Pháp Luân Đại Pháp Tại Hàn Quốc

Pháp Luân Đại Pháp Tại Hàn Quốc

Share

Pháp Luân Đại Pháp là để độ nhân

Pháp Luân Đại Pháp (còn gọi là Pháp Luân Công) là môn tu luyện Phật gia thượng thừa, do ông Lý Hồng Chí, Sư phụ của pháp môn sáng lập. Pháp môn lấy [việc] đồng hoá với đặc tính “Chân Thiện
Nhẫn” của vũ trụ làm căn bản, lấy đặc tính tối cao của vũ trụ làm chỉ đạo, là chiểu theo nguyên lý diễn hoá của vũ trụ mà tu luyện.

02/06/2026

🌷 TRẺ NHỎ LỚN LÊN VÀ THÀNH TÀI DƯỚI ÁNH SÁNG CỦA ĐẠI PHÁP 🌷

Chúng ta từ trong Pháp nhận thức được rằng, con người thế gian ngày nay đều là những sinh mệnh từ tầng thứ cao giáng hạ xuống cõi trần để đắc Pháp. Đặc biệt là những đứa trẻ trong các gia đình học viên Đại Pháp thời Chính Pháp lại càng có mối duyên phi thường với Đại Pháp. Sư phụ từ bi vĩ đại đã tỉ mỉ an bài cho các cháu chuyển sinh trong luân hồi, đồng thời Ngài còn luôn quan tâm chăm sóc từng li từng tí, bồi đắp và dẫn dắt các cháu trưởng thành khỏe mạnh. Các cháu thực sự quá đỗi may mắn.

Tôi muốn chia sẻ một vài câu chuyện con trai tôi đã lớn lên và trưởng thành dưới ánh sáng của Đại Pháp, để chứng thực sự siêu thường vĩ đại của Đại Pháp, đồng thời bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với ân đức hồng đại của Sư phụ.

Tôi đắc Pháp năm 1997, khi ấy con trai tôi còn chưa sinh ra. Cho nên cháu ở trong bụng mẹ đã bắt đầu được nghe Sư phụ giảng Pháp, nghe nhạc của năm bài công pháp, nghe âm thanh thần tiên của Phổ Độ và Tế Thế, vậy nên cháu đã được hưởng ơn trạch cam lộ của Phật Pháp.

Đại Pháp giúp con có tấm lòng lương thiện từ nhỏ

Ngay sau khi con trai bắt đầu biết nói, tôi đã dạy cháu học thuộc một số bài thơ trong Hồng Ngâm. Đến học kỳ hai lớp một, tôi bắt đầu cho cháu đọc Luận Ngữ. Những chữ cháu chưa biết, tôi liền chỉ bảo. Dưới sự gia trì của Sư phụ, tuy cháu còn chưa biết được bao nhiêu chữ, nhưng vẫn có thể đọc được dù còn ngắc ngứ. Tôi rất hy vọng cháu có thể trở thành một tiểu đệ tử Đại Pháp nên đã khích lệ cháu học Chuyển Pháp Luân vài lần. Tuy nhiên, do hạn chế về tầng thứ tâm tính của bản thân, tôi không biết cách hướng dẫn cháu nhiều hơn trong việc đề cao tâm tính và làm người, cũng chưa thể lấy việc thực tu của mình làm tấm gương để giúp cháu hiểu ra và dẫn dắt cháu, dẫn đến cháu dần dần mất đi hứng thú học Pháp. Điều này khiến tôi vô cùng hối tiếc.

Mặc dù tôi chưa làm tròn bổn phận, nhưng chỉ với vài lần ít ỏi đọc Chuyển Pháp Luân, những Pháp lý của Đại Pháp đã sớm bén rễ trong tâm hồn non trẻ của cháu. Sư phụ giảng:

“Khi giáo dục cho trẻ nhỏ, vì muốn tương lai sau này có thể xác lập chỗ đứng trong xã hội người thường nên người lớn thường hay dạy bảo ngay từ tấm bé: “con phải biết sống khôn khéo”. Từ vũ trụ chúng ta mà xét thì thấy “khôn khéo” ấy đã sai quá rồi; bởi vì chúng tôi giảng tuỳ kỳ tự nhiên, đối với lợi ích cá nhân cần coi nhẹ. Nó mà khôn kiểu ấy, chính là chạy theo lợi ích cá nhân. “Đứa nào nạt dối con, con hãy tìm thầy giáo nó, tìm cha mẹ nó”; “thấy tiền [rơi] con hãy nhặt [bỏ túi]”, toàn giáo dục trẻ như thế. Từ bé đến lớn đứa trẻ tiếp thụ những thứ như thế rất nhiều, dần dần tại xã hội người thường tâm lý tự tư của nó càng ngày càng lớn; nó chỉ muốn chiếm lợi riêng cho mình, và nó sẽ tổn đức.” (Trích Bài giảng thứ Hai – Chuyển Pháp Luân)

Đương nhiên, nếu hỏi cháu về những Pháp lý này thì có thể cháu chưa chắc đã nói ra được, nhưng trong tâm cháu lại hiểu rõ ràng. Từ nhỏ cháu đã không nhặt tiền rơi trên đường. Khi mới khoảng năm, sáu tuổi, có lần nhìn thấy tờ tiền năm tệ rơi trên mặt đất trong khu dân cư, cháu liền nói với người bán hoa quả gần đó. Người ta bảo cháu cứ nhặt lấy, nhưng cháu nhất quyết không nhặt. Sau đó người bán hoa quả nhặt lên đưa cháu mua đồ ăn vặt, cháu cũng không lấy. Về sau người bán hoa quả kể lại với tôi: “Con chị thật ngoan, thấy tiền rơi trên đất cũng không nhặt”. Vì chuyện đó, tôi đã đặc biệt khen ngợi cháu.

Có lẽ lúc đó Sư phụ đã bắt đầu khảo nghiệm tâm tính của cháu rồi. Sau đó, Ngài không chỉ một lần để cháu nhìn thấy tiền rơi trên đất, và lần nào cháu cũng có thể coi như không thấy. Khi lớn hơn một chút, các quan niệm người thường nhiều lên, tâm ích kỷ cũng dần xuất hiện, cháu bắt đầu có những nhận thức và cảm nhận về giá trị và tác động của tiền bạc. Có lần cháu thấy trước cửa nhà đối diện có tờ mười tệ, cháu về nhà nói với tôi: “Mẹ ơi, lúc đó con động tâm rồi, nhưng cuối cùng con vẫn nhẫn được, không nhặt”.

Giờ đây khi đã trưởng thành, cháu vẫn luôn giữ được sự thiện lương. Hễ thấy người yếu thế, nghèo khó, cháu đều cố gắng giúp đỡ; về lợi ích vật chất thì không tranh giành với ai, khi gặp chuyện cũng luôn biết nghĩ cho người khác, dù bản thân có chịu thiệt cũng không oán trời trách người hay đố kỵ người khác. Tôi rất mừng khi thấy cháu không tham của bất nghĩa, vui vẻ giúp người, biết hy sinh lợi ích cá nhân để nhường cho người khác.

Vững tin rằng Sư phụ luôn bên mình

Tuy con trai tôi không học Pháp nhiều, nhưng đối với Đại Pháp và Sư phụ, cháu luôn giữ vững chính niệm, chính tín. Tôi không nhớ rõ là hồi cháu mấy tuổi, có một lần tôi hỏi: “Con ngưỡng mộ ai nhất?” Cháu lập tức trả lời: “Sư phụ!”

Có lần cháu trượt xe scooter, còn tôi thì dắt xe đạp đi theo sau, một lúc thì tôi mất dấu cháu. Bỗng một trận lốc xoáy mạnh nổi lên (chú thích: nếu là loại vòi rồng mạnh thì có thể cuốn cả ô tô lên trời). Khi ấy gió thổi tung hết quần áo khiến tôi không thể bước tiếp, bụi đất cũng làm mờ hết cả mắt. Lúc đó tôi vô cùng lo lắng cho sự an nguy của con. Sau khi gió lặng, tôi vội vàng đi tìm, thì cháu đã đến tìm tôi trước, lúc ấy mặt mũi cháu đầy bụi đất. Câu đầu tiên cháu nói ra lại là để an ủi tôi: “Mẹ ơi, mẹ đừng sợ, không sao đâu, có Sư phụ bảo hộ mà!” Tôi cảm động đến mức chẳng biết phải nói gì.

Giữ vững chính tín, phân rõ thiện ác

Khi con trai tôi học lớp 2 tiểu học, lớp phát khăn quàng đỏ và yêu cầu phụ huynh đóng tiền. Lúc đó, tôi đã viết một bức thư giảng chân tướng cho cô giáo và trả lại khăn quàng đỏ. Sau đó, cô giáo báo sự việc lên nhà trường. Chồng tôi biết chuyện rất tức giận, ép cháu phải gia nhập đội thiếu niên tiền phong của tà đảng. Đến lớp 8, trường lại yêu cầu tất cả học sinh gia nhập đoàn thanh niên. Vì trước đó tôi từng giảng chân tướng cho cô giáo chủ nhiệm của cháu nên cô gọi điện hỏi tôi rằng có cho cháu vào đoàn hay không. Tôi nói: “Không vào”. Khi con về nhà, tôi hỏi cháu: “Con có vào không?”. Cháu kiên định đáp: “Không vào”. Cuối cùng, cháu trở thành học sinh duy nhất trong lớp không gia nhập đoàn. Về sau khi điền vào các loại hồ sơ, ở mục “Tình trạng chính trị”, cháu luôn đường hoàng ghi là “quần chúng”.

Từ nhỏ con tôi rất ham chơi, không thích học hành, thành tích các môn đều không tốt. Nhưng có một lần trong bài kiểm tra môn Lịch sử ở lớp 8, đề bài có một câu hỏi: “Trong số Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình và Tôn Trung Sơn, em ngưỡng mộ ai nhất? Vì sao?” Cháu trả lời: “Ngưỡng mộ Tôn Trung Sơn nhất, vì ông thực hiện chủ nghĩa Tam Dân”. Khi đọc được bài làm của con, tôi vừa kinh ngạc vừa xúc động. Dù cháu học không giỏi, nhưng lại có thể phân biệt rõ chính – tà, thiện – ác. Đây chính là phương diện quan trọng và quý giá nhất trong sinh mệnh một con người.

Năm 2015, khi phong trào khởi kiện Giang Trạch Dân bắt đầu, con tôi lúc đó mới vào cấp hai. Trong kỳ nghỉ hè, tôi dẫn cháu về nhà ông bà ngoại chơi. Vì cha mẹ tôi đều là đồng tu và cũng đã khởi kiện Giang, nên ngay ngày thứ hai sau khi chúng tôi đến đã có công an đến nhà quấy rối. Mấy người lớn lúc ấy gặp tình huống bất ngờ đều có phần bối rối không biết làm sao. Vậy mà con trai tôi lại rất lễ phép, rót nước mời công an ngồi, sau đó lặng lẽ đi vào phòng thờ Pháp tượng của Sư phụ, chắp tay cầu xin Sư phụ gia trì, bảo hộ cho mọi người được bình an vô sự. Sau khi công an rời đi, em gái tôi (người chưa tu luyện) nói: “Chị và mẹ đều không thể hiện được sự điềm tĩnh, ôn hòa và từ bi vốn có của người tu luyện, thậm chí còn không bằng một đứa trẻ hơn mười tuổi”. Tôi nghĩ lại mà thấy hổ thẹn vô cùng.

Khi con trai vào đại học, chồng tôi, vốn bị văn hóa Đảng đầu độc nặng nề, đã ép cháu phải gia nhập đoàn để sau này có thể gia nhập tà đảng, vì thế mà gia đình luôn trong cảnh căng thẳng, bất hòa. Dù tôi nói thế nào ông ấy cũng không chịu hiểu. Con trai tôi thì tâm trí rất sáng suốt, tự có chủ kiến, luôn kiên định không muốn gia nhập. Nhưng cháu cũng không muốn cha quá giận dữ, lại càng không muốn gia đình xung đột gay gắt, nên đã ôn hòa nói với cha rằng: “Sau này con muốn đi du học, nếu vào Đảng thì có thể sẽ bị ảnh hưởng”. Với ý chí kiên định và lời giải thích khéo léo, cuối cùng cháu cũng chuyển hóa được quan niệm cố chấp của cha và làm lắng dịu trận phong ba ấy.

Năm ngoái, khi tôi bị giam giữ phi pháp tại trại tạm giam, con trai tôi tích cực tìm cách giải cứu, luôn mong mỏi có thể mời được luật sư chính nghĩa biện hộ vô tội cho tôi, hy vọng tôi có thể đường đường chính chính bước ra khỏi trại tạm giam. Cháu cũng hy vọng qua quá trình này, cha của cháu, vốn luôn phản đối việc tôi tu luyện, có thể từ góc độ pháp luật thế tục mà hiểu ra rằng tu luyện Đại Pháp là không hề phạm pháp, từ đó thay đổi quan niệm, thái độ đối với Đại Pháp và nhìn rõ bộ mặt tà ác thật sự của ĐCSTQ. Đây là một cách hữu hiệu để giúp tôi có một hoàn cảnh tu luyện trong gia đình dễ chịu hơn.

Trong quá trình cứu mẹ, con trai tôi còn tự tay viết một bức thư khuyến thiện gửi đến thẩm phán chủ tọa, trong thư chân thành bày tỏ rằng: “Mẹ tôi tu luyện Đại Pháp chỉ để trở thành người tốt, không có gì sai cả. Tôi hy vọng thẩm phán có thể giữ gìn lương tri và thiện niệm, “giơ cao đánh khẽ”, tuyên bố vô tội và thả tự do cho người mẹ hiền lương, từ bi của tôi”. Tuy mong muốn của cháu không thể thành hiện thực, nhưng cháu đã tận tâm tận lực, làm tròn bổn phận của mình.

Khi nghỉ hè, cháu tranh thủ đi làm thêm, kiếm được một chút tiền. Tôi gợi ý cháu quyên góp 100 tệ cho điểm tài liệu, nhưng cháu đã đưa 200 tệ. Lần thứ hai cháu lại quyên góp tiếp 200 tệ nữa. Tuy số tiền không nhiều, nhưng một điểm tâm ý và tâm nguyện của cháu thật tốt đẹp và trân quý.

Chỉ ra thiếu sót của tôi, giúp tôi đề cao trong tu luyện

Khi tôi dần dần nhận thức được tầm quan trọng và sự trân quý của việc hướng nội tu luyện, con trai tôi cũng dùng thiện ý và trí huệ để chỉ ra những thiếu sót của tôi, giúp tôi đề cao tâm tính. Có lần, trong bữa cơm có ba người trong nhà, không nhớ rõ vì chuyện gì mà tôi đã nói lời bất thiện với chồng. Khi ấy con trai tôi không nói gì. Ăn xong, lúc tôi đang rửa bát, cháu bảo: “Mẹ à, để con rửa cho. Trên điện thoại con có một bài viết rất hay, mẹ xem thử đi”. Tôi đọc đoạn đầu, đại ý bài ấy nói về việc trong gia đình không nên dùng thái độ áp đặt. Trong lòng tôi nghĩ: “Bài này nên để cho bố nó đọc mới phải”. Nhưng khi tôi kiên nhẫn đọc hết, tôi mới nhớ ra rằng mình là người tu luyện, gặp mâu thuẫn trước tiên phải hướng nội tìm. Lúc ấy tôi mới nhận ra: chẳng phải bài viết này đang nói về chính mình sao? Sao lại cứ luôn đổ lỗi cho người khác?

Lúc ấy con trai tôi hỏi: “Mẹ nghĩ bài viết đó đang nói mẹ hay nói bố con?”. Tôi nói mình đã nhận ra lỗi của bản thân. Cháu bình tĩnh nói: “Mẹ dùng giọng điệu như thế nói bố, mẹ không nghĩ bố sẽ cảm thấy như thế nào sao?”. Tôi nghe xong rất hổ thẹn vì mình tu luyện bao năm rồi, mà còn không bằng con trai chưa tu luyện. Cháu cũng thường chỉ ra cho tôi những chỗ chưa tốt như: lời nói cứng nhắc, thiếu dịu dàng, thói quen tư duy mang nặng màu sắc văn hóa Đảng, v.v. Những lời ấy đã có tác dụng điểm ngộ, nhắc nhở, giúp tôi đề cao trong tu luyện.

Được Sư phụ bảo hộ, liên tiếp đắc phúc báo

Trước khi vào đại học, mặt con trai tôi nổi rất nhiều mụn. Cháu vốn là một thanh niên khá khôi ngô, người khác nhìn vào mặt lại thấy giật mình. Cháu đi bệnh viện, thẩm mỹ viện, bôi đủ loại thuốc đặc trị hay mỹ phẩm chăm sóc da nhưng đều không có tác dụng.

Khi cháu lên đại học, nơi chúng tôi sống xảy ra dịch bệnh nghiêm trọng, hai mẹ con bị phong tỏa trong nhà. Tôi nhân dịp đó khuyên cháu học Pháp, luyện công. Dù cháu chưa thể nhanh chóng bước vào trạng thái tinh tấn thực tu, mỗi ngày chỉ luyện công nửa tiếng, học Pháp nửa tiếng, nhưng điều kỳ diệu là: chỉ hơn một tuần, những nốt mụn trên mặt đã giảm đi rất nhiều, chỉ còn lại chút ít. Thực ra lúc đó cả hai mẹ con đều không có ý định lợi dụng việc học Pháp, luyện công để chữa mụn. Tôi chỉ hy vọng cháu đừng xa rời Đại Pháp. Kết quả “vô cầu nhi tự đắc”, Sư phụ đã tiêu nghiệp cho cháu rất nhiều, khiến chúng tôi cảm nhận sâu sắc sự thần kỳ của Đại Pháp và ân đức vô thượng của Sư phụ!

Tôi nhớ lại từ nhỏ cháu rất ham chơi, học hành lơ là, thành tích kém. Khi thi lên cấp ba, kết quả lại vượt xa dự đoán, đỗ vào một trường trung học rất tốt. Trong thời gian học cấp ba, cháu vẫn không chú tâm học văn hóa, vì là học sinh lớp chuyên thể thao nên thường lấy lý do “tập luyện” để đi chơi, khiến tôi rất phiền muộn, lo lắng không biết cháu có thi đỗ đại học hay không, trong lòng chỉ biết tự an ủi bằng câu “thuận theo tự nhiên”.

Gần cuối năm lớp 11, một người bạn học đề nghị cháu thử luyện một môn điền kinh, vì cháu có lợi thế về chiều cao. Cháu về nhà nói với tôi: “Chắc đây là Sư phụ an bài cho con”. Lúc ấy cháu có thể nghĩ đến Sư phụ an bài cho mình, thật sự rất quý báu. Nhưng vì thời gian còn lại chưa tới một năm, nên cuối cùng không đạt kết quả như mong muốn, đành phải ôn thi thêm một năm, thời gian luyện tập ngắn, độ khó cũng cao.

Nhưng thật không ngờ rằng, trong thời gian ôn thi lại, dường như có một sức mạnh thần kỳ nào đó đã đánh thức đứa con trai mê mờ, uể oải của tôi. Cháu đột nhiên thay đổi một cách kỳ diệu trên mọi phương diện — chủ động tự giác, nghiêm khắc với bản thân, chăm chỉ học tập. Cả thành tích văn hóa lẫn kết quả luyện tập thể thao chuyên ngành đều có bước tiến nhảy vọt, vượt ngoài sức tưởng tượng. Nhất định là nhờ có sự gia trì và an bài của Sư phụ, cháu đã thi đỗ vào một trường đại học lý tưởng.

Trong thời gian học đại học, cháu luôn cố gắng trên mọi phương diện, thành tích học tập các môn đều xuất sắc. Cháu đã thi đỗ cả chứng chỉ tiếng Anh cấp 4 và cấp 6 (điều mà rất ít sinh viên chuyên ngành thể thao làm được), và hằng năm đều giành được học bổng loại nhất. Năm thứ tư đại học, cháu được đề cử và được tuyển lên học cao học tại một trường đại học ở Bắc Kinh. Gần đây, luận văn của cháu được chọn trình bày tại một hội nghị học thuật tổ chức ở một trong những trường đại học hàng đầu của thủ đô. Cháu còn được mời lên phát biểu tại hội nghị. Cha cháu xúc động thốt lên: “Thật không thể tin nổi! Trước đây nó viết một bài văn ngắn thôi cũng sai chính tả tùm lum, vậy mà bây giờ lại có thể đến các trường đại học hàng đầu để dự hội nghị học thuật, lại còn phát biểu nữa chứ!”

Năm nay, sau khi tôi kết thúc cảnh ngục tù oan sai và trở về nhà, trong buổi họp mặt gia đình bên ngoại, con trai tôi đã hài hước kể lại: “Lúc trước ông ngoại con đã định sẵn công việc cho con rồi, nói rằng sau này con ‘hoặc đi làm bảo vệ, hoặc đi bán đậu phụ’” (Câu nói ấy là lời đùa pha chút động viên của cha tôi dành cho đứa cháu trai). “Nhưng không ngờ, cuối cùng con lại có thể học cao học tại một trường trọng điểm”.

Tôi hiểu rất rõ, đây đều là Sư phụ cấp cho hết. Cháu có chính niệm với Đại Pháp, nên Sư phụ đã ban cho cháu hết thảy mọi điều tốt đẹp nhất. Con xin cảm tạ Sư tôn!

NGUỒN: CHÁNH KIẾN

(Tác giả: Đệ tử Đại Pháp tại Đại Lục)

02/06/2026

🪷 MỘT CÂY SÁO TRÚC MANG ĐẾN SỰ CHẤN ĐỘNG 🪷

Tiểu Bảo rất yêu thích âm nhạc, ngoài việc học đàn nhị với giáo viên chuyên nghiệp, ở nhà cháu còn thường xuyên thổi các bài sáo trúc, sáo bầu. Vì các loại nhạc cụ thổi tương đối đơn giản, chẳng hạn như sáo bầu, không ai dạy mà cháu cũng có thể tự thổi được một vài ca khúc. Thường thì sau khi làm xong bài tập, Tiểu Bảo sẽ lấy sáo trúc hoặc sáo bầu ra thổi vài khúc, ví dụ như bài “Đắc độ”, “Mộng tỉnh”, “Xin hãy ngồi cạnh bên tôi”, v.v..

Trước thềm Tết Nguyên Đán, Tiểu Bảo hỏi tôi liệu trong buổi liên hoan lớp có nên biểu diễn một khúc nhạc cho các bạn học hay không. Tôi nói: “Nên chứ!” Tôi khuyên cháu thổi sáo thay vì kéo đàn nhị, bởi vì những khúc đàn nhị mà Tiểu Bảo luyện tập chỉ là các bài luyện kỹ năng cơ bản, chứ cháu chưa biết chơi các khúc nhạc lớn. Còn sáo thì tương đối đơn giản hơn, hơn nữa trên trang Chánh Kiến Thiên Âm có rất nhiều khúc nhạc sáo, trong đó có hai bản rất hay là “Thiên vận vũ xuân phong” và “Ngạo tuyết xuân mai”, lại có cả nhạc phổ có thể tải về. Tiểu Bảo quyết định sẽ thổi khúc “Ngạo tuyết xuân mai”. Gần một tháng trước Tết Nguyên Đán, hầu như mỗi ngày Tiểu Bảo đều thổi đi thổi lại vài lần. Trước lúc buổi biểu diễn chào mừng Tết Nguyên Đán bắt đầu, cháu đã thổi rất trôi chảy rồi. Đương nhiên, trình độ vẫn còn cách xa nghệ sĩ chuyên nghiệp, nhưng đối với người nghe thông thường thì đã rất là hay rồi.

Vào sáng hôm diễn ra buổi liên hoan, Tiểu Bảo mang theo cây sáo trúc nhỏ nhất, loại sáo trúc Tone G, để biểu diễn. Theo lý mà nói thì nên dùng sáo loại Tone D lớn và to hơn để biểu diễn, nhưng do tay Tiểu Bảo còn nhỏ, nếu sáo quá lớn thì khoảng cách giữa các lỗ sáo quá rộng, ngón tay không thể che hết lỗ được.

Tại buổi liên hoan, Tiểu Bảo biểu diễn một bản sáo đơn tấu có tên là “Ngạo tuyết xuân mai”. Khi đang biểu diễn, Tiểu Bảo nhìn thấy Sư phụ dùng một cây sáo lớn Tone C để chụp lên cây sáo nhỏ Tone G của Tiểu Bảo. Như vậy, tuy Tiểu Bảo thổi là sáo nhỏ Tone G, nhưng âm thanh phát ra lại là tiếng sáo sâu lắng và du dương của cây sáo lớn Tone C. Tiểu Bảo còn nhìn thấy Sư phụ ở trên trời cũng đang thổi khúc “Ngạo tuyết xuân mai” này, đồng thời Ngài còn dùng một cái túi thu lại âm thanh thổi ra, rồi nhẹ nhàng đưa vào ống sáo của Tiểu Bảo, sau đó Tiểu Bảo lại dùng miệng thổi ra ngoài. Âm thanh phát ra vô cùng êm ái, khoáng đạt và phiêu dật, như thể đến từ vũ trụ bao la. Khi biểu diễn, năng lượng từ các lỗ sáo phát ra giống như những đám mây vàng kim, từng đám từng đám bay lên không trung trong lớp học, rồi hóa thành từng ngọn núi lớn, trong chớp mắt đè xuống những vật chất ma tính trong đầu các bạn học sinh. Những tư tưởng xấu của mỗi người đều bị thanh trừ, ví dụ những vật chất xấu như nói bậy, còn có những yếu tố độc hại do máy tính, TV, mạng Internet, v.v. gây ra, tất cả đều không còn nữa. Cả lớp học tràn ngập năng lượng vàng kim, có dòng năng lượng còn chảy hướng ra bên ngoài cửa sổ. Sau khi Tiểu Bảo thổi xong một khúc nhạc, các bạn học sinh vô cùng vui mừng, đều nói: “Thổi hay quá!” Các thầy cô giáo trong phòng học cũng đến nghe Tiểu Bảo thổi sáo, ai cũng nói: “Tiểu Bảo, giỏi quá!” Theo lời mời của các bạn, Tiểu Bảo lại thổi thêm một bản nữa là “Xin hãy ngồi cạnh bên tôi”. Thổi xong hai bản, Tiểu Bảo mệt đến mức mồ hôi đầm đìa.

Biểu diễn đến giữa chương trình, mấy bạn nữ học lớp 5 đã đến lớp của Tiểu Bảo để biểu diễn một tiết mục múa. Sau khi các bạn ấy biểu diễn xong, cô giáo chủ nhiệm của Tiểu Bảo hỏi cả lớp: “Lớp mình chọn ai đại diện cả lớp để biểu diễn cho các bạn lớp 5 đây?” Cả lớp đồng thanh hô to: “Tiểu Bảo! Tiểu Bảo giỏi nhất!” Thế là Tiểu Bảo lại đến lớp 5 biểu diễn một khúc nhạc nữa.

Đương nhiên là vẫn nhờ Sư phụ gia trì. Nhưng lần này, Sư phụ đưa cho Tiểu Bảo một cây sáo Tone A, vừa mảnh vừa dài, âm thanh phát ra thì cao vút và chấn động lòng người. Lần này, năng lượng mà Tiểu Bảo thổi ra biến thành từng chiếc phi tiêu nhỏ hình thoi, đâm thẳng vào từng nhân tố bất chính trong đầu các bạn học sinh. Theo từng làn hơi sáo của Tiểu Bảo, những chiếc phi tiêu nhỏ từng nhóm, từng nhóm bay ra, không ngừng thanh lý những vật chất xấu. Cuối cùng, các phi tiêu nhỏ lại tụ lại thành một chiếc phi tiêu khổng lồ, xoay tròn và đâm thẳng vào những vật chất xấu chuyên khiến người ta chửi bới. Bởi vì trong lớp 5, hiện tượng chửi bậy diễn ra rất nghiêm trọng.

Nghe xong lời kể của Tiểu Bảo, tôi cũng rất kinh ngạc. Thực sự không ngờ rằng một tiểu đệ tử tám tuổi, chỉ dựa vào cao hứng thổi mấy khúc sáo, hơn nữa kỹ thuật lại còn chưa thành thục, vậy mà dưới sự gia trì của Sư phụ lại có thể tạo ra hiệu quả chấn động đến vậy. Có thể tưởng tượng được rằng, khi các diễn viên Thần Vận biểu diễn, có biết bao nhiêu Pháp thân của Sư phụ gia trì, trường năng lượng phát ra mạnh mẽ đến mức nào, nên mới có thể tạo ra hiệu quả chấn động như vậy, Thần Vận quả không hổ danh là tiết mục biểu diễn hàng đầu thế giới.

NGUỒN: CHÁNH KIẾN
(Tác giả: Thành Ngọc)

31/05/2026

🙏 TỪ NGƯỜI THƯỜNG ĐẾN NGƯỜI TU LUYỆN 🙏

Bức ảnh này được chụp tại công viên National Mall ở Washington vào năm 1998. Hôm đó, Washington đón trận tuyết dày đầu tiên kể từ đầu mùa đông. Người trong bức ảnh này vừa mới bắt đầu tu luyện Pháp Luân Công được ba tháng.

Ông Dư, kỹ sư máy tính nói: “Chúng tôi chụp ảnh chung với các bạn tập công. Trong bức ảnh nếu có cảnh tôi đang luyện công, thì thường là tôi đang tập ép chân. Vì tôi không thể ngồi song bàn nên lúc mới đầu phải ép chân trong thời gian rất lâu. Bởi vì lúc đó tôi cảm thấy môn tu luyện này thực sự rất tốt và thực sự là một môn tu luyện chính Pháp. Ấn tượng đầu tiên của tôi là Pháp Luân Công rất chính thường. Đó là ấn tượng đầu tiên của tôi”.

Sau khi hiểu được sơ bộ các Pháp lý của Pháp Luân Đại Pháp, nhiều người đã nảy sinh mong muốn tu luyện lên cao. Nhưng mà, tình trạng của những người mới bắt đầu tu luyện này như thế nào? Bản báo cáo khảo sát do các chuyên gia y tế thực hiện vào năm 1998 đã cung cấp cho chúng tôi một số dữ liệu sau. Trong số hơn 12.000 học viên Pháp Luân Công tham gia khảo sát, số người trên 50 tuổi chiếm 52%, số người mắc nhiều hơn một căn bệnh mạn tính chiếm 83% và bình quân mỗi người chi hơn 1.760 nhân dân tệ chi phí thuốc men y tế quốc gia mỗi năm. Nhiều người trong số họ đến với Pháp Luân Công vì họ mắc các căn bệnh nan y và đã đi khắp nơi chữa trị nhưng không có kết quả.

Trong chương trình “Sức khỏe ABC” của Đài Truyền hình Giáo dục Cát Lâm, một học viên Pháp Luân Công ở thành phố Trường Xuân cho biết: “Khi đó tôi mắc bảy căn bệnh: bệnh động mạch vành, thiếu máu do khối u não, đục thủy tinh thể ở cả hai mắt và hội chứng Meniere. Đốt sống cổ của tôi từ đốt sống thứ hai đến đốt sống thứ tư đều bị tăng sản. Cổ và cơ thể tôi đều nằm trên một đường thẳng, phải xoay chuyển cả người như thế này. Có lúc tôi nghĩ, phải nói là tôi đang sống trong đau đớn tột cùng, và ý nghĩ không thiết sống luôn dày vò tôi”. (Phóng viên hỏi: “Theo bà, lợi ích lớn nhất của việc luyện Pháp Luân Công là gì?”) “Lợi ích lớn nhất là cơ thể tôi đã trải qua những thay đổi căn bản từ trong ra ngoài. Vốn trước khi luyện công, lục phủ ngũ tạng của tôi đều có bệnh, cuối cùng tâm lực suy kiệt, đó chính là trạng thái cách cái chết không còn xa nữa”.

Những trường hợp vật lộn lâu dài trong biển khổ đau đớn như thế sau khi tu luyện không lâu đã khỏi bệnh như một kỳ tích không phải là chuyện lạ trong các học viên Pháp Luân Đại Pháp. Những hiện tượng siêu thường đã khiến mọi người phải suy nghĩ sâu sắc.

Trong hội giao lưu tâm đắc tu luyện Pháp Luân Đại Pháp tại Quảng Đông năm 1998, có người chia sẻ: “Tại sao sau khi uống thuốc, tiêm thuốc và nằm viện trong thời gian dài mà bệnh vẫn không khỏi? Nhưng tu luyện chưa đầy ba tháng tôi đã trở thành một người hoàn toàn khỏe mạnh. Điều thần kỳ nằm ở đâu? Là một học viên Pháp Luân Đại Pháp, thông qua việc học Đại Pháp của thầy Lý, về cơ bản tôi đã hiểu được những đạo lý như nguyên nhân căn bản vì sao con người bị bệnh, biểu hiện của nghiệp bệnh và làm thế nào mới có thể thật sự chữa bệnh khỏe thân v.v. Thầy Lý đã giải thích cái lý siêu thường này từ căn bản, nó là lý siêu thường. Vậy thì đối với cái lý siêu thường này, là một người tu luyện chúng ta mà nói, bạn có tin hay không? Sau khi tin rồi bạn có thể làm theo yêu cầu của Sư phụ không? Nếu bạn làm được, liền có thể khỏi bệnh, đó là kỳ tích, thần kỳ như vậy”.

Vào những ngày đó trong những năm 1990, các học viên Pháp Luân Công vẫn kiên trì luyện công ngoài trời bất kể gió mưa, lạnh giá hay nóng bức. Họ luyện công tập thể ở những nơi công cộng, và tạo nên một quang cảnh độc đáo vào sáng sớm ở nhiều nơi.

Đài truyền hình cáp Liêu Ninh năm 1998 đưa tin: “Nếu không phải là tận mắt chứng kiến, quý vị sẽ khó có thể tin rằng lại có rất nhiều người tự phát tập hợp để luyện công như vậy. Vào lúc 5:30 sáng ngày 26 tháng 08…”

Bức tranh có thể trở nên mờ nhạt do thời gian, nhưng lịch sử sẽ không vì che đậy mà bị lãng quên. Hiệu quả thần kỳ của việc chữa bệnh khỏe người khiến Pháp Luân Công chưa từng trải qua bất kỳ tuyên truyền quảng cáo nào đã lan truyền nhanh chóng khắp cả nước, số người tham gia tu luyện tăng vọt. Nhưng thế nào là tu luyện Đại Pháp chân chính, đối với hầu hết những người mới bước vào Pháp Luân Công mà nói thì vẫn là khái niệm rất mơ hồ. Trong thời gian đầu, nhận thức của mọi người đối với tu luyện phổ biến vẫn là khắc khổ luyện công.

Bà Dương, biên tập viên tòa soạn nói: “Mỗi ngày tôi đều kiên trì, chính là bắt đầu từ chỉ ngồi đơn bàn được năm phút, rồi sau đó từ từ, ngày qua ngày, tôi đều kiên trì như vậy, rồi tăng lên 15 phút, sau đó là 30 phút, và sau đó là hơn 40 phút. Từ sau khi đọc sách lần đầu tiên, sau đó tôi không bao giờ đọc thêm lần nào nữa, mà chỉ luyện các bài công pháp”.

Để nhắm vào tình huống này, vào tháng 12 năm 1995 Ngài Lý Hồng Chí đã viết bài “Bái sư”, dạy các đệ tử của mình phải “Dĩ Pháp vi Sư”. Trong bài có viết:

“Người thực tu không chấp vào truy cầu nhưng vẫn tự đắc được, hết thảy công, hết thảy Pháp tất cả đều ở trong sách, bằng đọc Đại Pháp mà tự đắc được cả. Người học tự có biến hóa, đọc đi đọc lại sẽ tự ở trong Đạo”.

Ngài Lý bảo các học viên thông đọc nhiều lần, đó chính là cuốn “Chuyển Pháp Luân” này.

Hiện nay, khi mọi người ở nước ngoài có thể mua cuốn sách này bất cứ lúc nào tại các hiệu sách, đặt hàng qua điện thoại hoặc thậm chí tải xuống miễn phí trên Internet, mọi người có lẽ không nghĩ đến việc các học viên ở Trung Quốc đại lục đã từng khao khát nó như thế nào.

Vũ Hán, nằm ở đoạn giữa và hạ lưu sông Trường Giang, là một nơi được các thi nhân gọi là Hoàng Hạc và Bạch Vân. Đây cũng từng là cơ sở chính để in sách Pháp Luân Đại Pháp. Vào đầu năm 1995, cuốn “Chuyển Pháp Luân” vừa mới được xuất bản, bởi vì số lượng phát hành có hạn, khi đó hai học viên mới có một quyển sách, có một số vùng nông thôn xa xôi còn không thể mua được. Ở đây chúng tôi đã nghe được rất nhiều câu chuyện cảm động mà năm đó các học viên phải trải qua gian khổ mới có thể sớm được đọc sách Đại Pháp.

Cô Trương, một học viên ở Vũ Hán nói: “Tôi nhớ một lần chúng tôi đến Cửu Giang, có một học viên từ vùng nông thôn Giang Tây đã đi bộ mấy chục dặm đến bến tàu Cửu Giang để đợi tàu chở sách Đại Pháp (Chuyển Pháp Luân) đến. Còn có một lần là vào mùa xuân năm 1995, vào tháng Hai, ở Nam Kinh tuyết lớn, băng tuyết ngập trời. Thật không may, hôm đó tàu bị trễ ba tiếng đồng hồ. Kết quả là các học viên Nam Kinh đã phải đợi đúng bốn tiếng đồng hồ tại bến tàu ở Nam Kinh, bất chấp tuyết rơi dày đặc, không một ai rời đi, tất cả đều nhìn chằm chằm vào mặt sông Dương Tử, trông ngóng con tàu chở sách sớm xuất hiện. Đợi đến khi con tàu xuất hiện trên mặt sông, các học viên trên bến tàu đồng thanh hét lên: ‘Tàu đến rồi, tàu đến rồi, sách Đại Pháp đến rồi!’”

Đây chính là nguyện vọng chất phác và mãnh liệt của mọi người vào thời điểm đó với khát vọng phản bổn quy chân và đồng hóa với “Chân, Thiện, Nhẫn”. Kể từ đó, các học viên ngoài việc luyện công hàng ngày, lại tăng thêm các hoạt động đọc sách học Pháp vào thời gian rảnh rỗi. Chính là trong cuốn sách này, Ngài Lý Hồng Chí đã giảng rõ ràng các yếu tố then chốt để một người thực sự đề cao.

“Vậy luyện công chẳng tăng công có hai nguyên nhân [nói] trên: không biết Pháp tại cao tầng thì chẳng có cách nào tu; không hướng nội mà tu, không tu tâm tính [thì] chẳng thể tăng công. Đó chính là hai nguyên nhân”. (Bài giảng thứ nhất, Chuyển Pháp Luân)

Muốn trở thành một người tu luyện Pháp Luân Đại Pháp chân chính, cần phải đề cao tâm tính của bản thân theo tiêu chuẩn “Chân, Thiện, Nhẫn”. Muốn đề cao tầng thứ tu luyện, trước tiên người ta phải loại bỏ đi các loại quan niệm và chấp trước không tốt đã hình thành trong xã hội người thường.

Lật giở từng trang sách cuộc đời, máy quay ghi lại những hỉ nộ ai lạc và cay đắng ngọt bùi của con người thế gian. Những khuôn mặt khác nhau lại có số phận giống nhau. Một số sở thích và thói quen xấu trong cuộc sống là những thứ mà mọi người biết là có hại, nhưng lại rất khó từ bỏ.

Hút thuốc có hại cho sức khỏe là một sự thật mà mọi người đều biết. Ngay từ tháng 01 năm 1996, trên toàn quốc đã phát động một chiến dịch “Cấm hút thuốc”. Quảng cáo thuốc lá đã bị cấm xuất hiện trên truyền hình, và 26 thành phố bao gồm cả Bắc Kinh đã thông qua pháp lệnh cấm hút thuốc ở nơi công cộng. Nhưng, những tuyên truyền và pháp lệnh này không có nhiều tác dụng. Lượng tiêu thụ thuốc lá hàng năm của Trung Quốc vẫn đứng đầu thế giới, với 350 triệu người hút thuốc, con số này vẫn đang tăng với tốc độ hàng năm là 2%. Ông Dương, một tiến sĩ Y khoa nói: “Tôi đã hút thuốc mười năm rồi, một đến hai bao thuốc lá mỗi ngày. Và khi hút thuốc tôi có một thói quen rất tệ, thường sau khi quẹt một que diêm châm thuốc xong, tôi liền hút hết điếu này đến điếu khác. Sau đó tôi đọc cuốn sách này và bắt đầu hiểu ra. Bởi vì trước đây tôi nghĩ rằng cuộc sống vô thường, đời người khổ và ngắn ngủi. Sau đó, đôi khi tôi nghĩ, được ngày nào xào ngày ấy, dù sao thì cũng không biết một lúc nào đó mình đã đi đến đâu rồi. Trên thực tế, nó phản ánh một loại bất lực đối với cuộc sống, bởi vì tôi nghĩ rằng cuộc đời chính là như vậy và con người căn bản là không có hy vọng gì cả. Vậy mà bây giờ có một phương pháp tu luyện như thế, đối với tôi mà nói, một điều không thể đã trở thành có thể. Ví dụ, con người nhất định phải già yếu sao? Nhất định phải bị bệnh sao? Nhất định phải thống khổ sao? Trước đây, tôi nghĩ rằng nó phải như vậy, nhưng bây giờ có khả năng không phải như vậy. Vì vậy, tôi cảm thấy cuộc sống đột nhiên có hy vọng. Vậy vì hy vọng này, việc bỏ thuốc lá quả thật không phải là cái gì cả, mà rất tự nhiên”.

Nhận thức hoàn toàn mới về cuộc sống, về xã hội và vũ trụ khiến cho người tu luyện trong khi từ bỏ những sở thích và thói quen xấu này mà không có sự thống khổ và tái phát như trước đây, và chất lượng cuộc sống của mọi người phát sinh một sự thay đổi hoàn toàn mới có tính căn bản. Những người cảm thấy sâu sắc nhất phải kể đến những người đã hoàn toàn tuyệt vọng đối với nhân sinh.

Ông Cao, một học viên đến từ Quảng Châu nói: “Có một giáo viên trẻ ở Mậu Danh. Anh ấy đi đánh bạc để chơi ma túy, sau đó đã tiêu hết sạch tiền của gia đình, họ hàng và bạn bè. Ai nhìn thấy anh ta cũng sợ. Thân thể bị hành hạ không ra hình người, gầy đến mức da bọc xương, dường như không có dũng khí để sống tiếp. Trong một cơ duyên tình cờ, anh ấy gặp được Đại Pháp. Dưới sự gia trì của uy lực Đại Pháp, anh ấy đã nhanh chóng cai được ma túy, cai được cờ bạc, quả thực là hoàn toàn thay đổi thành một con người khác. Sau mấy tháng anh ấy đã viết một bài tâm đắc thể hội có tựa đề ‘Ma túy đã biến tôi thành ma quỷ, và Đại Pháp đã biến tôi từ ma quỷ thành người’ rất sống động và viết rất hay”.

Thanh lý những tư tưởng bất hảo và quét sạch bụi trần trong cuộc sống, các học viên trong bước đầu gian nan tu luyện sẽ gặp phải những khó khăn mà không thể lường trước. Rất nhiều người trước đây đã luyện qua nhiều môn khí công khác nhau, cũng có không ít người mãi đang tìm kiếm và suy nghĩ về ý nghĩa thực sự của cuộc sống. Sau khi tiếp xúc với Pháp Luân Đại Pháp, mọi người ngay lập tức hiểu ra nhiều vấn đề mà họ muốn hiểu nhưng lại không hiểu được. Tâm tình họ bị kích động là điều có thể tưởng tượng ra được.

Làm thế nào để sắp xếp mối quan hệ giữa tu luyện và gia đình là một vấn đề rất quan trọng mà rất nhiều học viên phải đối mặt trong giai đoạn đầu tu luyện. Đối với vấn đề này, Đại sư Lý Hồng Chí đã từng giảng rất chi tiết trong “Chuyển Pháp Luân”:

“Tu luyện cần phải tu luyện trong ma nạn, [để] xem [đối với] thất tình lục dục chư vị có thể dứt bỏ hay không, có thể coi nhẹ hay không. Chư vị chấp trước chính vào những thứ ấy, thì chư vị không tu xuất lai được. Bất kể sự việc gì cũng có quan hệ nhân duyên; vì sao người ta có thể làm người? Chính là vì người ta có ‘tình’; người ta vì cái ‘tình’ này mà sống; tình cảm thân quyến, tình cảm nam nữ, tình cảm với cha mẹ, cảm tình, tình bè bạn, thực thi công việc cũng có tình, ở đâu cũng không tách khỏi cái ‘tình’ ấy; muốn làm hay không, cao hứng hay không, yêu và ghét, hết thảy mọi thứ trong toàn bộ xã hội nhân loại đều từ cái ‘tình’ ấy mà ra. Nếu ‘tình’ kia chẳng đoạn, thì chư vị không thể tu luyện được. Người ta nếu nhảy ra khỏi cái ‘tình’ này, thì không ai động đến chư vị được, tâm người thường không động đến chư vị được; thay vào đó là ‘từ bi’, vốn là điều cao thượng hơn. Tất nhiên đoạn dứt điều ấy ngay lập tức không dễ dàng gì; tu luyện là quá trình lâu dài, là quá trình lần lần vứt bỏ các tâm chấp trước của bản thân; nhưng chư vị cần phải tự mình đặt yêu cầu nghiêm khắc cho mình.

Là người luyện công chúng ta sẽ đột nhiên gặp mâu thuẫn. Xử lý thế nào? Bình thường chư vị luôn luôn bảo trì trái tim từ bi, [bảo trì] tâm thái hòa ái; [khi] gặp vấn đề thì sẽ xử lý được tốt, bởi vì nó có một khoảng hòa hoãn. Chư vị luôn từ bi, lấy Thiện đãi người, làm việc gì đều luôn luôn cân nhắc đến người khác, mỗi khi gặp vấn đề thì trước hết nghĩ rằng: ‘Việc này đối với người khác có thể chịu được không, đối với người khác có phương hại gì không’; như vậy sẽ không xuất hiện vấn đề gì. Do đó chư vị luyện công cần theo tiêu chuẩn cao, tiêu chuẩn cao hơn nữa mà yêu cầu bản thân”. (Bài giảng thứ 4, Chuyển Pháp Luân)

Một học viên Pháp Luân Công nói: “Giống như những gì Sư phụ đã dạy, mỗi khi trong nhà có chuyện gì xảy ra tôi đều hướng nội, và lần nào tôi cũng có thể tìm thấy những chấp trước và vấn đề khác của mình. Sau đó, mọi thứ ngày càng tốt hơn, và giờ đây chồng tôi cũng đang làm các công việc trợ giúp Đại Pháp”.

Trong quá trình tu luyện khi gặp mâu thuẫn thì hướng nội tìm, trong cuộc sống và công tác thì không ngừng yêu cầu bản thân trở thành một người tốt và một người tốt hơn nữa, các học viên đều cảm thấy tâm tính của mình đang âm thầm thay đổi. Những suy nghĩ và cách làm từng cho là bình thường đã dần dần thay đổi. Mọi người từ những thay đổi ở trên thân thể của mình đã thể hội được nội hàm của tu luyện Đại Pháp, và môi trường xung quanh họ cũng càng ngày càng trở nên hài hòa và lành mạnh hơn.

Năm 1997, Trung Quốc bước vào năm thứ 20 của cuộc cải cách và mở cửa, nhưng đạo đức xã hội lại có xu thế trượt dốc nhanh chóng. Các tệ nạn xã hội như tham nhũng, hủ bại, mại dâm và xã hội đen v.v., lúc này trở thành hiện tượng phổ biến trong xã hội, thậm chí còn giống kiểu buông xuôi theo dòng. Cũng vào mùa xuân năm 1997, Đại Liên, một thành phố khác ở phía Đông Bắc đã tổ chức Hội nghị giao lưu tâm đắc trong tu luyện Pháp Luân Đại Pháp.

Một tiểu đệ tử đọc “Chuyển Pháp Luân” tại Hội nghị giao lưu tâm đắc trong tu luyện Pháp Luân Đại Pháp tại Đại Liên năm 1997:

“Trong giới tu luyện thường bàn về quan hệ giữa mất và được; nơi người thường cũng hay bàn về quan hệ giữa mất và được. Người luyện công chúng ta đối với ‘mất và được’ như thế nào? Nó khác với người thường; điều người thường muốn được chính là lợi ích cá nhân, [sống] sao được tốt, được thoải mái. Nhưng người luyện công chúng ta không thế…” (Chuyển Pháp Luân)

Đạo lý mất và được trong đoạn Pháp mà tiểu đệ tử mới chỉ bốn tuổi đọc chính là những gì các học viên Pháp Luân Công tự mình thực hành hàng ngày.

Bà Lê, một học viên Pháp Luân Công ở Bắc Kinh đã tham gia lớp học tại Thiên Tân năm 1993, cho biết: “Tất cả mọi người đều đi xe buýt đến Thiên Tân mỗi ngày để tham gia lớp học. Trên xe mọi người có thể ngồi bất cứ chỗ nào, vậy là có người đến trước có thể ngồi ở chỗ tốt hơn, những người đến sau khả năng phải xuống ngồi ở phía sau, tương đối xóc hơn. Lúc đầu, mọi người gấp rút lên xe để giành chỗ ngồi tốt hơn. Sau đó không như vậy nữa, cứ nhường nhau. Có người ngồi ở những chiếc ghế phụ được thêm vào lối đi giữa của xe buýt, ngồi không được thoải mái. Xe phải chạy hơn hai tiếng đồng hồ, ai chẳng muốn ngồi ghế chính, nhưng mọi người đều nhường nhau, đều tranh nhau ngồi vào những ghế phụ ở giữa lối đi”.

Mê trung tu

Thường nhân nan tri tu luyện khổ
Tranh tranh đấu đấu đang tố phúc
Tu đắc chấp trước vô nhất lậu
Khổ khứ cam lai thị chân phúc

Diễn nghĩa:

Tu trong mê

Người thường khó mà hiểu được khổ của tu luyện
Tranh đấu hoài để hưởng phúc lạc
Tu đến chấp trước không còn lậu
Khổ đi rồi ngọt đến đấy là phúc lạc chân chính

Lý Hồng Chí
Ngày 15 tháng 9 năm 1994

(Mê trung tu, Hồng ngâm)

Ở trong hoàn cảnh phức tạp nhất và ở trong quần thể phức tạp nhất mà đề cao tâm tính, đây chính là cảm giác của các học viên Pháp Luân Công tu luyện Đại Pháp đề cao đạo đức.

Ngôi làng Lư Ốc gần huyện Tử Kim, tỉnh Quảng Đông, nổi tiếng với nghề “trộm cắp”. Do điều kiện tự nhiên như nước và đất tương đối tốt, Ủy ban Nông nghiệp Thành phố đã mở một cơ sở trồng trái cây rộng hơn 600 mẫu ở gần làng. Không ngờ, dân làng đều coi cơ sở trồng trái cây này là “con gà đẻ trứng vàng” để phát tài làm giàu. Mỗi khi đến mùa thu hoạch, hầu như gia đình nào cũng lấy trộm trái cây đem ra chợ bán. “Nạn trộm cắp” đã trở thành vấn đề đau đầu nhất đối với công tác quản lý trị an của chính quyền địa phương. Mặc dù hàng năm họ đã dùng rất nhiều nhân lực và vật lực để trông coi, thậm chí đã bắt một số người trộm cắp giá trị lớn đưa ra công khai thị chúng, nhưng dân làng vẫn trộm lấy. Vào đầu năm 1998, Pháp Luân Đại Pháp được giới thiệu đến ngôi làng nhỏ này. Toàn thôn có 300 người, có hơn 80 người tham gia học Pháp và luyện công mỗi ngày. Họ đã tự giác không trộm cắp nữa. Dưới ảnh hưởng của những người này, “nạn trộm cắp” ở đây đã cải biến triệt để. Mùa đông năm đó, dân làng đã cử đại diện đến Quảng Châu tham gia buổi giao lưu tâm đắc thể hội để nói về những thay đổi của họ.

(Hội giao lưu tâm đắc thể hội Pháp Luân Đại Pháp Quảng Châu): “Trước đây tôi không biết được cái lý này, cho rằng tài sản công dại gì mà không lấy, mình không lấy, họ cũng sẽ lấy. Bây giờ biết được cái lý bất thất bất đắc, đắc tựu đắc thất, hiểu được khi con người làm điều xấu, sẽ phải nhận vật chất màu đen – nghiệp lực, và mất đi đức trân quý”. ········ Một cán bộ chính quyền thị trấn Lâm Giang đã nói với sự xúc động: “Pháp Luân Công của các bạn thực sự tuyệt vời, đã khởi được tác dụng mà luật pháp không thể làm được, tôi cũng muốn mua một cuốn sách của các bạn để xem”.

Những thay đổi ở làng Lư Ốc là một hình ảnh thu nhỏ về tác động to lớn của Pháp Luân Đại Pháp đối với xã hội Trung Quốc trong thời kỳ đó. Có học viên nói, người tu luyện chiểu theo yêu cầu về tâm tính của Đại Pháp mà làm, nếu họ là viên chức nhà nước, họ chắc chắn sẽ là những viên chức cần kiệm liêm chính; nếu họ là công nhân, họ chắc chắn sẽ là những công nhân tốt tuân thủ các quy tắc và quy định; nếu họ là người dân thường, họ chắc chắn sẽ là những người hữu ích cho người khác trong xã hội. Về vấn đề này, khi bắt đầu truyền công giảng Pháp, Ngài Lý Hồng Chí đã chỉ ra đạo lý sâu sắc ở trong đó:

“Trạm trưởng một trạm phụ đạo ở thành phố nào đó đã tới nhà máy để xem [tình hình] các học viên luyện Pháp Luân Đại Pháp ở đó [tu] luyện thế nào; giám đốc nhà máy ấy đã đích thân gặp mặt nói: ‘Những công nhân sau khi học Pháp Luân Đại Pháp của các ông, đến sớm về muộn, làm việc hết sức cẩn thận, lãnh đạo phân công việc gì cũng [thực hiện] không nề hà; [họ] cũng không tranh [giành] lợi ích. Họ đều làm việc như thế cả, làm cho diện mạo tinh thần toàn bộ nhà máy khởi sắc [hơn lên], hiệu quả kinh tế của nhà máy cũng tốt. Công của các ông thật là lợi hại; khi nào Sư phụ các ông qua đây, tôi cũng tham gia.’ Mục đích chủ yếu việc tu luyện Pháp Luân Đại Pháp của chúng ta là đưa con người lên cao tầng, chứ không hề nghĩ đến làm những sự việc như vậy; tuy nhiên nó cũng có thể phát huy tác dụng to lớn thúc đẩy văn minh tinh thần của xã hội. Nếu như ai ai cũng hướng vào nội tâm mà tìm, ai ai cũng muốn bản thân làm thế nào cho tốt, thì tôi nói rằng xã hội này sẽ ổn định, tiêu chuẩn đạo đức nhân loại cũng sẽ nâng cao trở lại”. (Bài giảng thứ 4, Chuyển Pháp Luân)

(Chương trình Sức khỏe ABC của Đài truyền hình giáo dục Cát Lâm): “Khi tôi đọc cuốn sách này, tôi cảm thấy rằng nó đã chạm đến trái tim mình. Điều gì đã chạm đến trái tim tôi? Nó chủ yếu yêu cầu chúng ta trở thành một người tiên tha hậu ngã (luôn nghĩ đến người khác trước), không vụ lợi, không vì bản thân, một con người hoàn toàn vì người khác. Hơn nữa, ông đã đưa ra một tiêu chuẩn tâm tính rất nghiêm khắc, được gọi là “Chân, Thiện, Nhẫn”, và bạn phải chiểu theo đó mà tu luyện tâm tính. Sau khi tu tâm tính như thế, tấm lòng của bạn sẽ mở rộng ra, buông bỏ được tất cả mọi thứ. Ví dụ, trong giới trí thức, điều dễ thấy nhất là chấp trước vào danh và lợi, cho nên trong khi bạn được thăng chức, bạn sẽ tranh, sẽ đấu và giành giật, đều là như vậy. Từ khi tôi đọc cuốn sách này, tôi đã coi nhẹ tất cả những thứ đó. Người ta nói rồi, tâm rộng thân mập, tôi đã tăng hơn 10kg”.

Từ ​​người thường đến người tu luyện, rất nhiều người đã bước vào con đường phản bổn quy chân xưa nay chưa từng có như vậy.

Vào năm 1998, ở khắp các thành phố và làng mạc ở Đông Bắc, Hoa Nam, Tây Bắc và trên khắp cả nước, đến đâu cũng có thể nhìn thấy hình ảnh của các học viên Pháp Luân Công. Họ đến từ xã hội, và những gì họ làm sau khi đề cao tâm tính đều có tác dụng to lớn cho sự ổn định xã hội và đạo đức được đề cao.

Vào tháng 11 năm 1998, Đại sư Lý Hồng Chí đã viết bài thơ “Tiếu” là bài cuối cùng trong tập “Hồng Ngâm”:

Tiếu

Ngã tiếu Chúng sinh giác ngộ
Ngã tiếu Đại Pháp khai truyền
Ngã tiếu Độ thuyền khởi hàng
Ngã tiếu Chúng sinh hữu vọng

Tạm dịch:

Cười

Ta cười Chúng sinh giác ngộ
Ta cười Đại Pháp khai truyền
Ta cười Thuyền độ khởi hành
Ta cười Chúng sinh được cứu

NGUỒN: CHÁNH KIẾN

Want your business to be the top-listed Government Service in Ansan?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Telephone

Address


수원시
Ansan
8946