Việt Nam Minh Châu Trời Đông

Việt Nam Minh Châu Trời Đông

Share

"Việt Nam minh châu trời đông
Việt Nam nước thiêng tiên rồng"
HÃY CÙNG NHAU XÂY D

Năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, chính quyền Nhật tuyên bố "trao trả độc lập" cho Việt Nam. Nội các Trần Trọng Kim (tháng 4/1945) thành lập Chính phủ Đế quốc Việt Nam, tuyên bố độc lập trên danh nghĩa là thành viên của Khối Thịnh vượng chung Đại Đông Á, quyết định đặt quốc thiều là bài Đăng đàn cung và quốc ca là bài hát Việt Nam minh châu trời Đông của nhạc sĩ Hùng Lân; đổi quốc kỳ là cờ quẻ Ly có "nền vàng hình chữ nhật, giữa có hình quẻ Ly màu đỏ thẫm".

02/01/2021

XIN NGHỈ MÀ KHÔNG ĐƯỢC NGHỈ?

(FB Nguyễn Ngọc Chu)

I. “ĐẢNG VIÊN THÌ PHẢI CHẤP HÀNH”?

1. Hôm nay nhiều báo đăng lời của TBT Nguyễn Phú Trọng lý giải tại sao tiếp tục ở lại - dù tuổi cao, dù không khoẻ lắm. Báo Vietnamnet.vn đưa tin:
"Tôi thì không khỏe lắm, tuổi cao rồi, tôi xin nghỉ rồi nhưng Đại hội bầu vẫn phải làm vì là đảng viên thì phải chấp hành"
(https://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chinh-tri/tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-chu-tri-hop-bao-sau-dai-hoi-xiii-709907.html).
Còn báo Tuổi Trẻ đện tử thì:
“Tổng bí thư, Chủ tịch nước: 'Tôi đã xin nghỉ nhưng được phân công, đảng viên phải chấp hành””
(https://tuoitre.vn/tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-toi-da-xin-nghi-nhung-duoc-phan-cong-dang-vien-phai-chap-hanh-20210201085359791.htm).

Lời của TBT Nguyễn Phú Trọng trên đây gợi nhớ đến trả lời của cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào ngày 14/11/2012 trước câu hỏi của ông Dương Trung Quốc về từ chức:

"Đảng đã phân công tôi tiếp tục làm Thủ tướng Chính phủ và Quốc hội cũng chấp thuận tôi làm Thủ tướng Chính phủ nên tôi cũng sẽ chấp hành, chấp nhận nhiệm vụ giao phó. Trong sự nghiệp của mình, tôi không có chạy, không có xin, không thoái thác, từ chối nhiệm vụ nào Đảng phân công. Tôi sẽ tiếp tục thực hiện công việc mà Đảng và nhà nước giao phó" (https://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/toi-khong-chay--khong-xin--cung-khong-thoai-thac-nhiem-vu-dang-phan-cong-2012111409573672.htm0).

Từ 2 trường hợp trên thì thấy được rằng, không có tự từ chức đã đành, lại còn xin nghỉ mà không được nghỉ.

2. Điều thứ 2 rất trăn trở là: Có phải cứ phân công là phải đảm nhiệm.

Chẳng hạn như trường hợp Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe tự tự chức vì ông cảm thấy sức khoẻ không đủ - có thể làm ảnh hưởng đến các quyết định liên quan đến vận mệnh quốc gia.

3. Điều thứ 3 phải trăn trở là: Việc phân công TBT Nguyễn Phú Trọng đảm nhiệm chức vụ TBT nhiệm kỳ thứ III liên tiếp tương thích như thế nào với Điều 17 của Điều lệ Đảng?

Điều 17 Điều lệ ĐCS Việt Nam ghi rõ: “Đồng chí Tổng Bí thư giữ chức vụ Tổng Bí thư không quá hai nhiệm kỳ liên tiếp”.

Điều khoản này được thông qua lần đầu tiên tạị Đaị hội IX ngày 22/ 4/2001. Đây là nỗ lực của các cựu TBT Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu và các lãnh đạo cách mạng lão thành khác như Đại tướng Chủ tịch nước Lê Đức Anh, Thủ tướng Võ Văn Kiệt và toàn Đại hội IX - trong ngăn chặn sự kéo dài quyền lực, để “nhốt quyền lực” bằng Điều Lệ Đảng mà không một đảng viên nào có thể vi phạm.

Quy định “Đồng chí Tổng Bí thư giữ chức vụ Tổng Bí thư không quá hai nhiệm kỳ liên tiếp” lại được toàn thể Đại hội XI nhất trí thông qua ngày 19/01/ 2011, cuối thời TBT Nông Đức Mạnh.

Cho đến sáng nay (01/2/2021), trên báo chí chính thống của Nhà nước chưa thấy thông báo về sửa đổi Điều 17 Điều lệ Đảng. Trong khi đó, Hội nghị 11 B*H Trung ương Đảng (07/10-12/10/2019) tán thành trình Đại hội XIII: Giữ nguyên Điều lệ Đảng, không sửa đổi, không bổ sung.

Chiều nay (01/2/2021) được biết Đại hội XIII không sửa đổi Điều lệ Đảng
(https://vietnamnet.vn/vn/dai-hoi-dang/dai-hoi-xiii-dong-y-khong-sua-doi-dieu-le-dang-709993.html)

Vậy điều khoản “ Đồng chí Tổng Bí thư giữ chức vụ Tổng Bí thư không quá hai nhiệm kỳ liên tiếp” của Điều 17 Điều lệ Đảng được xử lý như thế nào?

Cần lưu ý rằng, hạn chế 2 nhiệm kỳ không phải là sáng kiến riêng của Việt nam. Đây là đúc kết kinh nghiệm của nhân loại. Đây chính là “Lồng nhốt quyền lực”.

Đến như ông Putin, sau 2 nhiệm kỳ làm Tổng thống Nga, cũng phải chuyển sang làm Thủ tướng một nhiệm kỳ, trước khi làm Tổng thống nhiệm kỳ thứ 3.

Tại sao trong 5 triệu 100 ngàn đảng viên mà không thể tìm ra người tài giỏi, để người xin nghỉ vẫn không được nghỉ? dù “không khoẻ lắm”? Đây là điều trăn trở của mọi đảng viên.

Rõ ràng là công tác quy hoạch cán bộ có vấn đề. Sau 2 nhiệm kỳ 10 năm mà vẫn không thể tìm được người đảm nhiệm chức vụ TBT. Như vậy các đồng chí trong BCT của cả 2 nhiệm kỳ XI, XII là chưa đủ năng lực? chưa có người giỏi chăng?

Tháng 07 năm 1936 tại Hội nghị B*HTƯ, đồng chí Hà Huy Tập được cử l;àm TBT thay đồng chí Lê Hồng Phong TBT của Đảng mới có hơn một năm trước (03- 1935). Chỉ chưa đầy 2 năm, tháng 3/1938 đồng chí Nguyễn Văn Cừ được cử làm TBT thay đồng chí Hà Huy Tập. Khi đồng chí Nguyễn Văn Cừ bị địch bắt tháng 1/1941 thì tháng 5/1941 đồng chí Trường Chinh được cử lên thay. Sau TBT Trường Chinh là TBT Lê Duẩn, TBT Nguyễn Văn Linh, TBT Đỗ Mười…

Đảng không bao giờ thiếu TBT. Giỏi như TBT Lê Hồng Phong, TBT Hà Huy Tập đều phải thay thế chỉ sau 1, 2 năm. Liên tục trong nhiều năm Đảng thay đổi TBT nhiều lần. Chỉ sau này chức TBT mới bị kéo dài nhiều nhiệm kỳ. Đó là nguyên do dẫn đến quy định “Đồng chí Tổng Bí thư giữ chức vụ Tổng Bí thư không quá hai nhiệm kỳ liên tiếp”.

Người tài trong dân còn nhiều hơn nữa. Như Nguyễn Trãi đã từng viết: “Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau. Nhưng hào kiệt đời nào cũng có”.

Không có ai là vĩ đại muôn năm. Không có ai là không vượt qua được. Nhân loại tiến bộ nhờ đời sau giỏi hơn đời trước. Khi một người vĩ đại đến mức đời sau không có ai vượt qua thì đó là hoạ chứ không phải là phúc. Trong thực tế, điều đó không bao giờ xảy ra. Cha ông đã dạy: “Con hơn cha là nhà có phúc”.

Cho nên, phải hoàn thiện công tác quy hoạch cán bộ để lúc nào cũng có sẵn TBT mới. Đảng chỉ mạnh khi hội tụ nhiều người tài giỏi.

II. BAO GIỜ THÌ CÓ “LỒNG NHỐT QUYỀN LỰC”?

Việc TBT Nguyễn Phú trọng giữ nhiệm kỳ III liên tiếp, cho thấy con đường xây dựng “Lồng nhốt quyền lực” thật gian truân.

Một là, “Lồng nhốt quyền lực” sẵn có mà tuyệt đại đa số các nước trên thế giới đang dùng thì nước ta chưa ưng ý. Mặc dù đó là loại “Lồng nhốt quyền lực” đã được kiểm nghiệm thực tế qua hàng trăm năm ở 200 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, nhưng một số người ở nước ta hiện nay đang kiên trì xây dựng “Lồng nhốt quyền lực” kiểu khác.

Hai là, xây dựng “Lồng nhốt quyền lực” mà được phần nào lại tự dỡ bỏ đi phần ấy bằng “ngoại lệ” thì biết bao giờ xong?

III. SỰC NHỚ ĐẾN LỊCH SỬ

Chẳng hiểu sao lại sực nhớ, vua Càn Long ở ngôi 61 năm - luôn giữ Hoà Thân là kẻ gian thần tham lam xu nịnh để khống chế người trung lương như tể tướng Lưu gù. Lại sực nhớ, Tào Tháo rút gươm chém kẻ đến gần vì giả mơ ngủ, để không kẻ nào dám bén mảng lúc Tháo ngủ.

Lại sực nhớ năm 220 Hán Hiến Đế 3 lần viết chiếu nhường ngôi cho Tào Phi (con của Tào Tháo) mà Tào Phi từ chối. Đến lần thứ 4 Tào Phi mới chịu nhận ngôi vua mà lập nên nhà Tào nguỵ. Nhưng thật trớ trêu, chỉ 46 năm sau, cháu của Tào Tháo - Tào nguỵ nguyên đế Tào Hoán - cũng phải 3 lần viết chiếu nhường ngội cho Tư Mã Viêm là cháu của Tư Mã Ý thì Tư Mã Viêm mới chịu nhận ngôi vua mà trở thành Tấn Vũ Đế.

Còn sực nhớ nhiều điều nữa mà vẫn chưa tỉnh ngủ.

Photos from Việt Nam Minh Châu Trời Đông's post 12/18/2020

ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ DÒNG NGƯỜI DI CƯ

NHỮNG CÂU HỎI TRĂN TRỞ

Bần thần khi nghe tin có đến 1,3 triệu đồng bào ở ĐBSCL di cư trong 10 năm qua. Dẫu biết di dân là quy luật tự nhiên mà không thể tự an ủi. Chỉ văng vẳng bên tai những câu hỏi trở trăn chưa có lời giải:

1. Tại sao cư dân của vùng đất trù phú nhất nước lại phải rời bỏ quê hương đi kiếm sống và định cư ở xứ khác?

2. Di dân là quy luật. Nhưng di dân đến đâu? Di dân theo cách nào? Di dân để làm công việc gì? Thì đó là những tiêu chí xác định đẳng cấp và số phận của một con người.

3. Đã có biết bao nhiêu cuộc họp, đã có biết bao nhiêu cuộc viếng thăm của lãnh đạo nhà nước, đã có biết bao nhiêu biện pháp được đề ra, thậm chí có cả ban chỉ đạo vùng, nhưng sao ĐBSCL vẫn chậm phát triển?

4. Có phải đó là do những biện pháp đưa ra chưa đúng? chưa đủ? Hay có phải đó là do chưa biết trân quý vùng đất ĐBSC? Hay đó là vì chưa thương yêu người dân ĐBSCL?

5. Ai là người phải chịu trách nhiệm cho sự di cư lớn khỏi ĐBSCL?

VẤN ĐỀ CỐT LÕI

Trong hàng trăm biện pháp quan trọng để đưa ĐBSCL phát triển, thoát khỏi tình trạng tụt hậu, giảm bớt sự di cư, thì có 2 điều sau đây là cốt lõi nhất: cơ chế và nhân sự.

Cơ chế vận hành là nhân tố bao trùm. Nhân sự là nhân tố quyết định.Muốn tiến nhanh cần thay đổi cả hai nhân tố này đồng thời.

Đầu tư hạ tầng cơ sở cho ĐBSCL là điều quan trọng; Áp dụng công nghệ là quan trọng; Thu hút đầu tư là quan trọng; Đưa ra các chính sách và biện pháp mới là quan trọng… Dẫu có cả trăm biện pháp quan trọng nhưng nếu người thực thi kém thì kết quả rốt cuộc vẫn là tệ hại.

Cho nên, điều quyết định là phải có người tài giỏi đứng đầu các tỉnh ở ĐBSCL.Tự họ biết vận dụng cơ chế. Tự họ từng bước thay đổi cơ chế. Tự họ biết đưa ra các biện pháp thúc đẩy ĐBSCL phát triển.

Bởi vậy, nhất thiết phải thay đổi cách chọn người đứng đầu các tỉnh ĐBSCL. Phải chọn cho được người tài giỏi đứng đầu các tỉnh ĐBSCL. Chỉ như vậy, ĐBSCL mới có cơ thay đổi bản lề.

NHỮNG DÒNG NGƯỜI DI CƯ

Chủ tịch UBND Đồng Tháp Phạm Thiện Nghĩa khi nói đến con số 1,3 triệu người bỏ quê ra đi, đã cảm thán là “ vấn đề rất buồn”(https://tuoitre.vn/1-3-trieu-nguoi-dong-bang-song-cuu-long-di-cu-la-van-de-rat-buon-20201214175532668.htm).

Đối chiếu với thuật toán chọn nhân sự hiện hành, trong khung cảnh “đồng lúa thiếu nước, dòng sông khô cạn, những đô thị đã bị ngập úng…” (https://laodong.vn/su-kien-binh-luan/13-trieu-nguoi-bo-que-ma-di-mot-cau-chuyen-rat-buon-862482.ldo), thì biết được dòng người di cư khỏi ĐBSCL vẫn sẽ còn tiếp diễn. Mỗi năm vẫn sẽ có cả trăm ngàn người rời bỏ miệt vườn sông nước miền Tây ra đi tìm kiếm số phận mới. Những số phận bất định hơn cả canh bạc. Nhưng vẫn phải ra đi.

Làm sao để chấm dứt dòng người di cư khỏi ĐBSCL?
Thấy điều phải thay đổi mà không ai dám thay đổi.

FB Nguyễn Ngọc Chu

Photos from Việt Nam Minh Châu Trời Đông's post 12/11/2020

NHÂN VẬT CỦA NĂM

Mấy hôm nay các bạn cực tả hân hoan chia sẻ việc Biden và Harris được TIME chọn là Nhân vật của năm (POTY) rồi ăn mừng quá đà, như thể TIME to hơn cả TCPV và có quyền kết luận cuối cùng về kết quả bầu cử Mỹ. Xin phép chia sẻ chút chi tiết lịch sử về POTY cho các bạn tham khảo!

Thứ nhất, từ năm 2000 đến nay, năm nào diễn ra bầu cử Tổng thống Mỹ thì người thắng cuộc năm đó đều được TIME mặc định bình chọn là POTY. Năm nay, Biden dù được MSM cho là đã chiến thắng nhưng có vẻ như TIME cũng không thấy thuyết phục nên thay vì đưa một mình Biden như từng làm với Bush (2000,2004), Obama (2008,2012) và Trump (2016) thì lại đưa cả Harris vào đồng “nhận giải” POTY.

Thứ hai, không phải cứ được TIME chọn làm POTY thì có nghĩa là người tốt hoặc do đã làm việc tốt. Có rất nhiều lãnh tụ độc tài, khát máu từng được chọn là POTY.

Thứ ba, TIME có nhiều tiền án bình chọn nhầm người làm POTY.

Sau đây là danh sách những nhân vật POTY điển hình và rất xứng đáng đứng cùng với team Biden-Harris:

1. Tưởng Giới Thạch (POTY 1937) Thành tích: sát hại khoảng 5 triệu người
2. Adolf Hi**er (POTY 1938) Thành tích: sát hại khoảng 17 triệu người
3. Joseph Stalin (POTY 1939 + 1942) Thành tích: sát hại khoảng 23 triệu người
4. Đặng Tiểu Bình (POTY 1978 + 1985) Thành tích: kiến trúc sư trưởng của vụ Thiên An Môn và chính sách “Kế hoạch hoá gia đình” (còn gọi là “chính sách một con” làm hơn 30 triệu thai nhi nữ bị phá bỏ ở Trung Quốc)
5. Vladimir Putin (POTY 2007) Thành tích: là nhà độc tài tại vị lâu nhất trong lịch sử của Nga kể từ sau Cách mạng tháng 10/1917.
6. Joseph Stealing Harris (POTY 2020) Thành tích: nhiều cử tri âm binh nhất trong lịch sử bầu cử Mỹ

Hy Mã 2020

Photos from Việt Nam Minh Châu Trời Đông's post 12/10/2020

ĐỘC TÀI CHÂN LÝ VÀ KIỂM DUYỆT THÔNG TIN
(FB Duan Dang)

Thú thật trước nay đối với những người chống Trump thì nói chung tôi vẫn tôn trọng quan điểm, tôi chẳng mấy quan tâm, mặc dù vẫn thường xuyên chọc ngoáy cho vui.

Tuy nhiên, có một vấn đề mà tôi thường xuyên chỉ trích, lên án, thậm chí buông lời cay độc là truyền thông thiên tả Big Media và Big Tech và những người ủng hộ chuyện kiểm duyệt của họ chỉ vì nó đang có lợi trong cuộc chiến chống Trump.

Hôm nay có hai sự kiện đáng chú ý. Một là Youtube tiến thêm một bước nữa trong chuyện kiểm duyệt khi thông báo sẽ xóa toàn bộ clip phản bác chiến thắng của Joe Biden, mà theo họ là đã an bài. Đây là một sự xâm phạm trắng trợn quyền tự do ngôn luận.

Hãy thử nghĩ đến vụ án Hồ Duy Hải, nếu Youtube đưa ra thông báo sẽ xóa bất kỳ clip nào nói rằng tử tù này bị oan, viện lý do Tòa án Tối cao đã có quyết định giám đốc thẩm kết luận "có sai sót nhưng không làm thay đổi bản chất vụ án".

Với nhận thức của tôi về vụ án, tôi không có khả năng và không có tư cách kết luận tử tù có bị oan hay không. Nhưng có một điều chắc chắn là tôi thấy nhiều nghi vấn và những nghi vấn này cần phải được làm rõ, dù có phải tra xét lại toàn bộ tiến trình.

Thậm chí ngay ở Việt Nam, tôi có thể tưởng tượng một chỉ thị của tuyên giáo rằng không nên làm nóng vấn đề này nữa, nhưng tôi cho rằng sẽ không có chỉ thị cấm triệt để không được nêu ra nghi vấn Hồ Duy Hải bị oan, dù bất kỳ bằng chứng nào xuất hiện.

Thứ mà Youtube áp dụng chính là sự kiểm duyệt ở mức độ tệ hại nhất.

Sự kiện thứ hai là vụ Hunter Biden bị FBI điều tra về thuế má vì các giao dịch liên quan đến Trung Quốc. Nó khiến chúng ta nhớ lại sự việc diễn ra trước bầu cử, khi chiếc laptop xuất hiện và Big Media thực hiện một cuộc tàn sát đối với bất kỳ trang tin nào nhắc đến nó. Đó cũng là sự xâm phạm trắng trợn với tự do ngôn luận.

Điều tôi không dám khẳng định dứt khoát, nhưng thật lạ khi Big Media có thể moi được hồ sơ thuế của Trump và không ngần ngại đăng tải công khai thứ bí mật được bảo vệ này mà họ lại không biết gì về một cuộc điều tra của FBI đối với Hunter Biden hay sao?

Ngay cả khi họ không biết thật, thì việc họ im lặng và từ chối tiến hành cuộc điều tra thấu đáo về vụ Hunter đã tước đi cơ hội của độc giả, của cử tri có một cái nhìn đầy đủ về các ứng viên của họ trước khi bỏ phiếu.

Quay trở lại chuyện kiểm duyệt và fact check của Big Tech, hãy tưởng tượng nếu bạn viết trên Facebook hoặc Twitter rằng bầu cử ở Bắc Hàn là trò dàn dựng, thì với tiêu chuẩn "fact check" mà họ đang áp dụng ở Mỹ, post của bạn sẽ bị xóa, hoặc chí ít bị dán một cảnh báo "Thông tin này sai lạc, không có bằng chứng hay kết luận từ nguồn có thẩm quyền chính thức cho thấy có gian lận bầu cử ở Bắc Hàn".

Nếu bạn viết rằng Trung Quốc bách hại người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương; đàn áp, giết người biểu tình bừa bãi ở Hồng Kông một cách có chủ đích, bạn cũng có thể sẽ bị dán nhãn như thế.

Tương tự, việc chia sẻ link của những trang kiểu như Quan làm báo hoặc Chân dung quyền lực trước kia cũng sẽ khiến bạn bị bay nick bất kỳ lúc nào.

Đó là những gì xảy ra ở nước Mỹ, từ trước cả khi bầu cử và cho đến lúc này. Và đó là những gì sẽ xảy ra với bạn nếu những tiêu chuẩn fact check của mạng xã hội hiện nay được áp dụng phổ biến.

Thật trớ trêu khi thấy những người tự nhận cổ võ cho tự do ngôn luận, cho dân chủ, cho tự do lại chấp nhận và im lặng trước những sự kiểm duyệt như thế chỉ vì ghét Trump. Ồ, và họ sẽ bất bình và cay đắng khi thấy Facebook hợp tác với chính quyền xóa bỏ những thông tin "không căn cứ", "chưa được kiểm chứng".

Đối với tôi điều này chính xác là "tiêu chuẩn kép". Trump có thể đến rồi đi, nhưng những nguyên tắc và giá trị thì trường cửu.

Duan Dang

Photos from Việt Nam Minh Châu Trời Đông's post 12/09/2020

Nước Việt Nam “giàu” thế nào so với thế giới?
By Nam Le

Chúng ta đã nghe quá nhiều về các chỉ số GDP hay GNI khi nói đến tăng trưởng kinh tế và sự giàu mạnh của một quốc gia. Tuy nhiên, các chỉ số này không phản ánh thực chất cũng như đầy đủ khía cạnh về sự giàu có của quốc gia.

Giống như chúng ta hỏi:
- Bạn thu nhập bao nhiêu, hay bạn tạo ra giá trị bao nhiêu? - những câu hỏi này đều không xác định được ai là người giàu, ai là người nghèo.
Bởi ví dụ: một người thu nhập 4tr/tháng, nhưng bố lại làm to, để lại cho thừa kế 3 nhà mặt phố tổng giá trị hơn 100 tỉ.

Chính vì thế, khi nói đến giàu nghèo - ta nghĩ đến tài sản được định giá bởi ngân hàng. Bởi: ngân hàng là bên cho vay, họ cần nắm rõ xem người đi vay có tài sản ra sao, tăng trưởng nguồn tiền thế nào, để khi có vỡ nợ còn có cái mà thu hồi.

Do đó tin vào định giá tài sản cho vay bởi ngân hàng là một chỉ số đáng tin cậy nhất trong số các chỉ số hiện tại.

Credit Suisse - là một tập đoàn chuyên về nghiệp vụ tài chính ngân hàng trụ sở ở Thuỵ Sỹ. Họ cho vay khắp các quốc gia, và đã bắt đầu làm nghiên cứu về sự giàu có của mỗi quốc gia hơn một thập niên qua.

Dưới đây là 2 bảng xếp hạng:
- Xếp hạng quốc gia dựa trên tổng tài sản (hình 1 và 2)
- Xếp hạng quốc gia dựa trên tài sản sở hữu bởi người trưởng thành (adults - những người được tính là độ tuổi lao động chính ở mỗi quốc gia).

Ở bảng số thứ nhất, nước Mĩ vẫn được định giá tài sản lớn nhất thế giới với 105,990 tỷ đô la, chiếm hơn 1/3 tổng tài sản thế giới. Theo sau đó là liên minh châu Âu, và Trung Quốc.

Nước Vietnam xếp hạng 38 thế giới - một con số đáng khen. Tuy nhiên, tổng tài sản của hơn nghìn năm lịch sử, 100 triệu dân, chỉ vỏn vẹn 797 tỉ đô - chỉ ngang với một tập đoàn công nghệ lớn ở California. Tổng tài sản Vietnam chỉ chiếm 0.2% thế giới. Tuy nhiên các dự báo khác, cũng ghi nhận tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế đang phát triển của Vietnam.

Đến bảng số 2 (hình 3, 4), xếp hạng tài sản của người trưởng thành.
Thuỵ Sỹ xếp số 1. Trung bình một người trưởng thành Thuỵ Sỹ sở hữu > 550 nghìn đô la (khoảng 13 tỷ vnđ). Giá trị median (trung vị) trong thống kê là con số nằm giữa — cho biết số lượng người trưởng thành có trên và dưới 227,000 đô la ở Thuỵ Sỹ là như nhau.

Hầu hết các quốc gia văn minh phương Tây giàu có, thì tài sản của người trưởng thành sẽ lớn hơn. Vì đây là nguồn lực chính để thúc đẩy sự phát triển văn minh của xã hội.

Nhìn về Vietnam, chúng ta xếp hạng 109 ở hạng mục này. Trung bình một người Việt trưởng thành sở hữu 11,000 đô la (khoảng 250 triệu vnđ).
Điều này nghĩa là: nếu gia đình bạn có 1 tỷ, mà có 4 người, thì bạn đang ở mức tài sản trung bình của người Việt.

Con số median cho ta nhiều thông tin hơn: Median tài sản của người Việt trưởng thành là 3,300 đô (khoảng 80 triệu). Điều này nghĩa là, có một sự lệch trong phân bố tài sản ở người Việt trưởng thành. Thực tế, 1/2 người Việt trưởng thành chỉ sở hữu không quá 80 triệu đồng tiền Việt - con số quá khiêm tốn.

Có một câu hỏi thú vị hơn:
- Tại sao xếp hạng bình quân tài sản thì Vietnam đứng thứ 38, mà tài sản của người trưởng thành thì lại đứng thứ 109 và quá thấp?

Điều này nghĩa là, tài sản người Việt không nằm ở bộ phận những người trong độ tuổi lao động chính. Vậy chỉ còn 2 lớp người: trẻ em và người già (> 50t). Trẻ em thì không phải rồi. Từ đây ta suy ra: tài sản của người Việt nằm chủ yếu ở những người già. Chủ yếu thông qua bất động sản (nhà đất), và quan chức lớn tuổi, cũng như các tập đoàn doanh nghiệp sân sau chính trường của nhóm những người lớn tuổi này.

Người trong độ tuổi lao động chính không nắm tài sản, nên đất nước còn chưa thể phát triển, và vẫn là một nước nghèo vì vậy.

Best wishes,
Nam Le’s Liberal.

Photos from Việt Nam Minh Châu Trời Đông's post 12/08/2020

MỸ CẤM NHẬP CẢNH 14 QUAN CHỨC CỘNG SẢN TRUNG QUỐC

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ thông báo vào hôm 7/12 rằng, tất cả 14 Phó Ủy viên trưởng của Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) sẽ bị truy cứu trách nhiệm về việc làm suy yếu quyền tự trị của Hong Kong. 14 quan chức cấp cao này và gia đình của họ bị cấm nhập cảnh vào Hoa Kỳ, tài sản của họ sẽ bị Mỹ đóng băng và cấm giao dịch.

Toàn bộ 14 Phó Ủy viên trưởng của Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc lần thứ 13 của ĐCSTQ đều bị quy trách nhiệm, đó là:

Vương Thần (Wang Chen)
Tào Kiến Minh (Cao Jianming)
Trương Xuân Hiền (Zhang Chunxian)
Thẩm Dược Dược (Shen Yueyue)
Cát Bính Hiên (Ji Bingxuan)
Arken Imirbaki
Vạn Ngạc Tương (Wan Exiang)
Trần Trúc (Chen Zhu)
Vương Đông Minh (Wang Dongming)
Padma Choling
Đinh Trọng Lễ (Ding Zhongli)
Hác Minh Kim (Hao Mingjin)
Thái Đạt Phong (Cai Dafeng)
Vũ Duy Hoa (Wu Weihua).

Toàn văn thông báo (link bên dưới) do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ban hành hôm 7/12 như sau:

Việc Bắc Kinh liên tục tấn công vào tiến trình dân chủ của Hong Kong đã phá hủy Hội đồng Lập pháp Hong Kong, biến nó thành một con dấu cao su — không còn sự phản đối thực chất nào nữa. Một trong những khía cạnh gây ra các cuộc tấn công này là hành động của Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc (NPCSC), nơi đã vô hiệu hóa một cách hiệu quả khả năng bầu cử đại diện của người dân Hong Kong theo Tuyên bố chung (Trung-Anh) và Luật Cơ bản. Những hành động này một lần nữa cho thấy Bắc Kinh hoàn toàn phớt lờ các cam kết quốc tế theo Tuyên bố chung Trung-Anh, một hiệp ước đã đăng ký với Liên Hợp Quốc.

Hôm nay, Bộ Ngoại giao sẽ truy cứu những kẻ chịu trách nhiệm về những hành vi trắng trợn này. Chúng tôi đã xác định rằng 14 Phó Ủy viên trưởng của NPCSC chịu trách nhiệm chế định, thông qua hoặc thực thi "Luật của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về Duy trì An ninh Quốc gia tại Đặc khu Hành chính Hong Kong” (gọi tắt là Luật An ninh Quốc gia Hong Kong). NPCSC đã bỏ phiếu nhất trí thông qua Luật An ninh Quốc gia mà Bắc Kinh đã nhiều lần sử dụng để trấn áp những người bất đồng chính kiến ​​và bắt giữ những người phản đối các chính sách áp bức của Bắc Kinh.

14 người này bao gồm: Wang Chen, Cao Jianming, Zhang Chunxian, Shen Yueyue, Ji Bingxuan, Arken Imirbaki, Wan Exiang, Chen Du, Wang Dongming, Padma Choling, Ding Zhongli, Hao Mingjin, Cai Dafeng, and Wu Weihua. Quyết định trên được đưa ra theo Điều 4 (a) (iii) (A) của Sắc lệnh Hành pháp Tổng thống 13936. Ngoài ra, theo Điều 7 của Sắc lệnh 13936, những người nói trên cũng sẽ bị hạn chế về thị thực.

Những người này và thành viên gia đình trực hệ của họ sẽ bị cấm đến Hoa Kỳ. Tài sản của họ trong phạm vi quyền hạn của Hoa Kỳ hoặc do người Mỹ sở hữu hoặc kiểm soát sẽ bị đóng băng, và người Mỹ sẽ không được phép giao dịch với họ.

Các hành động của chúng tôi hôm nay nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục làm việc với các đồng minh và đối tác của chúng tôi để buộc Bắc Kinh phải chịu trách nhiệm về việc phá hoại quyền tự trị [mà họ] đã hứa của Hong Kong. Mỹ một lần nữa kêu gọi Bắc Kinh tuân thủ các cam kết quốc tế và lắng nghe tiếng nói của nhiều nước đã lên án hành động của họ.

*Toàn văn thông báo: https://www.state.gov/designations-of-national-peoples-congress-officials-undermining-the-autonomy-of-hong-kong/

Theo NTD

12/08/2020

DÙNG DẤU HỎI – NGÃ
“Chữ Việt” Thời Sài Gòn xưa

1 . DÙNG TỪ LÁY THEO QUI ƯỚC:
– Dấu Hỏi đi với Sắc và Ngang.
– Dấu Ngã đi với Huyền và Nặng.
HỎI + SẮC :
– Gởi gắm, thổn thức, rải rác, khoảnh khắc, rẻ rúng, tử tế, cảnh cáo, sửng sốt, hảo hán, phản phúc, phản kháng, rửa ráy, quả quyết, khủng khiếp, khỏe khoắn, nhảm nhí, lở loét, lảnh lót, bảo bối, thưởng thức, thẳng thắn, thảng thốt, hiển hách, nhỏ nhắn, chải chuốt, rả rích, phảng phất, lả lướt, bổ báng, sản xuất.
– Mát mẻ, sắc sảo, mắng mỏ, vất vả, hối hả, hớn hở, xối xả, bóng bẩy, nóng nảy, sắp sửa, sắm sửa, hớt hải, lấp lửng, khúc khuỷu, tá lả, rác rưởi, trống trải, cứng cỏi, sáng sủa, sến sẩm, xấp xỉ, lém lỉnh, láu lỉnh, ngắn ngủi, chống chỏi, hốt hoảng, rắn rỏi, tức tưởi, chúi nhủi, nhắc nhở, nức nở, sấn sổ, ngất ngưởng, thắc thỏm, thấp thỏm, trắc trở, tráo trở, béo bở, ngái ngủ, gắt gỏng, kém cỏi, khấp khểnh, cáu kỉnh, kháu khỉnh, thất thểu, khốn khổ, tán tỉnh, ngúng nguẩy .
HỎI + NGANG:
– Nhỏ nhen, nhởn nhơ, ngẩn ngơ, vẩn vơ, lẳng lơ, lẻ loi, hỏi han, nở nang, nể nang, ngổn ngang, dở dang, giỏi giang, sửa sang, thở than, mỏng manh, chỉn chu, dửng dưng, trả treo, tả tơi, bỏ bê, mải mê, chở che, bảnh bao, hẩm hiu, phẳng phiu, khẳng khiu, rủi ro, mỉa mai, trẻ trung, nghỉ ngơi, ngủ nghê, tỉ tê, xỏ xiên, ngả nghiêng, đảo điên, hiển nhiên, lẻ loi, thảnh thơi, sản sinh.
– Dư dả, chăm chỉ, năn nỉ, thư thả, thon thả, thoang thoảng, trong trẻo, trăn trở, vui vẻ, thơ thẩn, thanh thản, mơn mởn, xăm xỉa, lêu lổng, hư hỏng, căng thẳng, dai dẳng, xây xẩm, san sẻ, xoay sở, hăm hở, xa xỉ, ngoe nguẩy, phe phẩy, đông đủ, tanh tưởi, chưng hửng, tiu nghỉu, sang sảng, nham nhở, chao đảo, gây gổ, sơ hở, cơ sở, tin tưởng, năng nổ, cưa cẩm, thăm thẳm, đưa đẩy, tưng tửng, say xỉn.
NGÃ + HUYỀN:
– Bẽ bàng, vẫy vùng, nõn nà, vững vàng, đẫy đà, phũ phàng, bão bùng, sỗ sàng, vỗ về, rõ ràng, vẽ vời, sững sờ, ngỡ ngàng, hỗn hào, hãi hùng, sẵn sàng, kỹ càng, não nề, khẽ khàng, mỡ màng, lỡ làng .
Gần gũi, liều lĩnh, lầm lỗi, gìn giữ, buồn bã, tầm tã, suồng sã, rầu rĩ, thờ thẫn, hờ hững, sàm sỡ, xoàng xĩnh, phè phỡn, bừa bãi, thừa thãi, nghề ngỗng, lừng lẫy, ruồng rẫy, lờ lững, đằng đẵng, mò mẫm, lầm lũi, nhàn nhã, bằng hữu.
NGÃ + NẶNG :
– Lãng mạn, lũ lụt, hãm hại, nhẫn nhịn, lễ lộc, lỗi lạc, rũ rượi, lưỡng lự, chễm chệ, nhã nhặn, mẫu mực, chững chạc, dõng dạc, dữ dội, cãi cọ, nhão nhoẹt, kẽo kẹt, kĩu kịt, nhễ nhại, rõ rệt, lẫn lộn
– Gọn ghẽ, ngạo nghễ, vạm vỡ, lặng lẽ, lạnh lẽo, bạc bẽo, sặc sỡ, rực rỡ, rộn rã, vội vã, nghiệt ngã, hậu hĩ, hậu hĩnh, ngộ nghĩnh, gạt gẫm, hụt hẫng, dựa dẫm, nhẹ nhõm, bập bõm, chập chững, mạnh mẽ, chặt chẽ, sạch sẽ, ngặt nghẽo, khập khiễng, đục đẽo, ruộng rẫy, giặc giã, giặt giũ, giận dỗi, bụ bẫm, dạy dỗ, gặp gỡ, dụ dỗ, lạ lẫm, rộng rãi, tục tĩu, nhục nhã, dạn dĩ, rạng rỡ, rệu rã .
* TỪ KÉP LÀ TỪ THƯỜNG ĐI MỘT CẶP DẤU HỎI HOẶC NGÃ.
– Lã chã, bỗ bã, bẽn lẽn, bỡ ngỡ, mỹ mãn, dễ dãi, cũn cỡn, lững thững, ngẫm nghĩ, lỗ lã, lẽo đẽo, nhõng nhẽo, mũm mĩm, mẫu mã, vĩnh viễn, nhễu nhão .
– Thỏ thẻ, đỏng đảnh, lẻ tẻ, của cải, lẩm bẩm, lẩm cẩm, lảm nhảm, hể hả, kể lể, nhỏng nhảnh, lủng củng, thỉnh thoảng, lảo đảo, tỉ mỉ, thủ thỉ, lảng vảng, rủng rỉnh, loảng xoảng, hổn hển, lủng lẳng, lỏng lẻo, lải nhải, tủm tỉm, bủn rủn, xởi lởi, tẩn mẩn, lẩn quẩn, thỏn mỏn, chỏn lỏn, giả lả, bải hoải, bổi hổi, lẩn thẩn, lởm chởm, rỉ rả, thủng thẳng, bỏm bẻm, nhỏm nhẻm, xiểng niểng, lẩy bẩy
2 . TỪ NGUYÊN ÂM: DẤU HỎI
Ủa, ổi, ổng, ẩu, ủng, ỷ, ổn, ửng, ổ, ủy, ỏn ẻn, ong ỏng, im ỉm, âm ỉ, ấp ủ, ảo ảnh, ăn ở, êm ả, oi ả, yên ả, óng ả, ẩn ý, an ủi, ỉ ôi, ẩm ướt, ủ ê, uể oải, ít ỏi, ủn ỉn, oan uổng, ăng ẳng, ư ử, oẳn tù tì, ẻo lả, ủ rũ, yểu điệu, ỉu xìu, ảm đạm, uyển chuyển, quan ải, oản xôi, yểm trợ (trừ: ễnh, ưỡn, ẵm, ỡm)
3 . TỪ HÁN VIỆT BẮT ĐẦU LÀ M, N, NH, L, V, D, NG THÌ DẤU NGÃ, CÁC CHỮ KHÁC DẤU HỎI.
Ghi nhớ 7 chữ này bằng câu “Mình Nên Nhớ Là Viết Dấu Ngã“
– M: Mỹ nhân, Mẫu giáo, Mã đáo, Mãn nguyện, Mãng xà, Mãnh lực, Mẫn cán, Miễn nhiệm, Mão mũ
– N: Não bộ, Nữ nhi, Noãn hoa, Nỗ lực, Nã ( truy nã )
– NH: Nhẫn tâm, Nhãn tiền, Nhiễu loạn, Nhũ mẫu, Nhã nhạc, Nhã nhặn, Nhuyễn thể, Nhĩ (mộc nhĩ), Nhưỡng (thổ nhưỡng)
– L: Lão gia, Lễ nghi, Lĩnh hội, Lỗi lạc, Lữ khách, Lãng tử, Lưỡng tính, Lãnh địa, Luỹ thành, Lãm nguyệt, Lẫm liệt
– V: Vãn hồi, Viễn xứ, Vĩ đại, Võ sư, Vũ trang, Vĩnh hằng, Vững chãi
– D: Diễm phúc, Dũng khí, Dưỡng dục, Dĩ nhiên, Dõng dạc, Diễu hành, Dã ngoại, Dã tâm, Diễn thuyết
– NG: Nghĩa hiệp, Ngũ cốc, Ngữ hệ, Ngẫu nhiên, Nghiễm nhiên, Ngưỡng mộ, Ngã (bản ngã)
4 . HỌ VÀ TRẠNG TỪ: DẤU NGÃ
– Họ Nguyễn, Võ, Vũ, Đỗ, Doãn, Lữ, Lã, Mã, Liễu, Nhữ
– Cũng, vẫn, sẽ, mãi, đã, những, hỡi, hễ, lẽ ra, mỗi, nữa, dẫu …
5 . DÙNG DẤU BẰNG CÁCH SUY LUẬN THEO NGHĨA . Ví dụ:
NỔI – NỖI:
– Chỉ sự trổi lên hơn mức bình thường thì dấu hỏi (nổi trội, nổi bật, nổi danh, nổi tiếng, nổi mụn, nổi gân, nổi điên, nổi giận, nổi xung, nổi hứng, nổi sóng, nổi bọt, nổi dậy, chợ nổi, nông nổi, làm nổi, trôi nổi, hết nói nổi, chịu hết nổi, gánh không nổi)
– Cái nào mang tính biểu cảm thì dấu ngã (khổ nỗi, đến nỗi nào, làm gì nên nỗi, nỗi lòng, nỗi niềm, nỗi ước ao, nỗi nhục, nỗi oan, nỗi hận, nỗi nhớ)
NGHỈ – NGHĨ :
– Liên quan đến sự dừng lại một hoạt động thì dấu hỏi (nghỉ ngơi, nghỉ học, nghỉ việc, nghỉ hè, nghỉ lễ, nghỉ mệt, nghỉ dưỡng, nghỉ chơi, nghỉ mát, nghỉ thở, nghiêm nghỉ, nhà nghỉ, an nghỉ)
– Thể hiện cảm xúc suy nghĩ thì dấu ngã (nghĩ ngợi, suy nghĩ, ngẫm nghĩ, nghĩ cách, thầm nghĩ, nghĩ quẫn, nghĩ bậy, cạn nghĩ)
MẢNH – MÃNH :
– Cái nào gợi hình dáng thì dấu hỏi (mảnh trăng, mảnh ruộng, mảnh vườn, mảnh đất, mảnh xương, mảnh sành, mảnh vỡ, mảnh khảnh, mảnh mai, mảnh khăn, mảnh áo, mảnh vá, mảnh tình, mỏng mảnh)
Thể hiện tính chất thì dấu ngã (dũng mãnh, mãnh liệt, ranh mãnh, ma mãnh, mãnh hổ, mãnh thú, mãnh lực ..)
KỶ – KỸ:
– Gắn với bản thân con người thì dấu hỏi (kỷ vật, kỷ niệm, kỷ luật, kỷ lục, kỷ yếu, ích kỷ, tự kỷ, vị kỷ, tri kỷ, thế kỷ, thập kỷ)
– Gắn với kỹ thuật, trình độ thao tác thì dấu ngã (Kỹ nghệ, kỹ năng, kỹ xảo, kỹ thuật, kỹ sư, kỹ nữ, kỹ lưỡng, kỹ càng, kỹ tính, nghĩ kỹ, giấu kỹ, tuyệt kỹ)
CHÚ Ý:
Qui ước cơ bản chứ không tuyệt đối, vẫn có một số từ ngoại lệ không theo qui ước trên như :
HỎI + NẶNG: – Hủ tục, hủ bại.
chữ “nữa” viết dấu ngã trong đa số trường hợp, chỉ khi nói về số lượng chia hai như ”phân nửa”, “một nửa”, thì viết dấu hỏi.
Bài viết có thể hữu ích (有益) cho những ai thường phạm lỗi chính tả “hỏi ngã”. Tuy nhiên, phải nên nói rõ hơn là luật “trắc, bằng” thường đi kèm theo với dấu “hỏi” và “nặng huyền” thì thường đi kèm với dấu “ngã” thì chỉ nên áp dụng với chữ kép “thuần” Việt mà thôi. Còn nếu là những từ kép Hán Việt thì “quy luật” đó không có được hiệu nghiệm cho lắm. Tôi xin cho thí dụ:
Ví dụ như chữ “sản xuất” (產出) ở trên là tiếng Hán Việt và “tình cờ” nó đi theo cái luật “bằng, trắc”. Tuy nhiên, nếu là “cộng sản” (共產) hay “tài sản” (財產) thì nó lại không có hợp với luật “huyền nặng”!
Lý do là vì chữ Hán Việt không hề thay đổi từ “hỏi” sang “ngã” hay ngược lại, khi cái chữ đó đi kẹp với những chữ có những dấu khác nhau.
Một khi chữ “sản” đã được viết với dấu “hỏi” rồi thì cho dù nó có đi kẹp với dấu gì đi nữa thì nó vẫn phải viết với dấu hỏi mà thôi.
Giống như chữ “phản ứng” (反應) thì là đúng với quy luật, dấu “hỏi” đi kèm với dấu “sắc”, nhưng “phản hồi” (反囘) thì không theo quy luật vì viết với dấu hỏi, nhưng lại đi kèm theo với dấu “huyền”!

(Sưu tầm)

Photos from Việt Nam Minh Châu Trời Đông's post 12/07/2020

NGHỆ THUẬT VẼ TRUYỆN TRANH VIỆT NAM
BÀN VỀ CUỐN TRUYỆN TRANH KIỀU ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM
FB Dương Mạnh Chí

Nghệ thuật vẽ truyện tranh có lịch sử từ rất lâu ở phương Tây, nhưng ở Trung Quốc và Nhật chỉ hình thành từ thế kỷ 18 và ở Việt Nam thì chỉ từ thế kỷ 20. Tuy nhiên thật là bất ngờ khi vào năm 1994 người ta phát hiện có một bộ tranh truyện Kiều tại thư viện Hoàng Gia Anh Quốc ở London. Theo các nhà nghiên cứu thì cuốn truyện tranh này có thể được vẽ trong khoảng từ những năm 1888 đến 1894. Điều đặc biệt quí giá là cuốn truyện tranh này được vẽ hoàn toàn bằng tay và chỉ có một bản duy nhất. Nghĩa là nó là một tác phẩm hội hoạ đích thực chứ không phải chỉ là một cuốn sách được in ra nhiều bản.
Cuốn truyện tranh này gồm 146 tranh, kể lại toàn bộ câu chuyện về cuộc đời nàng Kiều một cách đầy đủ đến nỗi 3254 câu thơ của Nguyễn Du chỉ như một minh hoạ cho cuốn truyện tranh. Nghĩa là lần đầu tiên chúng ta có một cuốn truyện tranh Kiều được minh hoạ bằng thơ Nguyễn Du, chứ không phải cuốn truyện thơ Kiều của Nguyễn Du được minh minh hoạ bởi một số tranh vẽ như một số hoạ sĩ Việt Nam vẫn thường làm từ thập niên 30 của thế kỷ 20 đến nay. ( Tức là từ sau khi có Trường Mỹ Thuật Đông Dương mở ra)
Điều đáng tiếc là cho đến nay ta vẫn chưa biết tên của người hoạ sĩ nào đã vẽ bộ truyện tranh qúi giá này. Vì người hoạ sĩ này không để lại chữ ký hay tên tuổi của mình trong tác phẩm. Điều đó có thể là do truyền thống văn hoá Việt Nam không coi trọng nghệ thuật hội hoạ và hoạ sĩ. Do đó Việt Nam có rất ít di sản hội hoạ và nếu có một số tranh để lại thì hầu hết ở dạng tranh dân gian, khuyết danh. Nhưng tranh này cũng phần lớn là tranh in khắc, nghĩa là tranh in hàng loạt chứ không phải tranh độc bản đúng nghĩa của tranh hội hoạ chỉ có một bản vẽ tay duy nhất.
Vì thế cuốn truyện tranh Kiều 1894 này là một tác phẩm hội hoạ vô giá. Nếu xét về cách trình bày cuốn sách được bọc bìa cẩn thận bằng lụa gấm có hoa văn rồng, thì ta có thể cho rằng đây là cuốn sách được làm để lưu hành trong hoàng gia. Nhưng tuy vậy không có thông tin gì cho biết cuốn sách được làm ra để dâng vua ngự lãm hay được vua sai làm ra để cho mình thưởng lãm.
Mặc dù không để lại tên tuổi, nhưng xét qua bút pháp thì ta có thể đoán đây là một nhà nho tài năng uyên bác, đam mê nghệ thuật, viết chữ rất đẹp, rất cẩn thận, và quí phái, vẽ tranh rất hồn nhiên. Có lẽ ta có thể đoán tác giả chính là một ông hoàng, một quí tộc của triều đình, tự vẽ tranh, làm sách để thoả mãn đam mê của mình !
Hoạ sĩ quí tộc này có thể sống vào thời vua Thành Thái (1889-1917). Bởi vì từ thời vua Tự Đức trở về trước thì không những hội hoạ bị coi thường mà truyện tranh thì càng bị coi khinh. Bởi vì các vị vua chúa Việt Nam chỉ coi trọng văn chương viết bằng chữ thánh hiền, nhưng vì hầu hết dân chúng bình dân đều mù chữ, họ không đọc được các văn bản bằng chữ Nôm hoặc chữ Hán, nên việc giáo hoá họ gặp nhiều khó khăn. Vì vậy để có thể dạy dân, nhiều khi giới trí thức phải vẽ thêm hình vào cho dễ hiểu. Những loại hình như thế được gọi nôm na là mạn họa (漫畫), liên-hoàn họa (連環畫) hoặc phong-tục họa (風俗畫). Nghĩa là họ coi vẽ tranh chỉ là phương tiện để bổ sung vào những bài giảng văn hoá, đạo lý mà giới bình dân không biết chữ thì xem cho dễ hiểu. Như thế đủ thấy tranh minh hoạ hay truyện tranh thời xưa rất hiếm và chỉ là loại hình dành cho giới hạ lưu ít học, mù chữ. Đấy là mới chỉ nói về sách dạy đạo lý, văn hoá, chứ chưa nói về những loại sách phong tục, sinh hoạt đời thường thì thậm chí bị cấm. Đặc biệt từ thế kỷ XVIII, khi kỹ nghệ ấn loát nở rộ, mạn họa chiếm vai trò thống lĩnh trong việc phổ thông hóa dòng văn chương diễm tình, chí quái mà triều đình ra sức ngăn cấm và liệt vào hạng dâm thư. Theo Đại Nam thực lục, những thư ấn đường làm lậu loại sách ấy mà bị phát giác thì phải niêm phong và chưởng quản bị phạt rất nặng, hình thức cao nhất thường là phát vãng.
Vì vậy có thể nói truyện tranh ở Việt Nam thời đó là không có, nếu có chỉ là sách lậu. Vậy mà đến thời vua Thành Thái thì ở Việt Nam lại xuất hiện một cuốn truyện tranh tuyệt đẹp như vậy. Sở dĩ ta có thể khẳng định sách được vẽ thời vua Thành Thái vì trong đó có những bức vẽ xe tay – một công nghệ tân thời, có xuất xứ từ Nhật Bản thời Thiên Hoàng Minh Trị năm 1868 và mới chỉ xuất hiện lần đầu tiên ở Hà Nội từ năm 1883, do Thống sứ Jean Thomas Raoul Bonnal cho nhập khẩu từ Nhật về. Đến khi vua Thành Thái lên ngôi năm 1889 thì ngài mới cho đưa xe tay và xe đạp vào Huế và chính ngài cũng tự mình đi xe đạp và ngự xe tay. Chính chi tiết thú vị này cho ta biết hoạ sĩ là một người Việt Nam và có thể là một ông hoàng trong hoàng gia nhà Nguyễn bởi vì mẫu xe tay trong truyện tranh không phải là loại xe tay thông thường chở khách ngoài đường, mà là loại xe tay có thành cao, sang trọng và an toàn hơn, chỉ dành cho giới quí tộc, và vì say mê với công nghệ mới, ông bèn vẽ nàng Kiều, một nhân vật sống cách đó cả mấy trăm năm ở bên Trung Quốc thời nhà Minh, cũng đi xe tay của thế kỷ 19 !
Ngoài ra xét về bút pháp và tạo hình trong cuốn truyện tranh này đã được Việt Nam hoá hoàn toàn.
Trước hết về nhân vật. Ta gặp một lối vẽ naif ( hồn nhiên) rất đậm chất Việt Nam mà tranh Tàu không thể có. Các nhân vật trong truyện đều được vẽ một cách mềm mại, ngây ngây rất hồn nhiên và có chút vụng về - là đặc điểm của tranh tượng dân gian Việt Nam, vì các nghệ nhân đều không được học anatomie kiểu Tây nên tạo hình rất ngây ngô nhưng lại rất có hồn vì họ là những người có một tâm hồn rất tình cảm và say mê công việc sáng tác – điều rất quan trọng để làm nên phẩm chất nghệ sĩ. Nói thế không có nghĩa là vẽ phải ngây ngô mới là nghệ sĩ mà trái lại phải vững vàng về tạo hình. Nhưng điều quan trọng là phải có tình. Nếu muốn thành một danh hoạ thì cần phải có cả hai. Điều này nhiều hoạ sĩ Trung Hoa làm được vì tranh của họ không nhưng điêu luyện bậc thầy mà cũng thấm đấm hồn cốt, tình cảm nghệ sĩ. Hoạ sĩ Việt Nam, nhất là thời chưa có trường Mỹ Thuật, thì tuy yếu về tạo hình, nhưng tình cảm thì có thừa. Vì thế tranh, tượng của họ vẫn đẹp, vẫn có duyên.
Đặc điểm thứ hai trong tạo hình nhân vật của truyện tranh này , là y phục. Ở đây ta có thể thấy những bức tranh mô tả nhân vật với y phục thời Nguyễn cuối thế kỷ 19, mặc dù các nhân vật trong truyện là người Tàu thời Minh sống ở thế kỷ 16. Đó là ta thấy các nhân vật bình dân như tiểu đồng, người hầu, vệ sĩ, lính tráng, dân chài, … đi chân đất ! Đây là điển hình của nếp sống Việt Nam thời đó, không những vì dân ta nghèo mà chủ yếu vì khí hậu ta nóng, nên có thể đi chân đất mà không bị lạnh quá. Trong khi ở Tàu là xứ lạnh, mọi người đều phải đi giày, dép, cho dù nhà nghèo thì cũng phải có giày cỏ, dép rơm để đi cho đỡ lạnh….
Đặc điểm thứ ba trong tạo hình nhân vật của truyện tranh này là …cái quần của giới bình dân ! thật vậy, bạn đọc xem kỹ hình vẽ các nhân vật này đều vẽ với cái quần lửng, ngắn ngang đầu gối. Đó cũng là một đặc điểm trong y phục bình dân Việt Nam thời đó. Trong khi giới quí tộc, nhà chủ thì mặc quần áo dài thượt, đi hài hoặc giày, dép thì những người hầu, dân lao động bình dân đều mặc quần lửng và đi chân đất.
Về kiến trúc thì trong truyện tranh này đều là lối kiến trúc Việt Nam, nói đúng hơn là kiến trúc Huế với những ngôi nhà giản dị mái ngói âm dương hoặc vẩy cá truyền thống Việt Nam và điển hình của xứ nóng, đó là nhà thấp, đơn giản và thông thoáng, ít cửa và tường. Đặc biệt hay có mành tre, trúc để che bớt ánh nắng chói chang của xứ nhiệt đới, điều không có ở xứ lạnh. Ngay những hoạ tiết trang trí trên mái cũng rất Việt Nam, đơn giản và thanh mảnh, chứ không cầu kỳ, nặng nề như mái nhà kiểu Tàu. Những nhà bình dân thậm chí chỉ là mái lá, vách đan bằng tre, nứa hay chỉ là cái phên, liếp, rào, dậu bằng tre.
Về nội thất trong nhà cũng vậy. Các giường tủ, bàn ghế, ban thờ, tràng kỷ đều là các đồ gỗ đơn giản, không trạm trổ cầu kỳ như đồ Tàu, thậm chí nhiều bàn ghế, giường tủ, là bằng tre nứa, trúc, mây, giang, vốn có nhiều ở Việt Nam. Nếu để ý kỹ nữa ta thấy các dụng cụ sinh hoạt thờ cúng trong nội thất cũng rất Việt Nam từ cái lư hương, cái đỉnh thờ, chân đèn nến, cho đến bình, lọ cắm hoa và cho đến các loại nhạc cụ như đàn nhị, đàn cò, đàn tam thập lục, đàn tỳ bà, đàn Nguyệt, sáo trúc, trống, phách…có đủ cả, có lẽ chỉ thiếu đàn bầu …
Tóm lại bộ truyện tranh không những chỉ kể lại cuộc đời nàng Kiều mà còn vẽ cả một khung cảnh sinh hoạt của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ 19 một cách rất đầy đủ, vừa tinh tế vừa hồn nhiên, ngộ nghĩnh, rất có duyên và rất có hồn.
Một điều đặc biệt rất quí hiếm đó là lần đầu tiên ta có một chân dung Nguyễn Du. Trong số 146 bức tranh kể truyện Kiều thì ngay bức đầu tiên hoạ sĩ đã trân trọng dành để vẽ chân dung đại thi hào Nguyễn Du. Ta thấy trong bức tranh này Nguyễn Du được vẽ giản dị trong bộ khăn đóng, áo dài điển hình của một nhà nho Việt Nam, mặc dù lúc đó ông là một vị quan lớn của triều đình nhà Nguyễn. Nhưng hoạ sĩ không vẽ ông xúng xính trong bộ quan phục diêm dúa, cầu kỳ và có phần hơi phường tuồng, trái lại vẽ ông trong bộ thường phục giản dị của một nhà nho với nét mặt hiền lành, khiêm cung và bình thản, là những đức tính quí báu của người quân tử và một nhà văn hoá lớn. Tưởng cũng nên biết rằng xưa nay các vua chúa Việt Nam không chú trọng vẽ chân dung, thậm chí còn cấm hoạ sĩ vẽ chân dung mình và cấm dân chúng nhìn mặt vua. Vì thế hậu quả là ngay nay ta không biết long nhan các vị vua Việt Nam dù sống rất gần thời hiện đại. Những chân dung các vị vua nhà Nguyễn từ Tự Đức trở về trước, nghĩa là thời trước khi có máy ảnh, đều chỉ là các chân dung phỏng hoạ do hoạ sĩ tưởng tượng vẽ ra chứ không có bức nào trực hoạ nhà vua, vì đó là một điều cấm. Đó là một điều đáng tiếc. Vua đã vậy thì quan lại, thường dân càng không có chân dung. Nhưng ở bộ truyện tranh này, lần đầu tiên hoạ sĩ vẽ chân dung nhà thơ, dù chỉ là tưởng tượng, nhưng cũng là một đột phá văn hoá. Điều quí giá là bức chân dung này có thể là sớm nhất vẽ về Nguyễn Du. Có lẽ chỉ từ thời vua Thành Thái mới có những đột phá về văn hoá, xoá bỏ những hủ tục cũ kỹ lạc hậu, để mở đường cho văn hoá, văn minh, tiến bộ vào Việt Nam.

Về kỹ thuật vẽ tranh, đây là loại tranh thuỷ mặc vẽ cảnh sinh hoạt. Điều này rất hiếm. Vì tranh thuỷ mặc vốn là một đặc sản Trung Hoa do Vương Duy (701-761) khởi xướng. Ông là một thiên tài đa năng kiểu như Leonardo Da Vinci của Italie, thậm chí còn hơn vì ông không những là thần thơ, thánh hoạ, còn là nhà thư pháp, thiền sư và còn là một chính khách ( hữu thừa tướng) nổi tiếng thời Thịnh Đường. Nhưng đặc điểm của tranh thuỷ mặc là chỉ vẽ phong cảnh, nếu không muốn nói tranh sơn thuỷ chỉ là cái cớ để thể hiện triết lý thâm sâu của thiền học. Vì thế tranh thuỷ mặc chỉ vẽ bằng mực đen trên giấy xuyến chỉ và tận dụng tính chất dễ thấm, dễ loang của giấy, mà người hoạ sĩ điều chế độ bão hoà của mực đen để diễn tả các cung bậc đậm nhạt vô cùng tinh tế của cảnh vật và cũng để nói lên triết lý thiền học bằng …mực đen nghèo nàn mà vô cùng phong phú ! Cũng vì thế tranh thuỷ mặc thường không vẽ cảnh sinh hoạt mà chủ yếu vẽ sơn thuỷ, hoa điểu, trong đó con người nếu có chỉ là điểm xuyết. Sau này từ đời Nguyên, Minh, Thanh, cũng có một số tranh sinh hoạt thuỷ mặc nhưng rất hiếm. Còn ở Việt Nam thì hoàn toàn không có loại tranh thuỷ mặc vẽ cảnh sinh hoạt cho đến khi phát hiện bộ truyện tranh Kiều ở thư viện hoàng gia Anh quốc. Vì thế tác phẩm này càng trở nên quí hiếm vô tiền khoáng hậu ( mặc dù có thế hậu thế sẽ lấy cảm hứng từ bộ tranh này để vẽ tiếp, nhưng bộ tranh này vẫn vô giá vì độc nhất vô nhị ).
Bộ tranh này hoạ sĩ vẽ bằng mực nho, bút lông trên giấy dó khổ 40x50cm gấp đôi lại để đóng thành sách. Mỗi trang sách như vậy có kích thước khoảng 40x25cm hoặc nhỏ hơn vì còn phải cắt gọt và chừa chỗ làm gáy sách. Trong mỗi trang, hoạ sĩ lại chia đôi, chỉ vẽ nửa dưới, còn nửa trên viết chữ. Như vậy mỗi bức tranh rất nhỏ, chỉ là một hình vuông khoảng 15x15cm. Với một khung tranh nhỏ như vậy, có thể gọi là loại tranh “miniature”, thì kỹ thuật vẽ cực khó vì hoạ sĩ phải căn chỉnh làm sao để độ loang của mực vừa đủ để diễn tả không gian sáng tối, đậm nhạt, đêm trăng, mây mù, hoặc trong sáng, rực rỡ tuỳ cảnh vật và mạch truyện. Muốn thế thì hoạ sĩ phải vẽ mỗi trang tranh lên loại giấy dó chập đôi, hoặc hơn, và mỗi trang phải xử lý để giảm độ thấm, đồng thời phải biểu giấy lên một mặt phẳng để chống nhăn, chống rách…nghĩa là khi vẽ phải làm mặt tranh đủ ẩm để có thể vờn khối và không gian bằng độ đặc loãng của mực, nhưng lại phải điều chế độ ẩm làm sao không bị rách giấy. Kế đến khi vẽ kiến trúc nhà cửa, mái ngói, bàn ghế, nội thất và đường nét các nhân vật, hoạ sĩ phải dạm hình trước bằng một loại bút than tẩm keo để vẽ các đường thẳng…Ngày nay thì hoạ sĩ tương đối dễ thao tác hơn vì có các dụng cụ, họa phẩm hiện đại có thể trợ giúp. Nhưng thời đó hoạ sĩ phải tự tạo các dụng cụ hỗ trợ và nói chung là phải có kỹ thuật bàn tay cực kỳ vững vàng mới có thể vẽ tranh nhân vật, sinh hoạt bằng bút lông, mực nho trên giấy dó. Về viết thư pháp cũng vậy. Lục Pháp Luận của Tạ Hách đưa lên điều quan trọng số 2 là “ cốt pháp dụng bút”. Nghĩa là tay dụng bút phải cực vững vàng. Gân cốt, tinh thần càng cứng cáp, vững vàng, thì cốt pháp càng rắn rỏi và nét vẽ, viết càng mềm mại, uyển chuyển, càng có “khí vận sinh động”.
Ở bộ tranh này ta thấy hoạ sĩ đã vượt khỏi kỹ thuật cốt pháp dụng bút mà đạt đến trình độ khí vận sinh động, khiến người thưởng ngoạn cảm thấy như sống trong không gian sinh động huyền ảo của câu chuyện nhưng lại ngất ngây trước vẻ thô vụng, run rẩy của một tâm hồn mẫn cảm và đam mê của người nghệ sĩ. Vì thế tác phẩm này có thể coi là một kiệt tác của hội hoạ Việt Nam thế kỷ 19 – một thế kỷ mà nền văn hoá Việt Nam ở ngưỡng cửa giao thời giữa văn minh truyền thống Á đông và văn minh hiện đại phương Tây.
Hôm nay bạn đọc có trên tay 2 kiệt tác của văn hoá Việt Nam là cuốn truyện tranh Kiều này cùng với cuốn truyện thơ kiệt tác của đại thi hào Nguyễn Du. Vậy là “song kiếm hợp bích”, lần đầu tiên bạn đọc được thưởng ngoạn cùng lúc 2 kiệt tác THI-HOẠ quí hiếm của văn hoá Việt Nam. Đó thật là :
“ Trong sao châu nhỏ duềnh quyên,
Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông! “
Paris, một ngày đông, 5-12-2020
DƯƠNG MẠNH TRÍ

Want your business to be the top-listed Government Service in Washington D.C.?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Website

Address


1600 Pennsylvania Avenue NW
Washington D.C., DC
20500