Đất Việt Trời Nam

Đất Việt Trời Nam

Share

Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Đất Việt Trời Nam, Landmark & historical place, .

05/01/2024

Giang cảng Sài Gòn

Những năm từ 1955 đến 1965, Giang cảng Sài Gòn (Thương cảng Sài Gòn) là trung tâm quy tụ và phân phối 2.5 triệu tấn hàng hóa. Đến sau năm 1965, con số nầy tăng lên gấp 3 lần. Dưới thời Đệ nhị Cộng Hòa, chánh phủ chỉnh trang lại cảng Nhà Bè, cách Sài Gòn khoảng 15 cây số về phía hạ lưu sông Đồng Nai, có khả năng tiếp nhận tàu hàng trên 18 ngàn tấn.

Bến tàu hành khách

Tôi còn nhớ những năm đầu sau 1975 dọc trên bến Bạch Đằng, từ quân cảng cũ đi ngược về tay trái là các ụ nổi sửa chữa tàu của Hải quân Công xưởng (nhà máy Ba Son); đi về tay phải là bến đò Thủ Thiêm cách đó trăm mét ngay đầu đường Nguyễn Huệ, rồi tới rạch vàm Bến Nghé. Chỉ một đoạn đường ngắn đến Cột cờ Thủ Ngữ có 3 cầu tàu bê tông không còn sử dụng mà dân Sài Gòn mỗi chiều thường dừng xe hoặc ghé vào uống cà phê cầu tàu hóng mát. Dân cao niên cư ngụ buôn bán ở đây cho biết ngày xưa tàu đò neo đậu quanh cầu tàu rất nhộn nhịp. Tàu chạy tuyến đường sông về miền Tây theo sông Tiền, sông Hậu và sang Cao Miên từ giữa thập niên 50 trở về trước.

Bên mé phải rạch Bến Nghé là Giang cảng Sài Gòn có 3 cầu tàu lớn là nơi neo đậu các loại tàu viễn dương đi Thái Lan, Sinpagore, Hồng Kông, Nhật Bổn và tàu nội địa biển đi tuyến Sài Gòn – Đà Nẵng – Hà Nội – Hải Phòng. Nói chung từ ranh giới bến đò Thủ Thiêm đến Giang cảng Sài Gòn (Gồm các khu vực: Hàm Nghi, bến Nhà Rồng, Khánh Hội … Sau 1975 đổi tên là cảng Sài Gòn) dài chừng 4 cây số, bao gồm vận tải hàng hoá và hành khách. Riêng khu vực tàu khách đường sông hoạt động giảm sút từ đầu thập niên 40 và không còn hoạt động từ giữa thập niên 50 khi ngành giao thông vận tải đường bộ phát triển mạnh khắp các tỉnh thành ở miền Nam Việt Nam. Xe vận tải, xe đò chiếm lĩnh thị trường vận tải hàng hoá và hành khách, ngoại trừ các giang cảng bên kênh Tàu Hủ, kênh Tẻ, Lò Gốm vẫn còn tiếp nhận các ghe bầu, ghe chài chuyên chở lúa gạo từ miền Tây lên với số lượng lớn.

Việc mất đi bến cảng tàu thuỷ hành khách đi các tỉnh miền Tây tại bến Bạch Đằng là điều rất tiếc. Mặc dù đó là quy luật tất yếu trong thời kỳ phát triển giao thông đường bộ, hành khách đi xe đò về quê hoặc lên Sài Gòn tiết kiệm được nhiều thời gian nhưng lại là nỗi buồn của những người lớn tuổi. Không biết má tôi có lần nào đi tàu thuỷ lên Sài Gòn chưa hay nghe người đời trước kể lại chuyện tàu đò mà trong ký ức vẫn còn nhớ tên tuổi của một hãng tàu sông tàu biển ở tít đâu xa tận miền Bắc. Công ty vận tải Bạch Thái Bưởi một thời tung hoành trên sông nước miền Bắc với những con tàu hơi nước mua lại từ các công ty nước ngoài hồi đầu thập niên 20.

Trong số những nhà tư bản sớm nhất đầu tư vào ngành giao thông đường thuỷ không phải chỉ có ông Bạch Thái Bưởi ở miền Bắc, trong miền Nam cũng có vài công ty của Hoa kiều và người Pháp thành lập trước đó hai ba thập niên. Tuy nhiên, hãng tàu Bạch Thái Bưởi là một công ty lớn có tàu chạy cả đường biển và đường sông nên được giới báo chí thời đó thường nhắc tới, người cả nước đều biết tiếng tăm. Có một giai thoại về chuyện làm ăn của ông Bạch Thái Bưởi trở thành cái g*i trong mắt Thống sứ Bắc Kỳ René Robin. Đại loại trong một hội nghị kinh tế, Bạch Thái Bưởi bênh vực quyền lợi làm ăn của người dân bản xứ, ông René Robin đe doạ: “Nơi nào có Robin thì không có Bạch Thái Bưởi”. Ông Bưởi đáp lại: “Nước này còn Bạch Thái Bưởi thì không còn Robin”. Đầu thập niên 30, công ty Bạch Thái Bưởi có trên 40 con tàu chạy khắp vùng sông rạch trong nước và mở các tuyến đi Đông Nam Á.

Có lẽ do tinh thần thượng tôn dân tộc nên người dân thường hay nhắc tới công ty vận tải đường thuỷ của ông Bạch Thái Bưởi nhưng trong các biên khảo lịch sử ghi nhận thì đầu tiên công ty Larrieu et Roque của Pháp bắt tay vào khai thác ngành vận tải đường thuỷ vào năm 1872. Công ty này mở tuyến đường sông đi các tỉnh miền Đông và miền Tây và qua Nam Vang.

Bến cảng hàng hoá

Từ bến tàu hành khách đi xuống gặp cảng Khánh Hội dành cho tàu chở hàng có 11 cầu tàu. Giang cảng Sài Gòn là nơi xuất cảng nông sản gạo, ngũ cốc, cao su, muối từ các giang cảng có kho chứa bên các kênh rạch Sài Gòn – Chợ Lớn – Đồng Nai. Từ cảng này đi qua Tân Thuận đến cảng Nhà Bè là cảng dành cho các tàu chở hàng dễ nổ hoặc dễ cháy như xăng dầu. Nơi đây có kho xăng dầu Nhà Bè bên phía tả ngạn sông Sài Gòn và các trại lính canh phòng.

Tôi xin dừng lại chuyện Giang cảng Sài Gòn một chút để nhớ lại cảng Bãi Xàu ở Sóc Trăng hơn 30 năm trước. Đây là một cảng sông thịnh vượng nhất của miền Tây thời xưa. Thời điểm tôi đến đó, cuộc sống của bà con nông dân tỉnh Ba Xuyên (gồm 2 tỉnh Sóc Trăng và Bạc Liêu trước 1975) còn nhiều khó khăn. Từ một thương cảng hoạt động nhộn nhịp nhất trong thập niên 50 của thế kỷ trước lâm vào cảnh tiêu điều. Thời trước đó nữa, nơi đây có cả trăm ghe bầu, tàu trọng tải lớn vận chuyển lúa gạo mua từ các tỉnh lỵ lân cận chuyển lên Sài Gòn – Chợ Lớn.

Sở dĩ tôi bắt đầu từ cảng Bãi Xàu ở miệt sông nước Hậu Giang để nói về Giang cảng Sài Gòn bởi nó là gạch nối thông thương giữa những con sông và kênh đào từ thời Pháp chiếm Nam Kỳ, mở rộng kênh rạch miền Tây kết nối sông rạch Sài Gòn để vận chuyển lúa gạo về Giang cảng Sài Gòn mang đi xuất cảng. Đây chính là thời điểm ngành nông nghiệp miền Nam khai thác đồng ruộng tối đa. Trong 37 năm (1893-1930), bình quân mỗi năm tăng thêm 35,000 hécta ruộng, tổng cộng 1,800,000 hécta đất đưa vào canh tác trong phí tổn đào kênh là 48 triệu đồng, nhưng chính phủ thâu lợi quá to: thêm thuế điền, thuế xuất cảng lúa gạo và tiền bán đất theo kiểu thuận mãi hoặc đấu giá.

Ghe tàu chở lúa gạo d**g buồm về Sài Gòn thông qua đường thuỷ Kinh Chợ Lớn hay Kinh Tàu Hủ. Chợ Lớn thịnh vượng một phần nhờ con kinh này thông thương với miệt Hậu Giang. “Tàu nhỏ, ghe thương hồ, các ghe chài “ăn lúa” từ Bạc Liêu, Bãi Xàu, Sóc Trăng, kéo lên, hoặc thuyền “cá đen” Biển Hồ (Nam Vang) đổ xuống, đều noi theo con Kinh Tàu Hủ nầy mà “ăn hàng”, “ăn gạo”, hoặc đợi “cất lúa” lên cho các nhà “tầu khậu” và nhà máy xay Chợ Lớn, cũng như nhờ con Kinh Tàu Hủ này để giao dịch với thương cảng và các tàu buôn xuất ngoại” (Sài Gòn năm xưa – Vương Hồng Sển).

Từ khi nền Đệ nhị Cộng Hoà chấp chánh, năm 1964 bắt đầu cho nhập xăng dầu và xây kho dự trữ tại cảng Nhà Bè. Số lượng xăng dầu nhập mỗi năm lên đến 5.5 triệu tấn. Sau năm 1965, xây dựng thêm Tân Cảng Sài Gòn, cách Giang cảng Sài Gòn khoảng 10 cây số về phía thượng lưu sông Sài Gòn. Thoạt đầu Tân Cảng chỉ sử dụng vào mục tiêu quân sự, nhưng về sau nầy nó cũng được sử dụng cho cả các tàu hàng dân sự.

Vị trí địa lý của Sài Gòn góp phần không nhỏ cho sự phát triển của nó. Sài Gòn nằm dọc theo hữu ngạn sông Sài Gòn, một nhánh của sông Đồng Nai. Sông Sài Gòn chảy vào sông Đồng Nai trên khúc sông Nhà Bè, rồi sau đó theo hai nhánh đổ ra biển, đó là nhánh sông Soài Rạp và sông Lòng Tàu. Dầu Giang cảng Sài Gòn cách bờ biển trên 80 cây số, nhưng nhờ lòng sông sâu nên tàu bè trên 20 ngàn tấn có thể cập bến. Sài Gòn nằm ngay trung tâm của hai vùng đồng bằng lớn của miền Đông và sông Cửu Long. Khoảng những năm từ 1955 đến 1965, Sài Gòn là trung tâm quy tụ và phân phối 2.5 triệu tấn hàng hóa. Đến sau năm 1965, con số nầy tăng lên gấp 3 lần, nên dưới thời Đệ nhị Cộng Hòa, chánh phủ chỉnh trang lại vùng cảng Nhà Bè có khả năng tiếp nhận tàu hàng trên 18 đến 20 ngàn tấn.

Ngày nay, Giang cảng Sài Gòn, mở rộng thêm nhiều cảng như Tân Thuận, Cát Lái và nạo vét sâu thêm lòng sông có thể tiếp nhận tàu trọng tải 4, 5 vạn tấn dễ dàng.

Trang Nguyên
Nguon: Bao Tre Online

05/01/2024

Dầu khuynh diệp

Người dân miền Nam tuổi trung niên trở lên đều nhớ đến cái mùi đặc trưng của loại dầu gió thông dụng này. Dầu trị nhiều chứng bệnh, cảm mạo, sổ mũi, đau nhức cơ bắp, ho, đau bụng, đau răng, trầy da chảy máu, ngừa ban cho trẻ em … Thường dùng nhất là các bà già, phụ nữ sinh đẻ nên dầu khuynh diệp còn có biệt danh là “dầu bà đẻ”.

“Dầu bà đẻ”

Ðem chuyện “dầu bà đẻ” ngày xưa ra nói để nói về ký ức của tôi thời còn bé. Nhớ lại, có lần Ba dẫn tôi đến Nhà bảo sanh Hoà Hưng thăm Má sanh thằng em út. Vừa bước vào cửa chính đã ngửi thấy nồng nực mùi dầu. Mùi khuynh diệp càng lúc càng nồng khi đi ngang qua các buồng sản phụ dọc theo hai bên. Hồi đó, tôi không để ý lắm cái mùi dầu khuynh diệp vì tủ thuốc trong nhà lúc nào cũng có vài ba chai dầu Nhị Thiên Đường, dầu khuynh diệp Bác sĩ Tín và hũ dầu cù là Mac-Phsu. Nhưng sau này, khi tôi có dịp ngửi lại mùi dầu khuynh diệp OPC hiệu mẹ bồng con (tiền thân là dầu khuynh diệp Bác sĩ Tín). Mùi không đậm bằng dầu ngày xưa nhưng tôi vẫn cảm thấy cái mùi thật thân thương và gần gũi!

3 loại dầu gió này rất thông dụng trong mọi gia đình. Dù vậy, dầu khuynh diệp vẫn là loại dầu phổ biến nhất bởi công dụng của nó. Có lần tôi xúi thằng bạn hàng xóm bị nhức răng. Cái răng hàm bị sâu khoét một lỗ, nó cứ lấy tay bịt miệng, mặt mày nhăn nhó. Tôi bảo lấy cục bông gòn nhỏ se tròn lại nhúng vào dầu khuynh diệp nhét vào lỗ răng sâu. Nó làm theo, đúng là hết thật. Tôi thấy nó đau răng, bày vẽ cách làm vì nghe người lớn nói vậy. Té ra là dầu khuynh diệp hiệu nghiệm thiệt không phải lời đồn cho vui. Hồi đó, nhãn hiệu trên chai dầu khuynh diệp Bác sĩ Tín không có ghi dùng cách nào nhưng sau này các loại dầu gió đều phải ghi trên nhãn hiệu “dùng ngoài da”.

Vài nét về Bác sĩ Tín

Bác sĩ Tín người chế ra dầu khuynh diệp tên thật là Bùi Thứ sinh quán tại Quảng Nam. Ông kết hôn sớm với bà Nguyễn Thị Hòa người cùng quê. Hồi đi học có tham gia phong trào bãi khoá tại trường Quốc Học và cùng tham gia lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh cũng như thường lui tới chùa Từ Đàm nơi giam lỏng nhà cách mạng Phan Bội Châu nên ông bị sở mật thám Pháp theo dõi ghi tên vào sổ đen. Kết quả là ông bị đuổi học. Sau khi rời Quốc Học, ông ra Hà Nội theo học tại trường Albert Sarraut và đổi tên thành Bùi Kiến Tín.

Đỗ Tú tài Pháp, ông vào học luật tại Đại học Luật khoa Hà Nội nhưng được học bổng sang Pháp học ngành Y. Tốt nghiệp bác sĩ, ông về nước cùng với những người bạn học là Bác sĩ Trương Đình Ngô, Dược sĩ Trương Xuân Nam lập một cơ sở nghiên cứu bào chế Âu dược tại Quy Nhơn. Ông làm các loại thuốc ho, bổ huyết, thuốc trị táo bón. Bà Hòa tích cực tham gia cùng chồng ngay từ những ngày này. Bác sĩ Tín nói cần một cái nồi đồng thật lớn để nấu thuốc thì bà liền nhận nhiệm vụ đi kiếm cho ra cái nồi như thế. Bà về quê ngay lúc đám giỗ ở một nhà thuộc tộc họ Bùi thì gặp ông Bùi Thuyên, là cha ruột nhà thơ Bùi Giáng. Nghe chuyện, ông Bùi Thuyên bèn cho mượn cái nồi khá to!

Tuy vậy, Bác sĩ Tín lại có duyên nợ với ngành Đông Y nên khi cơ sở sản xuất thuốc dời vào Sài Gòn vào năm 1944, Bác sĩ Tín đưa cả gia đình từ Quảng Nam vào lập nghiệp tại Sài Gòn và lập ra Viện bào chế Đông dược miền Nam tại Phú Lâm, gọi là nhà thuốc Bác Sĩ Tín. Và từ đó tạo lập nên thương hiệu “Dầu khuynh diệp Bác sĩ Tín”. Dầu gió được Bác sĩ Tín bào chế có công thức đặc biệt bao gồm các loại dầu tràm, dầu bạc hà, dầu hương nhu … và không thể thiếu tinh dầu khuynh diệp. Đây là loại tinh dầu có mùi rất đặc trưng.

Để có được nguyên liệu tốt, năm 1954 ông mua một miếng đất rộng 30ha nằm dọc theo xa lộ Biên Hòa, bên tay phải từ Suối Tiên về Biên Hòa (đối diện Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa) trồng cây khuynh diệp. Năm 1960, lứa khuynh diệp đầu tiên từ Pháp đưa về được trồng tại đây. Rồi sau đó, ông dùng hạt giống của cây khuynh diệp đã trồng, ươm mới cây con để trồng trên 2 trang trại mới mua rộng 40ha tại xã Lộc Châu, huyện Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

Chuyện làm ăn và làm chính trị của Bác sĩ Tín

Tiến sĩ kinh tế Bùi Kiến Thành, trưởng nam của Bác sĩ Tín nói về tâm tư của cha mình khi dầu khuynh diệp Bác sĩ Tín đã gần như chiếm lĩnh thị trường miền Nam vào thuở thập niên 1960. Trong luận án tốt nghiệp bác sĩ của mình, Bác sĩ Tín đã nêu tinh thần dân tộc và mong muốn góp phần xây dựng một đất nước Việt Nam hùng mạnh. Ông ước ao làm sao 20 triệu dân hiện tại có sức khỏe tốt để nâng dân số lên 50 triệu cho đúng với tầm cỡ lãnh thổ. Dân chúng lúc đó không có đủ tiền để mua thuốc Tây. Còn Đông dược rất tốt nhưng sản xuất chưa đúng với phương pháp khoa học, chưa hiệu quả. Và ông muốn thay đổi thực tế này. Do đó Bác sĩ Tín cho làm logo hình ảnh một anh lực sĩ nâng cả đất nước Việt Nam lên, bên dưới hình ảnh có ghi 3 chữ “Đại Cường Việt”. Logo này được in trên các nhãn hiệu sản phẩm dầu gió, dầu xoa bóp, dầu cù là.

Ông Thành nhớ lại: “Với Papa tôi, làm giàu không chỉ cho cá nhân ông mà còn là làm giàu cho đất nước, cho ích nước lợi dân. Thí dụ, khi Papa làm thuốc ho Bác sĩ Tín, ông đã có ý thức về chủ quyền với câu khẩu hiệu ‘uống thuốc ho Bác sĩ Tín thở không khí tự do’. Bán thuốc không chỉ để dân khỏe ra mà ông còn muốn mở ra khái niệm cho người dân nhận thức được chủ quyền đất nước.

Papa tôi đã mua một chiếc xe tải lớn, dài 7-8 mét nhưng không đóng tải mà dùng mặt bằng để chất lên đó một chiếc xe hơi Austin mới cáu cạnh. Gắn kèm chiếc xe là cái bảng to ghi: Giải thưởng Bác sĩ Tín. Ai mua dầu của BS Tín cũng được cho một con số kèm theo. Đi cùng với chiếc xe là đoàn múa lân đánh trống tùng tùng xèng. Xe chạy từ Nghệ An, Hà Tĩnh suốt cho tới Cà Mau. Một chiếc xe quá lạ lùng và tưng bừng như vậy bảo sao dừng ở bãi chợ nào trẻ em, người lớn đều không xúm coi rần rần. Xổ số trúng thưởng được tổ chức rất nghiêm chỉnh, ngoài xe hơi Austin còn có mấy chục giải phụ là xe đạp. Đó là chiêu mà ông nghĩ ra để từ Nam chí Bắc ai ai cũng biết đến dầu khuynh diệp. Papa tôi đã mua mấy chục chiếc xe tải để đi khắp nơi quảng bá và bán tận tay tới người dân. Mỗi năm có khoảng 20 triệu chai dầu khuynh diệp được bán ra”.

Trong một bài viết tưởng nhớ Bác sĩ Tín đăng trên facebook của Ban tu chính phổ hệ Bùi Kiến Tiến – Bùi Kiến Quang rằng, Bác sĩ Tín tham gia nội các của Thủ tướng Ngô Đình Diệm hồi năm 1954. Ông giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Thông tin. Nhưng sau khi Đệ Nhất Cộng Hoà được thiết lập, ông từ bỏ tham chính và tự nguyện phục vụ trong quân đội với cấp bậc Y sĩ Trung tá làm việc tại Huế và Cà Mau một thời gian, sau đó ông được giữ chức Y sĩ Trưởng Phủ Tổng Thống và Lữ đoàn Liên binh phòng vệ Phủ Tổng Thống (1960). Năm 1969 ông ra tranh cử Dân biểu Quốc hội nhưng thua phiếu Luật sư Trần Văn Tuyên. Kể từ đó ông chú tâm vào việc kinh doanh, công tác xã hội và tôn giáo.

Thành công trong lĩnh vực đông y dược, Bác sĩ Tín lấn sân sang các ngành nghề kinh doanh khác như kỹ nghệ, tài chánh và xây dựng. Ông cùng với trưởng nam Bùi Kiến Thành đồng sáng lập Công ty sản xuất bình điện Prestolite của thương hiệu ắc-quy Autolite thuộc hãng xe Ford của Mỹ nhượng quyền, thành lập Đông Phương Ngân hàng và Việt Nam Công Thương Ngân hàng tại Sài Gòn, thành lập Công ty địa ốc Tân Ba, khai thác cát tinh bán cho Nhật, sản xuất muối Cà Ná, mở Công ty Nông nghiệp Khánh Hoà thu mua cơm dừa bán cho các cơ sở làm xà bông. Ông cùng các con lập ra Viện bào chế Tiandi ở Chợ Lớn và Viện bào chế Hana tại đường Trương Minh Ký, Phú Nhuận. Không những dừng lại đó, ông còn có ý tưởng xây dựng khu Disney Land tại Biên Hoà giống như bên Mỹ, rộng 290ha. Tiếc rằng ý tưởng của ông phải dừng lại vào năm 1975 khi Sài Gòn thất thủ. Ông cùng gia đình di tản sang Pháp.

Ông mất vào năm 1994, thọ 83 tuổi. Tuy thế, dư âm của dầu khuynh diệp Bác sĩ Tín đến nay vẫn còn sống mãi trong ký ức người dân Sài Gòn.

Trang Nguyen
nguon: Bao Treonline

23/12/2023

Chợ Lớn mới

Nghe vẻ nghe ve
Nghe vè cái chợ
Sáng mơi xách rổ
Đi giáp một vòng
Hàng hóa mênh mông
Kêu bằng Chợ Lớn…

Chợ Lớn cũ, Chợ Lớn mới – Chợ Bình Tây

Chợ Lớn trong bài vè không phải chỉ trung tâm của vùng đất Chợ Lớn rộng lớn buôn bán nhộn nhịp từ thuở xa xưa mà nói rõ cái tên chợ. Chỉ tiếc là dân gian không phân biệt Chợ Lớn cũ hay Chợ Lớn mới trên đường Tháp Mười tức chợ Bình Tây sau này (1975). Nhiều người lớn tuổi như má tôi vẫn gọi cái tên Chợ Lớn Mới như ngày xưa người ta từng gọi như thế. Có Chợ Lớn mới đương nhiên có Chợ Lớn (cũ) mà theo tài liệu xưa thì Chợ Lớn (cũ) thuộc nền đất của Bưu điện quận 5 bây giờ.

ị trí của Chợ Lớn mới – Chợ Bình Tây

Nhà nghiên cứu lịch sử Phạm Hoàng Quân trong bài viết “Thử nhận diện Chợ Lớn – di sản” đưa ra văn bản Annuaire Administratif de I’Indochine (Ðông Dương hành chánh niên giám) do người Pháp in năm 1906 và ông Nguyễn Bá Trác dịch sách này ra chữ Hán (bản chép tay) về phần địa dư Chợ Lớn như sau: “Toàn thành hữu tứ đại thị viết Trung thị, Ngư thị tại Hội Hợp Kinh thượng, viết Bình Tây thị, viết Ðệ Cửu Hộ thị (Toàn thành phố có 4 cái chợ lớn, là chợ Trung (tâm), chợ Cá trên bờ kênh Hội Hợp, chợ Bình Tây và chợ số 9).

Trong đoạn văn trên chỉ xác định được hai chợ trong trung tâm Chợ Lớn ngày xưa là: chợ Trung tâm cùng chợ Cá nằm trên bờ kênh Hội Hợp (đường Vạn Kiếp sau này) gần đấy có đường Rue du Marché (Ðường Chợ) sau này là đường Mạc Cửu. Tức khu vực Bưu điện Q.5 nằm giữa Mạc Cửu và Nguyễn Văn Thạch (sau 1975 đổi thành Nguyễn Thi). Còn chợ Bình Tây và chợ số 9 không rõ nằm ở vị trí nào. Tài liệu ảnh xưa cũng chỉ cho thấy một ngôi chợ nhỏ mang tên Bình Tây (Marché Binh Tay) chụp khoảng đầu thế kỷ 20, không rõ ở vị trí nào (có tài liệu xác định ở Bến xe lửa đi Mỹ Tho và đường Bình Tây). Có lẽ đây là chợ Bình Tây được nhắc đến trong 4 ngôi chợ lớn tại Chợ Lớn trong cuốn Ðông Dương hành chánh niên giám chăng?

Trương Vĩnh Ký viết trong Gia Ðịnh phong cảnh vịnh: “Trong Chợ Lớn thinh thinh / Góp nhóp đủ loài rừng vật biển / Trên cầu Quan lộ lộ / Lại qua nhiều kẻ chú Ðội cậu Cai…”. Ông còn ghi chú: “Chợ Lớn là chợ tại huyện Tân Long, thân trong toà phủ Tân Bình. Ở đó bán đủ đồ, nhiều món ngon vật lạ. Cầu Quan là xóm ở chợ Kho giáp ra chợ Ðũi, có rạch có cầu, có giếng Ông Tân, chỗ nhà quan ở nhiều, nên kêu là cầu Quan”.

Theo địa dư chí phủ Tân Bình, xưa huyện Tân Long trong có thôn ở phía Ðông gọi là Bình Ðông, phía Tây có thôn Bình Tây. Nơi đây còn dấu ấn đường Bình Tây thông ra kênh Tàu Hủ (Bến Bình Ðông) trên trăm năm trước cuối con đường này còn có cây cầu gỗ mái che bắc sang kênh. Ðầu đường phía trên giáp kênh Bãi Sậy (nay đã lấp) thành đường Bến Bãi Sậy nằm phía sau Chợ Lớn Mới của ông Quách Ðàm. Như vậy chợ Bình Tây ngày xưa và Chợ Lớn Mới là hai chợ khác nhau nhưng gần nhau về vị trí. Chợ Lớn Mới xây xong rồi thì dẹp cái chợ nhỏ Bình Tây nên mấy ai còn sống để mà nhớ. Có lẽ người ta khôi phục lại tên chợ Bình Tây như một dấu ấn xưa đã từng có ngôi chợ này.

Quách Đàm xây Chợ Lớn Mới

Ðã có nhiều chuyện ông Quách Ðàm xây Chợ Lớn Mới viết trên báo chí, nhắc lại thành thừa. Chỉ xin nhắc lại một vài điểm chính hình thành nên chợ. Vào đầu thập niên 1920 khi chính quyền thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn nhận thấy ngôi Chợ Lớn (Trung tâm) nằm ở chân cầu Chà Và chật chội nên muốn dời sang địa điểm mới rộng lớn hơn. Ông Quách Ðàm – một thương nhân người Hoa và là thành viên trong Hiệp hội Thương mãi thành phố và là chủ cơ sở buôn bán hàng nhập cảng Thông Hiệp lớn nhất ở Chợ Lớn nắm ngay cơ hội, thoả thuận với chính quyền, bỏ tiền mua 2.5 hécta đất tại thôn Bình Tây và cả tiền xây chợ với điều kiện ông được cất hai dãy phố cặp hai hông chợ và đặt bức tượng đồng tạc hình của ông mặc áo mang đầy huy chương do chính quyền Pháp tặng, dưới chân là hai con lân sư bằng đồng. Tượng Quách Ðàm do nhà điêu khắc người Pháp Paul Ducuing thực hiện. Ông cũng là người tạc tượng vua Khải Ðịnh ngồi trên ng*i vàng dựng bên trong Ứng Lăng ở Huế.

Do chính quyền không mua được mảnh đất rao bán giá cao nên dễ dàng chấp thuận sự trao đổi đôi bên đều có lợi. Ngôi chợ mang kiến trúc Á Ðông được xây theo kỹ thuật hiện đại bê tông cốt thép, mái lợp ngói ống, diềm mái giọt nước ngói lưu ly, vách cẩn gạch gốm rồng chầu nguyệt, có 12 cửa chính phụ, có khoảng không thông thoáng rộng lớn ở giữa. Thế nhưng khi chợ chuẩn bị khởi công (1928) thì ông Quách Ðàm bệnh chết đột ngột (5/1927). Trong cuốn “Sài Gòn năm xưa”, ông Vương Hồng Sển có nhắc đến: “Khi Quách Ðàm chết, đám ma lớn không đám nào bằng với đủ thứ nhạc Tây, Tàu, Ta, Miên… Khách đi đường có việc, miễn nối gót theo đám ma vài bước là có người lễ phép đến dâng một ly nước dừa hay lave (bia) và tặng một quạt giấy có kèm một tấm giấy “ngẫu” (một số tiền) đền ơn có lòng đưa đón. Quách Ðàm được chôn ở gần chùa Giác Lâm, giáp ranh Chợ Lớn và Gia Ðịnh”.

Chuyện Quách Ðàm chết vẫn không ảnh hưởng gì đến tiến trình xây Chợ Lớn Mới. Và chính quyền cũng thực hiện những thoả thuận với gia đình Quách Ðàm như lúc ông còn sống. Sau khi chợ xây xong (1930), tượng ông được đặt giữa khuôn viên chợ và người làm ăn buôn bán trong chợ thành kính đốt nhang khấn vái một ông “thần tài” có công dựng nên chợ. Sau 75, tượng Quách Ðàm bị tháo dỡ, lưu cất trong Bảo tàng Mỹ thuật thành phố.

Cũng như chú Hỏa (Hui Bon Hoa) từ người mua bán ve chai may mắn bắt được hũ vàng, làm ăn rồi trở nên giàu có. Huyền thoại về ông Quách Ðàm cũng vậy. Từ một người tay trắng, buôn bán lông gà lông vịt, da trâu da bò, làm ăn tích cóp lần hồi mà trở thành thương gia nhà thầu cung cấp lúa gạo lớn nhất nhì Sài Gòn – Chợ Lớn, Cần Thơ, trong tay nắm nhiều nhà máy xay lúa. Không chỉ vậy, ông còn làm chủ một đội tàu hàng vận chuyển lúa gạo sang tận Nông-Pênh (Phnom Penh).

Là người làm ăn (đương nhiên có thủ đoạn) mánh lới trở nên giàu có, Quách Ðàm còn là người khôn ngoan, đoán trước được thời cuộc, ra sức đóng góp cho xã hội, hỗ trợ xây dựng trường học, bệnh viện, chợ búa theo nguyên tắc “đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn”. Cần lưu ý vào thời điểm sau Chiến tranh Thế giới Thứ nhất đã xảy ra hai sự kiện chính trị ảnh hưởng tới người Hoa ở toàn Nam kỳ. Ðó là phong trào tẩy chay hàng hoá buôn bán của người Hoa năm 1919 và năm 1924. Chợ Lớn lại là cái nôi xảy ra các cuộc biểu tình chống đối chuyện buôn bán của giới thương nhân lớn nhỏ, từ chuyện bán hàng lên giá trục lợi, cho đến sự cạnh tranh làm ăn của các thương nhân người Việt với người Hoa. Nhưng nói chung việc tẩy chay hàng hoá buôn bán của người Hoa không phải là thượng sách trong khi mọi người dân đều cần các loại nhu yếu phẩm mà chỉ có tư thương người Hoa đáp ứng được.

Ngày nay, ngôi chợ vẫn còn đó, trải qua bao năm vật đổi sao dời, giờ phải trùng tu để lưu giữ một công trình xây cất chợ có nét kiến trúc đẹp và là trung tâm mua bán hàng hoá sỉ sầm uất nhất Sài Gòn. Ký ức về hình ảnh sinh hoạt mua bán của những người lớn tuổi về Chợ Lớn Mới hay chợ Bình Tây vẫn còn hiển hiện khi ông bạn tôi chợt nghe nhắc đến.

Ông bạn tôi không nhớ chuyện ông chủ chợ Quách Ðàm giàu nứt đố đổ vách mà lại nhớ đến người chú ruột ở Bến Tre hằng tuần đều lên Chợ Lớn Mới lấy hàng thau rổ bằng nhựa mang về quê buôn bán. Cứ mỗi tuần lên Sài Gòn, người chú đều ghé qua nhà ông nghỉ ngơi một bữa cho tiện việc. Thế là hôm đó tha hồ ăn hột vịt lộn. Ông kể có lần theo người chú đi Chợ Lớn Mới cho biết. Ôi thôi đúng là tràn ngập hàng hoá, người khuân kẻ vác tới lui. Nhất là khu vực cuối chợ hướng ra bến Bãi Sậy, ghe thuyền lớn nhỏ theo kênh Tàu Hủ vào nằm xếp hàng chờ cất lấy hàng. Quang cảnh náo nhiệt vui thật là vui, dãy cuối chợ là các sạp vựa trứng gà trứng vịt, trứng muối chất cao trên từng giỏ cần xé. Người chú lại mua vài chục hột vịt mang về. Trứng vịt lộn ở đây lựa trăm trứng như một, con vừa ăn, ngon đáo để. Ông còn nhớ những xe hủ tiếu mì bò viên bán bên hông chợ dọn ra chiều tối sau khi các sạp hàng đóng cửa ra về, những món chỉ có người Tàu nấu mới ngon.

Chợ Lớn Mới với ông bạn tôi chỉ như vậy, hàng hoá, đồ ăn thức uống ngon bán đầy bên hông chợ. Còn tôi lại nhớ đến những kiosk bên ngoài chợ dọc theo vỉa hè đường Tháp Mười. Những kiosk nhỏ xinh, mái lợp ngói vòm cong tô điểm cho ngôi chợ càng thêm sinh động nhưng nay đã không còn.

Trang Nguyên

22/12/2023

Chợ Bà Hoa

Nếu hỏi một người sống ở Nhà Bè, “Chợ Bà Hoa ở đâu?”, bạn sẽ nhận được câu trả lời ngần ngừ: “Hình như là Chợ Bà Chồi bên xã Long Thới”. Còn giả như bạn gặp một người Quảng Nam ở làng dệt Bảy Hiền: “Chợ Bà Hoa ở mô?”. Bạn sẽ được chỉ đến Chợ phường 11 quận Tân Bình.

Chợ của người xứ Quảng

Có thể bạn nghĩ người xứ Quảng kia gạt mình. Nhưng họ rất thật tình với bạn chớ nào có ý chơi khăm vì cái tội “chửi cha không bằng pha tiếng”. Chợ Bà Hoa là tên gọi truyền miệng từ khi xuất hiện cái chợ nhỏ, do một bà tên Hoa bỏ tiền mua khu đất, cất chợ chia sạp cho thuê ngay vùng Bảy Hiền hồi năm 1967.

Có lần tôi đến chơi nhà người bạn gốc Quảng Nam, ngụ trong con hẻm phía sau giáo xứ Ðắc Lộ gần ngã tư Bảy Hiền. Trong lúc chuyện vãn về Chợ Bà Hoa gần nhà, thằng bạn cứ khăng khăng xác định bà Hoa là người miền Trung di cư vào Sài Gòn, lập ra cái chợ cho người quê gốc xứ Quảng bán buôn. Cái chợ này anh biết từ khi lúc 9, 10 tuổi gì đó, khi gia đình di cư vào Sài Gòn sinh sống. Chợ chỉ là một nhà lồng nhỏ cất bằng tôn fibro không có treo biển tên chợ. Nghe người sống quanh đó gọi là Chợ Bà Hoa. Bà Hoa là người xứ Quảng di cư vào Sài Gòn, mua đất lập chợ trước đó vài năm nhưng không biết bả người Quảng nào?

Ông già nghe thằng con giải thích chuyện quê quán của bà Hoa thì lớn tiếng chen vào: “Cái thèng ni en núa mô tê chẻng đầu chẻng đui, “Quảng nồ” ra răng, xứ Quảng là xứ Quảng, mi núa neng chi loạ”. Hai cha con nói qua nói lại bằng giọng quê của mình đặc sệt âm sắc địa phương khiến lỗ tai tôi lùng bùng. “Tô người Quảng Ngở ra Quảng Nôm lòm việc. Gặp mẹ mi người gốc Quảng Trị vô Ðè Nẻng bóan buôn. Rồi đẻ roa mi, gọi mi loà người Quảng chi hè?”.

Bình thường, ông con hay ông cha gặp tôi nói chuyện với giọng điệu nhẹ nhàng, nghe dễ hiểu. Nhưng khi 2 cha con nói chuyện với nhau âm tiếng Quảng Nam, tôi phải dỏng lỗ tai lên, có khi cũng chẳng hiểu mô tê gì ráo. Nghe 2 cha con nói chuyện làm tôi nhớ bài thơ “Hồi xưa tôi đã tỏ tình” của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh. Bài thơ ngộ nghĩnh, đọc lên nghe vui vui. Tôi cố học thuộc lòng nhưng chu choa ơi đọc tới đọc lui cả chục lần mà chẳng nhớ hết có khi âm sắc làm tôi lẹo lưỡi. “Nè mi mới dọn tới bên nhà / Dị òm tau cũng bước chưn qua / Ba đi một cấp, răng về kịp? Mẹ chắc giờ ni ở chỗ bà…”.

Nghe được giọng nói một vùng quê nào đó là điều thú vị đối với người sống ở vùng miền khác. Còn đối với người đồng hương thì lại gắn chặt thêm tình cảm thương nhớ quê nhà. Ở Sài Gòn, nếu bạn muốn nghe âm thanh xứ Quảng cứ đến Chợ Bà Hoa. Không chỉ có bấy nhiêu đâu, cái tình cảm trong người bạn trở nên dạt dào lai láng hơn nữa khi nhìn thấy chợ bán buôn không thiếu món gì của người xứ Quảng. Hình ảnh này đối với người gốc Quảng là thứ “tình xa quê hương ngộ cố tri” một cách rất chân thật. Còn đối với người không phải gốc xứ Quảng, hình ảnh đó là một điểm son cho một góc xứ Quảng tạo nên sự khác lạ giữa đất Sài Gòn.

Nơi có món mì Quảng danh tiếng…

Sau này, tôi có đến Chợ Bà Hoa đi mua vài ba thứ làm món mì Quảng cho bữa họp mặt bạn bè. Nhưng thật tình mà nói, tình cảm trong tôi đối với các sản vật bán buôn trong chợ còn khá xa cách bởi lẽ tôi là người Sài Gòn thì làm sao có ấn tượng món ngon của dân quê Quảng Nam. Món ăn sản vật từ nhiều vùng miền khác du nhập vào Sài Gòn, tôi chỉ có thể nhận xét ngon hay dở theo khẩu vị riêng của mình. Dở ngon thế nào tôi khó mà phân tích một cách rạch ròi bởi lẽ trong lòng tôi khi ăn chẳng có tâm trạng của một người xứ Quảng.

Người bạn của tôi, quê gốc Quảng Nam, vào Sài Gòn sinh sống hơi muộn. Một lần tình cờ đi lạc vào Chợ Bà Hoa thưởng thức tô mì đúng chất mì Quảng ở quê, nó in sâu trong tâm trí anh đến tận bây giờ.

Anh kể, lần đó bắt gặp một hàng quán bán mì Quảng trên một con đường quanh chợ. Là người Quảng Nam, đương nhiên không thể bỏ qua món ăn gợi nhớ hồn quê. Tô mì Quảng do người Quảng Nam nấu với sợi mì vàng óng trộn dầu phộng, hương vị của nhưn thịt, của nước lèo đúng chất, đúng theo hương vị của vùng mình, làm anh thích thú vô cùng. Chính điều này đã thôi thúc ngày hôm sau anh trở lại để tận hưởng hương vị ngày xưa một lần nữa cho dù trời đang vần vũ cũng không làm anh ngại ngần.

Nghe anh kể mà tôi tưởng tượng món mì Quảng không khác một câu chuyện liêu trai. Cái hồn của món ăn đã thâm nhập vào con người gây nhớ, gây thương, gây sầu.

Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh có viết một tập văn “Người Quảng đi ăn mì Quảng”, bàn về cái chất đúng hay không đúng của món mì Quảng, thật thú vị. “Nhưng “đúng” hay “không đúng” phỏng có gì mà phải buồn bực đến thế? Tới một quán ăn, ngon thì quay lại, dở thì đi luôn, đơn giản quá mà! Việc gì phải càu nhàu, tức tối, buồn khổ cho mệt người rối trí? Hỏi như vậy là chưa hiểu sự gắn bó giữa người Quảng và món mì Quảng. Người Quảng xa xứ, đi ăn món này không giống như khi đi ăn những thứ khác như lẩu dê hay bò bảy món. Họ không chỉ ăn bằng miệng, bằng vị giác hay khứu giác, không phải đơn thuần chỉ để thưởng thức cái ngon. Người Quảng đi ăn mì Quảng là đi ăn bằng tâm trạng. Họ bước vào quán với bước chân hồi hộp, thắc thỏm, với tất cả nỗi háo hức phập phồng như đến điểm hẹn với người quen cũ”.

Thì ra người bạn tôi đi ăn mì Quảng với tâm trạng khác hẳn, tôi muốn thưởng thức theo kiểu tò mò, tự chế biến theo cách người Sài Gòn hội nhập. Do đó mì Quảng tôi nấu ra là dở ẹc, tốt hơn khỏi cần nấu nướng cứ ra Chợ Bà Hoa tìm đến các hàng mì, có cả chục hàng quán.

Thông thường, để làm món này, người ta đến Chợ Bà Hoa tìm mua nguyên liệu chính gốc như sợi mì, bánh tráng mè, củ nén của xứ Quảng Nam.

Bà Hoa là ai?

Ba của người bạn nói ở trên, có nhận xét như vầy: “Chợ Bà Hoa là chợ của người xứ Quảng. Người Quảng Nam di cư vào Sài Gòn, sống ở vùng ngã tư Bảy Hiền rất nhiều từ cuối thập niên 50. Nhưng bây giờ trong đó, cũng có nhiều người Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Tín, Quảng Ngãi. Gọi chung là người xứ Quảng, nên hàng hoá sản vật bán buôn ở chợ góp mặt trên nhiều vùng miền”.

Nói về vùng Bảy Hiền hồi trước, khi người xứ Quảng vào định cư, còn là một vùng đất vắng vẻ, thưa thớt dân cư. Bà Hoa không phải người xứ Quảng, mà là người Bắc di cư hồi năm 1954 vào Sài Gòn, sống ở khu Ông Tạ hay khu Bảy Hiền. Thấy đất đai ở khu vực sau nhà thờ Ðắc Lộ còn trống, bà mua cất chợ phân chia hàng sạp cho người xứ Quảng mới đến Bảy Hiền sinh sống, có chỗ làm ăn mua bán. Ban đầu chợ có tên Linh Hoa, đến khoảng năm 1973, bà bán các sạp và nhà cửa cho người buôn bán hoặc thuê mướn để di tản qua Mỹ. Nghe dân bán buôn ở đây kể, có lần bà về thăm lại chợ xưa, chào hỏi bà con mới cũ. Bẵng một thời gian dài không thấy bà về nữa, không biết bà còn sống hay đã mất. Cái tên Chợ Bà Hoa là do người buôn bán gọi riết thành tên, tuy không chính thức, nhưng đối với người xứ Quảng trên đất Sài Gòn, hỏi đến chợ này thì hầu như ai ai cũng biết.

Trang Nguyên

18/12/2023

Vùng Chợ Quán

Vương Hồng Sển viết trong Sài Gòn năm xưa: “Sở dĩ có tên gọi là Chợ Quán vì khi xưa người dân họp chợ dưới những gốc cây me, làm thành những hàng quán lốc cốc để buôn bán nên gọi là Chợ Quán”. Và từ đó, tên chợ trở thành địa danh của một vùng đất khá rộng bên rạch Bến Nghé.

Nhà thương Chợ Quán

Ngày nay nói đến Chợ Quán, nhiều người nghĩ ngay tới cái nhà thương điên trước tiên. Ðiều này cũng đúng. Thứ nhất, đây là một trong những công trình xây dựng đầu tiên của người Pháp sau khi chiếm Sài Gòn (xây năm 1862). Thứ hai, đây là nhà thương trị bệnh điên đầu tiên ở Sài Gòn. Thật ra, nhà thương điên Chợ Quán chỉ là một phần sau này, khi nhà thương mở thêm khoa bệnh tâm thần. Trước đó, nhà thương tiếp nhận trị các bệnh hoa liễu và giang mai. Sau đó, người Pháp mở rộng xây thêm các khoa bệnh truyền nhiễm, và cả khoa sản.

Mãi đến giữa thập niên đầu thế kỷ 20 mới có khu điều trị tâm thần và nhà thương Chợ Quán trở thành Trung tâm Huấn luyện Y khoa. Khi Trường Y Khoa Ðông Dương được thành lập tại Hà Nội năm 1908, bệnh viện ngưng công tác huấn luyện và trở thành bệnh viện chuyên khoa truyền nhiễm, phong và tâm thần. Ðến năm 1915 thì mới có Dưỡng trí viện Biên Hoà chuyên khoa tâm thần nên có người làm câu thơ vui “Chưa đi chưa biết Biên Hòa / Ði rồi mới biết có nhà thương điên”.

Một thời gian ngắn sau khi người Pháp rút khỏi Việt Nam, bệnh viện được quân đội quản lý chuyên trị bệnh lao cho binh lính nên gọi là Viện bài lao Ngô Quyền. Năm 1957, bệnh viện trả lại cho dân sự quản lý với các khoa trị bệnh như trước. Do vậy, gặp người tưng tửng, người ta thường hỏi: “Hắn ở đâu ra? Chợ Quán hay Biên Hoà”.

Bệnh viện được xây lại hiện đại vào năm 1972 với sự giúp đỡ tài chánh của Hàn quốc, với tên gọi Trung tâm Y khoa Hàn-Việt (nay là Bệnh viện Nhiệt đới).

Nhà đèn Chợ Quán

Hỏi người Sài Gòn: Nhà đèn Chợ Quán ở đâu thì chắc chắn sẽ nhận được câu trả lời, nó ở kế bên nhà thương Chợ Quán. Hỏi tiếp, vậy chớ nhà thương Chợ Quán ở đâu, thì nghe: cứ kêu taxi hay xe ôm chạy tới vùng Chợ Quán hỏi thì ai cũng biết! Hóa ra hai cái “nhà” này nằm kế nhau trên đường bến Hàm Tử (cũ), nơi giáp ranh quận Một và quận Năm, quay mặt ra kênh Bến Nghé.

Vậy tại sao không gọi Nhà đèn Chợ Quán là Nhà máy điện Chợ Quán? Có lẽ phải quay về lịch sử chiếu sáng đô thị Sài Gòn. Từ năm 1867 ở Sài Gòn, chủ yếu là khu trung tâm quận Nhất hiện nay, đã có đèn thắp sáng đường phố bằng dầu dừa, nhưng chỉ gần 3 năm sau, 1870, đã có đèn thắp sáng bằng dầu lửa. Đèn dầu lửa sử dụng liên tục mấy chục năm. Đến đầu thế kỷ 20, Công ty CEE Compagnie des Eaux et d’Électricité de Saigon (Công ty Điện nước Sài Gòn), nằm trên đường Nationale (nay là đường Hai Bà Trưng ngay phía sau Nhà hát Thành phố) bắt đầu cung cấp điện và nước cho vùng Sài Gòn rồi mở rộng sang vùng Chợ Lớn. Tuy vậy, người ta vẫn gọi nhà máy điện là “nhà đèn” do quen miệng.

Nhiều người, cả tôi nữa, vẫn cho rằng Nhà đèn Chợ Quán là nhà máy điện sớm nhất Sài Gòn, có khi sớm nhất nước, nhất Đông Dương. Nhưng hóa ra không phải! Sài Gòn có nhà máy điện đầu tiên vào khoảng năm 1897 nhưng nó ở vị trí Công ty Điện lực trên đường Hai Bà Trưng phía sau Nhà Hát Lớn bây giờ. Sau đó có thêm một vài nhà máy điện nhỏ khác nhưng chỉ cung cấp điện cho từng khu vực. Nhà đèn Chợ Quán xây dựng vào năm 1912 với công suất đủ cho nhu cầu của Sài Gòn – Chợ Lớn và một số thị trấn phụ cận như Lái Thiêu, Thủ Dầu Một, đồng thời từ lúc này hầu hết các đường phố Sài Gòn – Chợ Lớn đều được chiếu sáng bằng điện của Nhà đèn Chợ Quán.

Có một chuyện thú vị về Nhà đèn Chợ Quán. Rất nhiều công nhân làm việc ở Nhà đèn Chợ Quán là người sống ở làng Thuận Bài thuộc tỉnh Quảng Bình. Chuyện bắt đầu bằng chuyến di cư vào Nam hồi năm 1897 của ông Trần Văn Mâu kiếm sống ở Sài Gòn. Khi ấy ở trung tâm thành phố chỉ có một ít nhà hàng có đèn điện chiếu sáng. Sẵn đầu óc yêu chuộng cái mới, ông mày mò học hỏi nghề điện rồi trở thành công nhân chính thức cho Nhà đèn Chợ Quán. Thấy Sài Gòn là nơi dễ sống, dễ có công ăn việc làm, ông viết thư về quê nhà kêu gọi đồng hương di cư vào Nam làm thợ điện. Sau đó, những người Thuận Bài lũ lượt kéo nhau vào Nam đều được ông Mâu xin vào làm ở Nhà đèn Chợ Quán. Người đi trước dẫn dắt người đi sau, nghề thợ điện trở thành kế sinh nhai của nhiều thế hệ con cháu làng Thuận Bài. Công nhân thợ điện làng Thuận Bài siêng năng cần mẫn nên không ít công nhân lành nghề được ban giám đốc CEE cất nhắc giữ những chức vụ quan trọng của nhà đèn Công ty Điện Nước Đông Dương.

Công nhân làng Thuận Bài trước 1945 có đến mấy trăm người. Họ sống tập trung, thành lập nên làng mới giữa đất Sài Gòn, gọi là xóm nhà đèn (nhưng ở vùng Tân Định giáp Bình Hoà (Bình Thạnh ngày nay), lập cả Hội tương tế để giúp đỡ lẫn nhau và dạy nghề điện cho những người mới đến.

Nhà thờ Chợ Quán

Chợ Quán nguyên là tên một xứ đạo hình thành vào khoảng cuối thế kỷ 18. Nhà thờ Chợ Quán xây dựng từ 1887 đến 1896 – một trong những nhà thờ xây dựng sớm nhất và đẹp nhất tại Sài Gòn. Dần dần khu vực này phát triển thành một phần của đô thị Sài Gòn mở rộng hồi cuối thế kỷ 19.

Học giả Trương Vĩnh Ký cho rằng những người lập nên họ đạo là lưu dân thuộc phường Ðúc ở Huế. Ðến năm 1725, giáo xứ đã có khoảng 300 bổn đạo. Từ năm 1674 đã có ngôi nhà nguyện tại làng Tân Kiểng. Chợ Quán sau này trở thành trung tâm đón tiếp lưu dân từ miền Trung vào. Trong buổi đầu hình thành, giáo xứ Chợ Quán trải qua nhiều thử thách và cộng đoàn phải chịu cảnh phân tán. Theo tài liệu của giáo xứ ghi: “Các Cha Thừa sai gặp nhiều khó khăn gian khổ khi truyền giáo. Gian nan nhất là Cha José Garcia: vừa đối phó với hành động chống lại đạo Chúa, vừa bị bão cuốn đi tất cả công trình xây dựng, lại sợ quân Chân Lạp tấn công. Chưa hết, Cha José còn bị quân của Võ Vương bắt giải ra Huế, rồi trục xuất về Philippines. Sau này Cha hoạt động ở Hà Tiên và qua đời tại đây. Ðiều đó nói lên sự dũng cảm đáng khâm phục của các Cha Thừa sai khi truyền giáo trên đất Việt.

Năm 1882, linh mục chánh xứ Nicolai Hamm (Tài) khởi công xây dựng nhà thờ mới. Công trình này kéo dài suốt 14 năm, trải qua 6 đời chánh xứ đến năm 1896 thì hoàn tất. Ngôi nhà thờ mới khánh thành vào năm 1896 và tồn tại đến nay. Ðây là một ngôi giáo đường tuy nhỏ nhưng kiến trúc rất đẹp và thanh nhã.

Trang Nguyên
Nguon: Bao Tre Online

Want your business to be the top-listed Government Service?

Culinary Team

Attire

Website