05/01/2024
Giang cảng Sài Gòn
Những năm từ 1955 đến 1965, Giang cảng Sài Gòn (Thương cảng Sài Gòn) là trung tâm quy tụ và phân phối 2.5 triệu tấn hàng hóa. Đến sau năm 1965, con số nầy tăng lên gấp 3 lần. Dưới thời Đệ nhị Cộng Hòa, chánh phủ chỉnh trang lại cảng Nhà Bè, cách Sài Gòn khoảng 15 cây số về phía hạ lưu sông Đồng Nai, có khả năng tiếp nhận tàu hàng trên 18 ngàn tấn.
Bến tàu hành khách
Tôi còn nhớ những năm đầu sau 1975 dọc trên bến Bạch Đằng, từ quân cảng cũ đi ngược về tay trái là các ụ nổi sửa chữa tàu của Hải quân Công xưởng (nhà máy Ba Son); đi về tay phải là bến đò Thủ Thiêm cách đó trăm mét ngay đầu đường Nguyễn Huệ, rồi tới rạch vàm Bến Nghé. Chỉ một đoạn đường ngắn đến Cột cờ Thủ Ngữ có 3 cầu tàu bê tông không còn sử dụng mà dân Sài Gòn mỗi chiều thường dừng xe hoặc ghé vào uống cà phê cầu tàu hóng mát. Dân cao niên cư ngụ buôn bán ở đây cho biết ngày xưa tàu đò neo đậu quanh cầu tàu rất nhộn nhịp. Tàu chạy tuyến đường sông về miền Tây theo sông Tiền, sông Hậu và sang Cao Miên từ giữa thập niên 50 trở về trước.
Bên mé phải rạch Bến Nghé là Giang cảng Sài Gòn có 3 cầu tàu lớn là nơi neo đậu các loại tàu viễn dương đi Thái Lan, Sinpagore, Hồng Kông, Nhật Bổn và tàu nội địa biển đi tuyến Sài Gòn – Đà Nẵng – Hà Nội – Hải Phòng. Nói chung từ ranh giới bến đò Thủ Thiêm đến Giang cảng Sài Gòn (Gồm các khu vực: Hàm Nghi, bến Nhà Rồng, Khánh Hội … Sau 1975 đổi tên là cảng Sài Gòn) dài chừng 4 cây số, bao gồm vận tải hàng hoá và hành khách. Riêng khu vực tàu khách đường sông hoạt động giảm sút từ đầu thập niên 40 và không còn hoạt động từ giữa thập niên 50 khi ngành giao thông vận tải đường bộ phát triển mạnh khắp các tỉnh thành ở miền Nam Việt Nam. Xe vận tải, xe đò chiếm lĩnh thị trường vận tải hàng hoá và hành khách, ngoại trừ các giang cảng bên kênh Tàu Hủ, kênh Tẻ, Lò Gốm vẫn còn tiếp nhận các ghe bầu, ghe chài chuyên chở lúa gạo từ miền Tây lên với số lượng lớn.
Việc mất đi bến cảng tàu thuỷ hành khách đi các tỉnh miền Tây tại bến Bạch Đằng là điều rất tiếc. Mặc dù đó là quy luật tất yếu trong thời kỳ phát triển giao thông đường bộ, hành khách đi xe đò về quê hoặc lên Sài Gòn tiết kiệm được nhiều thời gian nhưng lại là nỗi buồn của những người lớn tuổi. Không biết má tôi có lần nào đi tàu thuỷ lên Sài Gòn chưa hay nghe người đời trước kể lại chuyện tàu đò mà trong ký ức vẫn còn nhớ tên tuổi của một hãng tàu sông tàu biển ở tít đâu xa tận miền Bắc. Công ty vận tải Bạch Thái Bưởi một thời tung hoành trên sông nước miền Bắc với những con tàu hơi nước mua lại từ các công ty nước ngoài hồi đầu thập niên 20.
Trong số những nhà tư bản sớm nhất đầu tư vào ngành giao thông đường thuỷ không phải chỉ có ông Bạch Thái Bưởi ở miền Bắc, trong miền Nam cũng có vài công ty của Hoa kiều và người Pháp thành lập trước đó hai ba thập niên. Tuy nhiên, hãng tàu Bạch Thái Bưởi là một công ty lớn có tàu chạy cả đường biển và đường sông nên được giới báo chí thời đó thường nhắc tới, người cả nước đều biết tiếng tăm. Có một giai thoại về chuyện làm ăn của ông Bạch Thái Bưởi trở thành cái g*i trong mắt Thống sứ Bắc Kỳ René Robin. Đại loại trong một hội nghị kinh tế, Bạch Thái Bưởi bênh vực quyền lợi làm ăn của người dân bản xứ, ông René Robin đe doạ: “Nơi nào có Robin thì không có Bạch Thái Bưởi”. Ông Bưởi đáp lại: “Nước này còn Bạch Thái Bưởi thì không còn Robin”. Đầu thập niên 30, công ty Bạch Thái Bưởi có trên 40 con tàu chạy khắp vùng sông rạch trong nước và mở các tuyến đi Đông Nam Á.
Có lẽ do tinh thần thượng tôn dân tộc nên người dân thường hay nhắc tới công ty vận tải đường thuỷ của ông Bạch Thái Bưởi nhưng trong các biên khảo lịch sử ghi nhận thì đầu tiên công ty Larrieu et Roque của Pháp bắt tay vào khai thác ngành vận tải đường thuỷ vào năm 1872. Công ty này mở tuyến đường sông đi các tỉnh miền Đông và miền Tây và qua Nam Vang.
Bến cảng hàng hoá
Từ bến tàu hành khách đi xuống gặp cảng Khánh Hội dành cho tàu chở hàng có 11 cầu tàu. Giang cảng Sài Gòn là nơi xuất cảng nông sản gạo, ngũ cốc, cao su, muối từ các giang cảng có kho chứa bên các kênh rạch Sài Gòn – Chợ Lớn – Đồng Nai. Từ cảng này đi qua Tân Thuận đến cảng Nhà Bè là cảng dành cho các tàu chở hàng dễ nổ hoặc dễ cháy như xăng dầu. Nơi đây có kho xăng dầu Nhà Bè bên phía tả ngạn sông Sài Gòn và các trại lính canh phòng.
Tôi xin dừng lại chuyện Giang cảng Sài Gòn một chút để nhớ lại cảng Bãi Xàu ở Sóc Trăng hơn 30 năm trước. Đây là một cảng sông thịnh vượng nhất của miền Tây thời xưa. Thời điểm tôi đến đó, cuộc sống của bà con nông dân tỉnh Ba Xuyên (gồm 2 tỉnh Sóc Trăng và Bạc Liêu trước 1975) còn nhiều khó khăn. Từ một thương cảng hoạt động nhộn nhịp nhất trong thập niên 50 của thế kỷ trước lâm vào cảnh tiêu điều. Thời trước đó nữa, nơi đây có cả trăm ghe bầu, tàu trọng tải lớn vận chuyển lúa gạo mua từ các tỉnh lỵ lân cận chuyển lên Sài Gòn – Chợ Lớn.
Sở dĩ tôi bắt đầu từ cảng Bãi Xàu ở miệt sông nước Hậu Giang để nói về Giang cảng Sài Gòn bởi nó là gạch nối thông thương giữa những con sông và kênh đào từ thời Pháp chiếm Nam Kỳ, mở rộng kênh rạch miền Tây kết nối sông rạch Sài Gòn để vận chuyển lúa gạo về Giang cảng Sài Gòn mang đi xuất cảng. Đây chính là thời điểm ngành nông nghiệp miền Nam khai thác đồng ruộng tối đa. Trong 37 năm (1893-1930), bình quân mỗi năm tăng thêm 35,000 hécta ruộng, tổng cộng 1,800,000 hécta đất đưa vào canh tác trong phí tổn đào kênh là 48 triệu đồng, nhưng chính phủ thâu lợi quá to: thêm thuế điền, thuế xuất cảng lúa gạo và tiền bán đất theo kiểu thuận mãi hoặc đấu giá.
Ghe tàu chở lúa gạo d**g buồm về Sài Gòn thông qua đường thuỷ Kinh Chợ Lớn hay Kinh Tàu Hủ. Chợ Lớn thịnh vượng một phần nhờ con kinh này thông thương với miệt Hậu Giang. “Tàu nhỏ, ghe thương hồ, các ghe chài “ăn lúa” từ Bạc Liêu, Bãi Xàu, Sóc Trăng, kéo lên, hoặc thuyền “cá đen” Biển Hồ (Nam Vang) đổ xuống, đều noi theo con Kinh Tàu Hủ nầy mà “ăn hàng”, “ăn gạo”, hoặc đợi “cất lúa” lên cho các nhà “tầu khậu” và nhà máy xay Chợ Lớn, cũng như nhờ con Kinh Tàu Hủ này để giao dịch với thương cảng và các tàu buôn xuất ngoại” (Sài Gòn năm xưa – Vương Hồng Sển).
Từ khi nền Đệ nhị Cộng Hoà chấp chánh, năm 1964 bắt đầu cho nhập xăng dầu và xây kho dự trữ tại cảng Nhà Bè. Số lượng xăng dầu nhập mỗi năm lên đến 5.5 triệu tấn. Sau năm 1965, xây dựng thêm Tân Cảng Sài Gòn, cách Giang cảng Sài Gòn khoảng 10 cây số về phía thượng lưu sông Sài Gòn. Thoạt đầu Tân Cảng chỉ sử dụng vào mục tiêu quân sự, nhưng về sau nầy nó cũng được sử dụng cho cả các tàu hàng dân sự.
Vị trí địa lý của Sài Gòn góp phần không nhỏ cho sự phát triển của nó. Sài Gòn nằm dọc theo hữu ngạn sông Sài Gòn, một nhánh của sông Đồng Nai. Sông Sài Gòn chảy vào sông Đồng Nai trên khúc sông Nhà Bè, rồi sau đó theo hai nhánh đổ ra biển, đó là nhánh sông Soài Rạp và sông Lòng Tàu. Dầu Giang cảng Sài Gòn cách bờ biển trên 80 cây số, nhưng nhờ lòng sông sâu nên tàu bè trên 20 ngàn tấn có thể cập bến. Sài Gòn nằm ngay trung tâm của hai vùng đồng bằng lớn của miền Đông và sông Cửu Long. Khoảng những năm từ 1955 đến 1965, Sài Gòn là trung tâm quy tụ và phân phối 2.5 triệu tấn hàng hóa. Đến sau năm 1965, con số nầy tăng lên gấp 3 lần, nên dưới thời Đệ nhị Cộng Hòa, chánh phủ chỉnh trang lại vùng cảng Nhà Bè có khả năng tiếp nhận tàu hàng trên 18 đến 20 ngàn tấn.
Ngày nay, Giang cảng Sài Gòn, mở rộng thêm nhiều cảng như Tân Thuận, Cát Lái và nạo vét sâu thêm lòng sông có thể tiếp nhận tàu trọng tải 4, 5 vạn tấn dễ dàng.
Trang Nguyên
Nguon: Bao Tre Online

05/01/2024
23/12/2023
22/12/2023
18/12/2023