi hoặc công việc phục vụ cộng đồng chưa được tổ chức đầy đủ, dẫn đến việc lựa chọn và triển khai biện pháp chuyển hướng còn hạn chế. Bên cạnh đó, cơ chế phối hợp giữa Tòa án với các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức xã hội và đội ngũ người làm công tác xã hội trong việc xây dựng kế hoạch xử lý chuyển hướng chưa thật sự đồng bộ, làm giảm hiệu quả của cơ chế phục hồi mà luật hướng tới.
Ngoài ra, theo quy định, Tòa án có thẩm quyền xem xét và quyết định việc áp dụng chuyển hướng đối với người chưa thành niên phạm tội khi xét thấy đủ điều kiện. Tuy nhiên, pháp luật chưa quy định cụ thể về trách nhiệm và vai trò của các cơ quan tiến hành tố tụng khác, đặc biệt là Viện kiểm sát – cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố, giữ vai trò truy tố bị can ra trước Tòa án và buộc tội tại phiên tòa. Khi vụ án đã được đưa ra xét xử, việc Hội đồng xét xử có thể quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng – thay vì tuyên một bản án kết tội – làm xuất hiện khả năng “chuyển hướng” kết quả tố tụng mà không phụ thuộc hoàn toàn vào quan điểm buộc tội của Viện kiểm sát. Trong khi đó, theo quy định tại Điều 151 Luật TPNCTN, người làm công tác xã hội lại có quyền đề xuất áp dụng chuyển hướng trên cơ sở đánh giá về nhân thân và khả năng phục hồi của người chưa thành niên. Điều này cho thấy trung tâm của quá trình xét xử không còn chỉ xoay quanh việc chứng minh tội phạm và trách nhiệm hình sự, mà đã chuyển sang cân nhắc giải pháp xử lý tối ưu cho người chưa thành niên.
Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định rõ vai trò của Viện kiểm sát trong việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại phiên tòa. Trên thực tế, với tư cách là một bên tiến hành tố tụng, Kiểm sát viên hoàn toàn có thể phát biểu quan điểm về việc áp dụng chuyển hướng như một nội dung trong luận tội hoặc phát biểu tranh luận. Song, việc đề nghị này không được xác định rõ là một quyền tố tụng độc lập, cũng chưa được làm rõ về giá trị pháp lý trong mối quan hệ với quyết định truy tố trước đó.
Tại phiên tòa, khi xét thấy bị cáo là người chưa thành niên có đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng (như tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có khả năng giáo dục, phục hồi…), Kiểm sát viên có quyền và cần thiết phải đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng biện pháp này thay cho việc xử lý bằng hình phạt. Tuy nhiên cần làm rõ liệu đây có được coi là sự thay đổi hoặc rút một phần quyết định truy tố hay không. Về bản chất, xử lý chuyển hướng không phải là tuyên bị cáo vô tội, mà là một cơ chế thay thế xử lý hình sự theo hướng giáo dục, phục hồi. Do đó, việc đề nghị áp dụng chuyển hướng không đồng nghĩa với việc Viện kiểm sát từ bỏ quyền buộc tội, mà là sự điều chỉnh cách thức xử lý trách nhiệm pháp lý theo hướng phù hợp hơn với đặc thù của người chưa thành niên. Tuy nhiên, do chưa có quy định rõ ràng, vấn đề này có thể dẫn đến cách hiểu và áp dụng không thống nhất trong thực tiễn.
Từ góc độ dài hạn, việc trao thẩm quyền rộng hơn cho Tòa án trong việc quyết định áp dụng xử lý chuyển hướng, cùng với sự tham gia tích cực của người làm công tác xã hội, có thể làm thay đổi tương quan vai trò giữa các chủ thể trong tố tụng hình sự. Vai trò của Viện kiểm sát trong mô hình truyền thống – với trọng tâm là buộc tội và đề nghị hình phạt – có thể bị thu hẹp tương đối trong những vụ án mà mục tiêu chính là phục hồi và tái hòa nhập. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc làm suy giảm vị trí của Viện kiểm sát, mà đặt ra yêu cầu chuyển đổi phương thức thực hành quyền công tố theo hướng “công tố vì lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên”, trong đó Kiểm sát viên không chỉ thực hiện chức năng buộc tội mà còn chủ động đề xuất các giải pháp xử lý phù hợp, bao gồm cả việc áp dụng biện pháp chuyển hướng khi có đủ điều kiện.
2.5. Thời hạn giải quyết vụ án có người chưa thành niên phạm tội
Luật TPNCTN quy định rút ngắn thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm và phúc thẩm đối với vụ án có người chưa thành niên bị buộc tội. Theo đó, thời hạn này không quá một phần hai thời hạn áp dụng đối với người trưởng thành, trừ trường hợp vụ án có tính chất phức tạp thì được thực hiện theo quy định của BLTTHS.
Quy định này phản ánh rõ nguyên tắc giải quyết nhanh chóng, kịp thời các vụ án liên quan đến người chưa thành niên. Khác với người trưởng thành, người chưa thành niên đang trong giai đoạn phát triển mạnh về thể chất và tâm lý; việc kéo dài tố tụng có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến học tập, sinh hoạt, sự ổn định tâm lý và quá trình hình thành nhân cách. Do đó, rút ngắn thời hạn tố tụng không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn là biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên.
So với cơ chế trong BLTTHS năm 2015, thời hạn chuẩn bị xét xử đối với người chưa thành niên trước đây về cơ bản vẫn áp dụng theo khung thời hạn chung, chỉ có một số quy định mang tính ưu tiên. Luật mới đã nâng yêu cầu này thành nguyên tắc rõ ràng, mang tính bắt buộc tương đối, qua đó tăng cường trách nhiệm của Tòa án trong việc xử lý nhanh chóng, tránh kéo dài không cần thiết.
Tuy nhiên, luật cũng dự liệu ngoại lệ đối với những vụ án có tính chất phức tạp, cho phép áp dụng thời hạn theo BLTTHS năm 2015. Cách thiết kế này bảo đảm sự cân bằng giữa yêu cầu rút ngắn tố tụng và yêu cầu giải quyết vụ án toàn diện, khách quan. Việc xác định “tính chất phức tạp” cần được áp dụng thận trọng, tránh lạm dụng làm mất ý nghĩa của quy định rút ngắn thời hạn.
Pháp luật hiện hành chưa đưa ra tiêu chí cụ thể để xác định thế nào là “tính chất phức tạp” trong các vụ án có người chưa thành niên. Việc thiếu vắng các tiêu chí định lượng hoặc định tính rõ ràng dẫn đến tình trạng các cơ quan tiến hành tố tụng có thể vận dụng khác nhau, phụ thuộc vào nhận định chủ quan, từ đó làm giảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật.
Bên cạnh đó, trong một số trường hợp, việc viện dẫn lý do “tính chất phức tạp” để áp dụng thời hạn tố tụng theo quy định của BLTTHS có thể bị lạm dụng, đặc biệt trong bối cảnh áp lực về tiến độ giải quyết án hoặc hạn chế về nguồn lực. Điều này vô hình trung làm suy giảm ý nghĩa của quy định rút ngắn thời hạn tố tụng đối với người chưa thành niên, vốn được thiết kế nhằm bảo đảm giải quyết nhanh chóng, hạn chế tối đa tác động tiêu cực của quá trình tố tụng đối với sự phát triển tâm lý và nhân cách của họ.
2. Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về thủ tục xét xử đối với người chưa thành niên phạm tội
2.1. Nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm tham gia xét xử các vụ án có người chưa thành niên
Để đáp ứng các điều kiện về Thẩm phán, Hội thẩm cho phiên tòa xét xử các vụ án người chưa thành niên, cần thiết phải tăng cường chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về tư pháp người chưa thành niên cho đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm. Việc đào tạo không chỉ dừng lại ở kiến thức pháp luật mà cần tích hợp các nội dung về tâm lý học trẻ em, khoa học giáo dục, công tác xã hội và kỹ năng xét xử thân thiện. Đồng thời, cần xây dựng các chương trình đào tạo bắt buộc, thường xuyên và có đánh giá chất lượng, bảo đảm những người được phân công giải quyết các vụ án này thực sự đáp ứng yêu cầu chuyên môn.
2.2. Hoàn thiện pháp luật theo hướng cụ thể hóa quy định về trang phục và sự tham gia của các chủ thể tại phiên tòa thân thiện đối với người chưa thành niên
Cần ban hành văn bản hướng dẫn quy định cụ thể theo hướng: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa thân thiện không mặc trang phục ngành mang tính nghi lễ, mà sử dụng trang phục công sở lịch sự, màu sắc trung tính, không tạo cảm giác quyền lực, căng thẳng. Đồng thời, cần bổ sung nội dung này vào quy chế nghiệp vụ của ngành Kiểm sát để bảo đảm tính ràng buộc trong thực hiện. Giải pháp này trực tiếp khắc phục tình trạng áp dụng không thống nhất hiện nay, qua đó giảm áp lực tâm lý, tăng khả năng giao tiếp và hợp tác của người chưa thành niên tại phiên tòa. Việc cụ thể hóa tiêu chí này sẽ góp phần bảo đảm sự thống nhất trong áp dụng giữa các địa phương, đồng thời phù hợp với mục tiêu xây dựng môi trường xét xử thân thiện.
Bên cạnh đó, đối với lực lượng hỗ trợ tư pháp, cần bổ sung quy định cụ thể trong các văn bản hướng dẫn tố tụng về những trường hợp được phép bố trí lực lượng này tại phiên tòa thân thiện, theo hướng chỉ áp dụng khi có căn cứ rõ ràng về nguy cơ mất an ninh, trật tự hoặc do tính chất phức tạp của vụ án. Đồng thời, pháp luật cần quy định rõ không bố trí lực lượng vũ trang công khai trong phòng xử án đối với các vụ án có người chưa thành niên, trừ trường hợp đặc biệt; trong trường hợp thực sự cần thiết phải bố trí thì sử dụng trang phục công sở hoặc thường phục, không mang theo công cụ hỗ trợ lộ diện và bố trí vị trí ngoài tầm quan sát trực tiếp của bị cáo. Việc cụ thể hóa các nội dung này nhằm khắc phục tình trạng môi trường phiên tòa còn mang nặng tính cưỡng chế, gây áp lực tâm lý đối với người chưa thành niên, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục, hỗ trợ phục hồi và bảo đảm đúng định hướng xây dựng phiên tòa thân thiện.
2.3. Tiếp tục hoàn thiện quy định về sự tham gia của người làm công tác xã hội
Thứ nhất, pháp luật cần thu hẹp phạm vi người làm công tác xã hội được tham gia tố tụng trong trường hợp tại địa phương chưa có danh sách người làm công tác xã hội trong hoạt động tư pháp người chưa thành niên theo hướng ưu tiên những người có chuyên môn và kinh nghiệm trong lĩnh vực người chưa thành niên, giáo dục hoặc tư pháp, đồng thời bổ sung các tiêu chuẩn bắt buộc về trình độ, đào tạo và kinh nghiệm thực tiễn như: có trình độ chuyên môn phù hợp (công tác xã hội, tâm lý học, giáo dục học hoặc lĩnh vực liên quan), được đào tạo hoặc bồi dưỡng về tư pháp người chưa thành niên, có kinh nghiệm thực tiễn trong việc làm việc với người chưa thành niên vi phạm pháp luật. Bên cạnh đó, cần chấm dứt tình trạng vận dụng mang tính tạm thời thông qua các văn bản hướng dẫn như Công văn số 92/TANDTC-PC bằng việc thiết lập cơ chế xây dựng và quản lý danh sách người làm công tác xã hội đủ điều kiện tham gia tố tụng trên phạm vi toàn quốc. Do đó, cần thiết ban hành một Thông tư liên tịch giữa Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan hành chính có liên quan nhằm quy định thống nhất về tiêu chuẩn, trình tự lựa chọn, phạm vi tham gia, cũng như cơ chế phối hợp trong việc sử dụng người làm công tác xã hội trong tố tụng đối với người chưa thành niên. Việc ban hành Thông tư liên tịch không chỉ góp phần khắc phục tình trạng áp dụng không thống nhất giữa các địa phương mà còn nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm và hiệu quả trong thực tiễn thi hành. Chỉ khi đó, vai trò của người làm công tác xã hội mới thực sự phát huy hiệu quả trong việc hỗ trợ Tòa án đánh giá toàn diện nhân thân và khả năng phục hồi của người chưa thành niên, phù hợp với định hướng phát triển mô hình tư pháp phục hồi ở Việt Nam.
Thứ hai, cần bổ sung quy định trong BLTTHS nhằm xác định rõ địa vị pháp lý của người làm công tác xã hội. Theo đó, có thể thiết kế chủ thể này theo hướng là một người tham gia tố tụng, có vị trí độc lập với các chủ thể đã được quy định tại Điều 55 BLTTHS. Trên cơ sở đó, pháp luật cần quy định rõ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ, bao gồm quyền thu thập, cung cấp thông tin liên quan đến nhân thân người chưa thành niên, quyền trình bày ý kiến chuyên môn tại phiên tòa, quyền đề xuất áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng; đồng thời phải chịu trách nhiệm về tính trung thực, khách quan của nội dung cung cấp.
Thứ ba, cần thiết lập cơ chế xác định các trường hợp bắt buộc phải có sự tham gia của người làm công tác xã hội. Đối với những vụ án có yếu tố đặc thù như người chưa thành niên có dấu hiệu sang chấn tâm lý, hoàn cảnh gia đình đặc biệt, hoặc khi xem xét áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, việc vắng mặt của người làm công tác xã hội cần được coi là thiếu sót tố tụng có thể ảnh hưởng đến tính toàn diện của việc giải quyết vụ án. Trong các trường hợp này, Tòa án cần có trách nhiệm hoãn phiên tòa hoặc yêu cầu bổ sung sự tham gia của chủ thể này.
Thứ tư, cần hoàn thiện cơ chế tổ chức thực hiện, trong đó quy định rõ trách nhiệm của Tòa án trong việc lập và sử dụng danh sách người làm công tác xã hội tại địa phương, hạn chế tình trạng vận dụng mang tính tạm thời theo hướng dẫn tại Công văn số 92/TANDTC-PC. Đồng thời, cần thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án, Viện kiểm sát và các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội nhằm bảo đảm việc phân công và sử dụng người làm công tác xã hội được thực hiện kịp thời, hiệu quả.
Thứ năm, về lâu dài, cần nghiên cứu xây dựng cơ chế bắt buộc lập báo cáo điều tra xã hội đối với các vụ án có người chưa thành niên, do người làm công tác xã hội thực hiện, làm cơ sở cho việc đề xuất và quyết định áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp. Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng xét xử theo hướng toàn diện, nhân văn và phù hợp với định hướng phát triển mô hình tư pháp phục hồi.
2.4. Làm rõ vị trí, vai trò của Viện kiểm sát, người bào chữa trong việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại phiên tòa
Trước hết, cần quy định rõ quyền của Viện kiểm sát trong việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng như một nội dung chính thức của hoạt động thực hành quyền công tố, bảo đảm Kiểm sát viên không chỉ thực hiện chức năng buộc tội mà còn chủ động đề xuất phương thức xử lý phù hợp với đặc thù của người chưa thành niên. Đồng thời, cần làm rõ mối quan hệ giữa đề nghị áp dụng chuyển hướng với quyết định truy tố, theo đó khẳng định việc đề nghị áp dụng chuyển hướng không phải là rút hoặc thay đổi quyết định truy tố, mà là sự điều chỉnh về phương thức xử lý trách nhiệm pháp lý theo hướng nhân văn, phục hồi, phù hợp với mục tiêu của tư pháp người chưa thành niên. Bên cạnh đó, cần xác định rõ cơ chế phối hợp giữa Viện kiểm sát, Tòa án và người làm công tác xã hội trong việc đánh giá các điều kiện áp dụng chuyển hướng, bảo đảm việc ra quyết định dựa trên sự kết hợp giữa căn cứ pháp lý và các thông tin xã hội, tâm lý. Ngoài ra, cần định hướng lại vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng đối với người chưa thành niên theo hướng kết hợp hài hòa giữa chức năng buộc tội và chức năng bảo vệ lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên, qua đó góp phần nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong bối cảnh phát triển mô hình tư pháp phục hồi.
Đối với người bào chữa, sự xuất hiện của người làm công tác xã hội không làm giảm vai trò của họ, mà ngược lại, càng làm nổi bật tính cần thiết của hoạt động bào chữa chuyên nghiệp, bảo đảm việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng được xem xét trên cả phương diện pháp lý và xã hội, hướng tới mục tiêu giáo dục và phục hồi đối với người chưa thành niên phạm tội. Do đó cần phát huy vai trò chủ động trong việc thu thập, sử dụng và phản biện các thông tin liên quan đến nhân thân, tâm lý bị cáo, trong đó có thể kết hợp, viện dẫn ý kiến của người làm công tác xã hội để củng cố lập luận bào chữa theo hướng đề nghị áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng. Đồng thời, người bào chữa cũng cần có quyền đặt câu hỏi làm rõ ý kiến chuyên môn này khi cần thiết, qua đó nâng cao chất lượng tranh tụng.
2.5. Xây dựng tiêu chí xác định “tính chất phức tạp” trong các vụ án có người chưa thành niên
Cần nghiên cứu hoàn thiện pháp luật theo hướng cụ thể hóa tiêu chí xác định “tính chất phức tạp” trong các vụ án có người chưa thành niên, nhằm bảo đảm tính minh bạch và thống nhất trong áp dụng. Theo đó, pháp luật cần thiết lập các tiêu chí mang tính định lượng và định tính rõ ràng, chẳng hạn như: vụ án có nhiều bị can, bị cáo là người chưa thành niên; có nhiều hành vi phạm tội khác nhau hoặc liên quan đến nhiều tội danh; có yếu tố nước ngoài; cần trưng cầu giám định chuyên sâu (tâm lý, pháp y, kỹ thuật số…); hoặc có tình tiết phức tạp liên quan đến hoàn cảnh gia đình, môi trường sống và yếu tố tâm lý của người chưa thành niên cần thời gian xác minh, đánh giá.
Bên cạnh đó, cần thiết xây dựng hướng dẫn áp dụng thống nhất từ cơ quan có thẩm quyền về tiêu chí xác định “tính chất phức tạp” trong các vụ án có người chưa thành niên. Hướng dẫn này sẽ là cơ sở quan trọng để bảo đảm áp dụng pháp luật thống nhất trên phạm vi toàn quốc, đồng thời giữ vững ý nghĩa nhân văn của quy định rút ngắn thời hạn tố tụng, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên.
Kết luận:
Sự ra đời của Luật TPNCTN đánh dấu bước phát triển quan trọng trong quá trình hoàn thiện pháp luật về tư pháp người chưa thành niên ở Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực thủ tục xét xử. Luật mới không chỉ sửa đổi kỹ thuật tố tụng mà còn thể hiện sự chuyển đổi căn bản trong tư duy lập pháp – từ mô hình tư pháp trừng trị sang mô hình tư pháp phục hồi.
Tuy nhiên, để các quy định tiến bộ này đi vào thực tiễn một cách hiệu quả, cần có sự chuẩn bị đồng bộ về tổ chức bộ máy, đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ tiến hành tố tụng, hoàn thiện cơ sở vật chất phục vụ mô hình tòa án thân thiện và ban hành hướng dẫn cụ thể về vai trò của các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các tiêu chí phục vụ công tác xét xử. Chỉ khi được triển khai một cách nghiêm túc, thống nhất và thực chất, Luật TPNCTN mới thực sự trở thành công cụ pháp lý hiệu quả trong bảo vệ, giáo dục và định hướng tương lai cho thế hệ trẻ, đồng thời đóng góp tích cực vào tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
* TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Quốc hội (2015), Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015, Hà Nội.
2. Quốc hội (2017), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 20/6/2017, Hà Nội.
3. Quốc hội (2025), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025, Hà Nội.
4. Quốc Hội (2015), Bộ luật Tố tụng Hình sự số 101/2015/QH13 ngày 27/11/2015, Hà Nội;
5. Quốc hội (2021), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng Hình sự số 02/2021/QH15 ngày 12/11/2021, Hà Nội.
6. Quốc hội (2025), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng Hình sự số 99/2025/QH15 ngày 27/6/2025, Hà Nội.
7. Quốc Hội (2024), Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 số 59/2024/QH15 ngày 30/11/2024, Hà Nội.
8. Đỗ V. (2025). Luật Tư pháp người chưa thành niên: “Cú hích” trong cải cách tư pháp. Công lý. https://congly.vn/luat-tu-phap-nguoi-chua-thanh-nien-cu-hich-trong-cai-cach-tu-phap-465327.html (Truy cập ngày 03/03/2026)
9. Lê, Q. C., Phan, T. V. V. (2026). Những điểm mới cơ bản của Luật tư pháp người chưa thành niên. Cổng thông tin điện tử Viện KSND tỉnh Tây Ninh. https://vks.tayninh.gov.vn/tin-dia-phuong-78015/nhung-diem-moi-co-ban-cua-luat-tu-phap-nguoi-chua-thanh-nien-1041077 (Truy cập ngày 02/03/2026).
10. Nguyễn, Q. Đ. (2026). Bàn về quy định của Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025). Cổng thông tin điện tử Viện KSND thành phố Hải Phòng. https://vienkiemsathaiphong.gov.vn/kiem-sat-vien-viet/ban-ve-quy-dinh-cua-luat-tu-phap-nguoi-chua-thanh-nien-nam-2024-sua-doi-bo-sung-nam-2025-22597 (Truy cập ngày 02/03/2026).
11. Trần, V. M. Biện pháp xử lý chuyển hướng người chưa thành niên phạm tội và tham khảo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới đối với Việt Nam. Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam. https://lsvn.vn/bien-phap-xu-ly-chuyen-huong-nguoi-chua-thanh-nien-pham-toi-va-tham-khao-kinh-nghiem-cua-mot-so-nuoc-tren-the-gioi-doi-voi-viet-nam-a158238.html (Truy cập ngày 12/3/2026).
Vũ Văn Hai
403 Forbidden