Công an Phước Hiệp
Công an xã Phước Hiệp- CATP Đà Nẵng Địa chỉ: Thôn 1, Phước Hiệp, Thành phố Đà Nẵng
02/06/2026
CÔNG AN XÃ PHƯỚC HIỆP LONG TRỌNG TỔ CHỨC LỄ CÔNG BỐ QUYẾT ĐỊNH THĂNG CẤP BẬC HÀM, NÂNG LƯƠNG NĂM 2026
Ngày 01/6/2026, Công an xã Phước Hiệp long trọng tổ chức Lễ công bố Quyết định của Giám đốc Công an thành phố về thăng cấp bậc hàm, nâng lương năm 2026 đối với cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị.
Tham dự buổi lễ có đồng chí Thượng tá Phạm Văn Sơn – Trưởng Công an xã Phước Hiệp; cùng các đồng chí lãnh đạo đơn vị và toàn thể cán bộ, chiến sĩ Công an xã.
Đợt thăng cấp bậc hàm, nâng lương năm 2026, Công an xã Phước Hiệp có 09 cán bộ, chiến sĩ đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định được xét thăng cấp bậc hàm, nâng lương. Đây không chỉ là sự ghi nhận của Đảng, Nhà nước và Ngành Công an đối với quá trình rèn luyện, cống hiến của mỗi cán bộ, chiến sĩ mà còn là niềm vinh dự, tự hào, là động lực để tiếp tục phấn đấu, trưởng thành và hoàn thành tốt hơn nữa nhiệm vụ được giao.
Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Thượng tá Phạm Văn Sơn ghi nhận, biểu dương những nỗ lực, cố gắng của các cán bộ, chiến sĩ được thăng cấp bậc hàm, nâng lương trong đợt này. Đồng chí nhấn mạnh, việc được thăng cấp bậc hàm, nâng lương vừa là niềm vinh dự, tự hào, vừa là trách nhiệm để mỗi cán bộ, chiến sĩ tiếp tục nỗ lực phấn đấu, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng, phát huy tinh thần trách nhiệm, tận tụy phục vụ Nhân dân, góp phần bảo đảm an ninh, trật tự trên địa bàn.
Đại diện các cán bộ, chiến sĩ được thăng cấp bậc hàm, nâng lương, đồng chí Trung tá Hồ Văn Lượng bày tỏ niềm vinh dự, tự hào khi được Đảng, Nhà nước và Ngành ghi nhận những kết quả phấn đấu trong thời gian qua; đồng thời khẳng định sẽ tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp của lực lượng Công an nhân dân, không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao năng lực công tác, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
02/06/2026
GIỮ VỮNG NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG TỪ GỐC RỄ CỦA LÒNG YÊU NƯỚC
Lòng yêu nước là giá trị cốt lõi, là sức mạnh tinh thần làm nên bản lĩnh và sức sống trường tồn của dân tộc Việt Nam. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, chủ nghĩa yêu nước luôn gắn liền với ý chí độc lập dân tộc, bảo vệ chủ quyền quốc gia và khát vọng phát triển đất nước. Bước vào thời đại Hồ Chí Minh, lòng yêu nước được nâng lên thành sức mạnh cách mạng to lớn dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm nên những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và công cuộc đổi mới hôm nay.
Tuy nhiên, chính vì nhận thức rõ sức mạnh đó, các thế lực thù địch đang đẩy mạnh âm mưu “phi chính trị hóa” lòng yêu nước bằng những thủ đoạn ngày càng tinh vi trên không gian mạng. Dưới vỏ bọc “khách quan”, “đa chiều” hay “tư duy tiến bộ”, chúng tung ra các luận điệu như: “Yêu nước không cần yêu Đảng”, “đừng mang chính trị vào lòng yêu nước”, “bên nào cũng yêu nước”... nhằm từng bước tách lòng yêu nước khỏi nền tảng lịch sử, chính trị và cách mạng của dân tộc.
Để thực hiện mục tiêu đó, các đối tượng tập trung xuyên tạc lịch sử, bóp méo bản chất các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, làm mờ ranh giới giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa những người hy sinh vì Tổ quốc với các lực lượng từng đi ngược lại lợi ích dân tộc. Nguy hiểm hơn, chúng tìm cách phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, hạ thấp các giá trị lịch sử đã được khẳng định bằng máu, mồ hôi và sự hy sinh của nhiều thế hệ người Việt Nam.
Mục tiêu cuối cùng không phải là tranh luận lịch sử mà là làm suy giảm niềm tin xã hội, tạo tâm lý hoài nghi, thờ ơ chính trị, đặc biệt trong giới trẻ. Khi lịch sử bị bóp méo, lòng yêu nước bị tách khỏi trách nhiệm công dân và vận mệnh quốc gia, những giá trị nền tảng của dân tộc cũng đứng trước nguy cơ bị xói mòn.
Lịch sử đã chứng minh, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, chủ nghĩa yêu nước mới được tổ chức thành sức mạnh cách mạng đủ khả năng đưa dân tộc thoát khỏi ách nô lệ, giành độc lập, thống nhất đất nước và phát triển như ngày nay. Vì vậy, không thể tách rời lòng yêu nước khỏi nền tảng chính trị, lịch sử và con đường phát triển mà dân tộc đã lựa chọn.
Trước những thủ đoạn chống phá ngày càng tinh vi trên không gian mạng, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần nâng cao cảnh giác, chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc; đồng thời bồi đắp nhận thức lịch sử, củng cố niềm tin vào con đường cách mạng của dân tộc. Bảo vệ lòng yêu nước chân chính cũng chính là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng và tương lai phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.
02/06/2026
QUY ĐỊNH MỚI VỀ CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ
Ngày 01/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 196/2026/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ.
Nghị định quy định rõ, Văn phòng Chính phủ là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, cơ quan tham mưu chiến lược, trọng yếu, cơ mật, giúp việc trực tiếp của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ (bao gồm cả các Phó Thủ tướng Chính phủ).
Văn phòng Chính phủ có chức năng tham mưu tổng hợp, điều phối giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tổ chức các hoạt động chung của Chính phủ và lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ; thực hiện chức năng là trung tâm thông tin tổng hợp, truyền thông phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và cung cấp thông tin cho công chúng; bảo đảm điều kiện vật chất, kỹ thuật, hậu cần phục vụ hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
15 nhóm nhiệm vụ và quyền hạn
Theo Nghị định số 196/2026/NĐ-CP, Văn phòng Chính phủ thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Luật Tổ chức Chính phủ, quy định của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ và những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau:
1. Tham mưu tổng hợp, điều phối giúp Chính phủ
a) Chủ trì xây dựng và quản lý chương trình công tác của Chính phủ theo quy định của pháp luật; theo dõi, đôn đốc các bộ, cơ quan ngang bộ (sau đây gọi tắt là bộ, ngành), Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) các cơ quan, tổ chức liên quan thực hiện chương trình công tác của Chính phủ và Quy chế làm việc của Chính phủ; tổng hợp, đôn đốc, kiểm tra, đánh giá tình hình, kết quả thực hiện, báo cáo Chính phủ;
b) Phối hợp với các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan, tổ chức liên quan trong quá trình chuẩn bị và hoàn chỉnh các đề án, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trình Chính phủ xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật;
c) Chủ trì rà soát, có ý kiến về quy trình, thủ tục, thẩm quyền, nội dung chủ yếu của hồ sơ trình theo quy định; tổng hợp ý kiến khác nhau của các bộ, ngành, cơ quan liên quan; tham mưu tổng hợp, có ý kiến độc lập đối với các đề án, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và các công việc khác do các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan, tổ chức liên quan trình Chính phủ;
d) Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan, tổ chức liên quan chuẩn bị nội dung, phục vụ phiên họp Chính phủ, các hội nghị, cuộc làm việc của Chính phủ, Thường trực Chính phủ;
đ) Tham mưu giúp Chính phủ trong quan hệ công tác với các cơ quan của Đảng, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
e) Chủ trì xây dựng các đề án, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và các báo cáo theo sự phân công của Chính phủ.
2. Tham mưu tổng hợp, điều phối giúp Thủ tướng Chính phủ
a) Chủ trì xây dựng và quản lý chương trình công tác của Thủ tướng Chính phủ theo quy định của pháp luật; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, tổng hợp, đánh giá, báo cáo tình hình, kết quả thực hiện chương trình công tác của Thủ tướng Chính phủ;
b) Chủ trì rà soát, có ý kiến về quy trình, thủ tục, thẩm quyền, nội dung chủ yếu của hồ sơ trình theo quy định; tổng hợp ý kiến khác nhau của các bộ, ngành, cơ quan liên quan; tham mưu tổng hợp, có ý kiến độc lập đối với các đề án, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và các công việc khác do các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan, tổ chức liên quan trình Thủ tướng Chính phủ;
c) Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan, tổ chức liên quan hoàn chỉnh nội dung, thủ tục, hồ sơ và dự thảo văn bản để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định đối với những công việc thường xuyên khác do các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan, tổ chức trình;
d) Chủ động nắm tình hình, báo cáo, tham mưu với Thủ tướng Chính phủ những nhiệm vụ trọng tâm, cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo; kiến nghị xử lý, ứng phó với các công việc đột xuất, phát sinh cần giải quyết gấp;
đ) Đầu mối giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ triển khai thực hiện chương trình công tác theo phân công của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ;
e) Giúp Thủ tướng Chính phủ điều phối thực hiện chương trình công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; điều phối hoạt động giữa các thành viên Chính phủ phù hợp với chương trình công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;
g) Điều phối hoạt động giữa các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong xây dựng, thực thi chính sách, pháp luật và thực hiện chương trình công tác;
h) Điều phối hoạt động của các tổ chức phối hợp liên ngành, tổ công tác, tổ chức tư vấn do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu hoặc thành lập;
i) Kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan, tổ chức liên quan xây dựng cơ chế, chính sách, đề án, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật để trình cấp có thẩm quyền quyết định; hoặc chủ động nghiên cứu, đề xuất các sáng kiến, cơ chế, chính sách mới trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định;
k) Trong trường hợp các bộ, cơ quan liên quan đã trao đổi nhưng vấn đề trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ còn có ý kiến khác nhau, Văn phòng Chính phủ báo cáo, tham mưu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định hoặc đề xuất Thủ tướng Chính phủ chủ trì họp với lãnh đạo của các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan, tổ chức liên quan để xem xét, quyết định phương án xử lý;
l) Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan, tổ chức liên quan xây dựng báo cáo công tác, báo cáo giải trình, trả lời chất vấn của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, các cơ quan có thẩm quyền và Nhân dân theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ;
m) Chủ trì soạn thảo, biên tập các bài viết, bài phát biểu, trả lời phỏng vấn báo chí, tài liệu (bao gồm cả tài liệu giấy và video) phục vụ Thủ tướng Chính phủ và các báo cáo, tài liệu, chỉ đạo khác theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; biên tập lại, bổ sung, hoàn chỉnh sau khi Thủ tướng Chính phủ đã phát biểu hoặc có ý kiến; đồng thời triển khai lưu trữ lâu dài theo quy định của Đảng và Nhà nước;
n) Tổ chức công tác theo dõi, đôn đốc, đánh giá tình hình thực hiện các nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan; đề xuất các biện pháp cần thiết nhằm bảo đảm kỷ luật, kỷ cương hành chính trong thực hiện nhiệm vụ;
o) Đề xuất Thủ tướng Chính phủ đánh giá đối với các thành viên Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao; đề xuất hình thức xử lý đối với các trường hợp không thực hiện đúng Quy chế làm việc của Chính phủ;
p) Đầu mối phối hợp với các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan, tổ chức liên quan chuẩn bị nội dung phục vụ các cuộc họp, làm việc, đi công tác địa phương, cơ sở của Thủ tướng Chính phủ;
q) Được tham dự các cuộc họp, hội nghị của bộ, ngành, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan, tổ chức liên quan; đề nghị bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, số liệu, văn bản liên quan, báo cáo tình hình thực hiện các nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao; tham gia các tổ chức phối hợp liên ngành do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu theo quy định; chủ động làm việc với bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan, tổ chức để nắm tình hình phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;
r) Được đề xuất Thủ tướng Chính phủ thành lập các tổ công tác chuyên trách, tổ chức tư vấn chiến lược, hội đồng để tham mưu, tư vấn xử lý các vấn đề lớn, quan trọng, cấp bách;
s) Được trả lại ngay nơi gửi và nêu rõ lý do hoặc chuyển hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết đối với hồ sơ chưa đầy đủ, chưa đúng quy trình, thủ tục, chưa thực hiện đầy đủ quy định có liên quan, không đúng thẩm quyền giải quyết của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, không đề xuất, kiến nghị rõ phương án giải quyết, xử lý; đồng thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ và thông báo cho cơ quan trình biết;
t) Chủ trì xây dựng các đề án, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản khác theo sự phân công của Thủ tướng Chính phủ.
3. Trung tâm thông tin tổng hợp, truyền thông phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
a) Thực hiện chế độ báo cáo hằng ngày, định kỳ, chuyên đề, đột xuất theo quy định và các báo cáo khác theo yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;
b) Tiếp nhận thông tin từ bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan, tổ chức, cá nhân về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; chủ động theo dõi, phối hợp, nắm tình hình thực tiễn để kịp thời tham mưu, đề xuất Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, chỉ đạo xử lý kịp thời những vấn đề cấp bách, nổi cộm, bức xúc, dư luận xã hội quan tâm;
c) Cung cấp thông tin cho các Thành viên Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan của Đảng, Nhà nước và các cơ quan, tổ chức liên quan về tình hình kinh tế - xã hội của đất nước và công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ theo quy định;
d) Thu thập, tổng hợp thông tin báo chí, vấn đề dư luận quan tâm, báo cáo hằng ngày, tham mưu, đề xuất Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo đối với những vấn đề cần giải quyết;
đ) Tổ chức theo dõi, tổng hợp và xây dựng báo cáo dư luận xã hội định kỳ, đột xuất về cơ chế, chính sách; tham mưu, đề xuất Thủ tướng Chính phủ các giải pháp chỉ đạo, điều hành;
e) Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan, tổ chức liên quan phát triển, quản lý, vận hành các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao; được kết nối, khai thác trực tiếp dữ liệu từ các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành; kết nối liên thông, điều phối, tích hợp, chia sẻ thông tin giữa Văn phòng Chính phủ với các ban, bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; phân tích, dự báo, cung cấp thông tin phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ theo quy định của pháp luật;
g) Chủ trì hướng dẫn, đôn đốc các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc gửi, nhận văn bản điện tử; thực hiện chế độ báo cáo phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ theo quy định.
4. Về cung cấp thông tin cho công chúng
a) Cung cấp thông tin cho công chúng về các hoạt động chủ yếu, những quyết định quan trọng trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, những sự kiện chính trị, kinh tế, xã hội nổi bật và các thông tin khác theo quy định của pháp luật và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ;
b) Tổ chức truyền thông, định hướng truyền thông chính sách về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; xây dựng và quản trị các kênh, sản phẩm truyền thông đa nền tảng phục vụ hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;
c) Thực hiện nhiệm vụ cơ quan phát ngôn của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;
d) Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan, tổ chức liên quan tổ chức họp báo Chính phủ, cung cấp thông tin cho báo chí định kỳ, đột xuất; tham mưu Thủ tướng Chính phủ trả lời phỏng vấn báo chí theo quy định của pháp luật;
đ) Phối hợp với các cơ quan thông tin truyền thông của Trung ương để truyền thông và cung cấp thông tin về tình hình kinh tế - xã hội; hoạt động chỉ đạo, điều hành; định hướng chính sách thuộc chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;
e) Được yêu cầu các cơ quan liên quan, cơ quan báo chí đính chính, hiệu chỉnh thông tin không chính xác, chưa phù hợp; ngăn chặn, xử lý kịp thời thông tin sai sự thật, xuyên tạc; làm đầu mối cung cấp thông tin chính thống phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;
g) Xây dựng và phát hành thông cáo báo chí hằng ngày, đột xuất về hoạt động chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; cung cấp thông tin chuẩn hóa gửi bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan báo chí sử dụng truyền thông;
h) Điều phối thông tin liên bộ, ngành bảo đảm tính thống nhất; có ý kiến đối với dự thảo thông cáo báo chí của các bộ, ngành có nội dung quan trọng, nhạy cảm, liên ngành, liên quan đến chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;
i) Thực hiện quản lý nhà nước về Công báo; quản lý, xuất bản và phát hành Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; hướng dẫn, kiểm tra Công báo cấp tỉnh về chuyên môn, nghiệp vụ xuất bản, phát hành Công báo điện tử; theo dõi, đôn đốc, đánh giá, định kỳ giao ban, sơ kết, tổng kết tình hình quản lý nhà nước, tổ chức triển khai thực hiện các quy định của pháp luật về Công báo; quản lý, vận hành hệ thống Công báo điện tử;
k) Quản lý, vận hành Cổng Thông tin điện tử Chính phủ; hướng dẫn nghiệp vụ, kết nối, tích hợp thông tin với Cổng Thông tin điện tử của bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
5. Bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật, hậu cần phục vụ hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ theo quy định của Đảng và Nhà nước.
6. Xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản khác thuộc thẩm quyền của Văn phòng Chính phủ theo quy định của pháp luật.
7. Thực hiện nhiệm vụ tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, kiểm tra văn bản và xử lý đối với các văn bản trái pháp luật theo thẩm quyền, quy định của pháp luật.
8. Tổ chức tiếp nhận, xử lý kịp thời các văn bản do các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan gửi, trình Đảng ủy Chính phủ, Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ theo quy định và theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; phát hành và quản lý các văn bản của Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Chính phủ, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; xây dựng, quản lý, vận hành hệ thống lưu trữ tài liệu điện tử tại Văn phòng Chính phủ theo quy định về an ninh mạng, an ninh dữ liệu, cơ yếu, bảo vệ bí mật nhà nước và quy định của pháp luật.
9. Thực hiện nghiêm, hiệu quả công tác kiểm tra, đôn đốc; tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo quy định của pháp luật.
10. Tổng kết, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ công tác văn phòng đối với Văn phòng các bộ, ngành, Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
11. Về công chức
a) Công chức Văn phòng Chính phủ phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức tốt, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao và am hiểu sâu sắc lĩnh vực được phân công phụ trách, theo dõi; được áp dụng cơ chế khuyến khích, bảo vệ đối với cán bộ, công chức năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; được áp dụng cơ chế tiền lương, phụ cấp và chế độ, chính sách đãi ngộ đặc thù theo quy định;
b) Văn phòng Chính phủ được ưu tiên điều động, luân chuyển, biệt phái công chức ở các bộ, ngành, cơ quan, địa phương về làm việc tại Văn phòng Chính phủ và từ Văn phòng Chính phủ đến làm việc tại các bộ, ngành, cơ quan, địa phương. Các bộ, ngành, cơ quan, địa phương có trách nhiệm ưu tiên bố trí, điều động, luân chuyển, biệt phái, tiếp nhận biệt phái công chức theo đề nghị của Văn phòng Chính phủ.
12. Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế công chức, số lượng người làm việc, vị trí việc làm; quyết định tuyển dụng, sử dụng, quản lý và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với cán bộ, công chức, viên chức theo thẩm quyền.
13. Quyết định và tổ chức triển khai thực hiện chương trình, kế hoạch cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, Chính phủ số của Văn phòng Chính phủ theo mục tiêu, nội dung, chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước và quy định của pháp luật.
14. Quản lý tài chính, tài sản và các nguồn lực khác được giao; quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; thực hiện hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật.
15. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Đảng ủy Chính phủ, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao hoặc theo quy định của pháp luật.
Cơ cấu tổ chức bao gồm 17 đơn vị
Theo Nghị định số 196/2026/NĐ-CP, cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ gồm 17 đơn vị sau:
1. Vụ Tổng hợp.
2. Vụ Pháp luật.
3. Vụ Kinh tế tổng hợp.
4. Vụ Công nghiệp.
5. Vụ Nông nghiệp.
6. Vụ Khoa giáo - Văn xã.
7. Vụ Quan hệ quốc tế.
8. Vụ Nội chính.
9. Vụ Tổ chức công vụ.
10. Vụ Theo dõi công tác thanh tra (Vụ I).
11. Vụ Công tác Quốc hội, Địa phương và Đoàn thể.
12. Vụ Thư ký - Biên tập.
13. Vụ Hành chính.
14. Vụ Tổ chức cán bộ.
15. Cục Chuyển đổi số.
16. Cục Quản trị - Tài vụ.
17. Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ.
Các đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ là các tổ chức hành chính do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức.
Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ là Cục loại 1, được sử dụng con dấu hình Quốc huy.
Vụ Hành chính có 03 phòng.
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ trình Thủ tướng Chính phủ ban hành danh sách các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Văn phòng Chính phủ.
Điều khoản chuyển tiếp
Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (quy định tại Nghị định của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ) tiếp tục thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo quy định hiện hành cho đến khi Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ được Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ ban hành có hiệu lực thi hành.
Nghị định số 196/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/6/2026.
Nghị định này thay thế: Nghị định số 36/2025/NĐ-CP ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ; Nghị định số 369/2025/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 36/2025/NĐ-CP ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Chính phủ./.
01/06/2026
KIÊN ĐỊNH NHƯNG KHÔNG BẢO THỦ, ĐỔI MỚI NHƯNG KHÔNG CHỆCH HƯỚNG
Một trong những điệp khúc quen thuộc mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị liên tục nhai đi nhai lại với tần suất dày đặc trên không gian mạng là tán phát thông tin xấu độc, xuyên tạc sự thật, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước và chế độ bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt và nguy hiểm.
Chúng tung ra luận điệu cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam càng kiên định thì càng bảo thủ, trì trệ; càng đổi mới thì càng chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Thoạt nghe, không ít người có thể cảm thấy lập luận này có vẻ hợp lý. Tuy nhiên, bản chất đây chỉ là kiểu đánh tráo khái niệm, cố tình gieo rắc sự hoài nghi, bi quan, làm lung lay niềm tin của Nhân dân vào con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn.
Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu phải kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc đối với cách mạng Việt Nam, đặc biệt là bốn nội dung kiên định lớn gồm: kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng.
Đây không phải là những khẩu hiệu hình thức, càng không phải là bức tường giáo điều như các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị rêu rao. Đó là sự kết tinh của tầm nhìn, trí tuệ và bản lĩnh của một Đảng cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện; là thành quả của quá trình tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận qua gần một thế kỷ lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đặc biệt là qua thực tiễn hơn 40 năm đổi mới đất nước.
Kiên định ở đây không đồng nghĩa với cứng nhắc, giáo điều hay bảo thủ. Kiên định không phải là ôm giữ quá khứ rồi ngủ quên trên những thành tựu đã có. Kiên định là giữ vững nền tảng tư tưởng, lập trường, quan điểm cách mạng, mục tiêu và các nguyên tắc cốt lõi để không dao động, ngả nghiêng trước những biến động phức tạp của thời cuộc.
Chúng ta đều biết, một con tàu muốn vươn khơi phải có la bàn định hướng. Một dân tộc muốn phát triển bền vững phải có hệ giá trị, có nền tảng tư tưởng và văn hóa dẫn đường. Nếu dao động, thiếu kiên định thì đổi mới rất dễ trở thành đổi màu. Nếu thiếu nguyên tắc, cải cách rất dễ trượt sang hỗn loạn, dẫn đến tình trạng mạnh ai nấy làm, trống đánh xuôi, kèn thổi ngược, gây ra những hệ lụy hết sức nguy hiểm.
Nhìn lại chặng đường hơn 40 năm đổi mới, chúng ta càng thấy rõ điều đó. Từ một đất nước có điểm xuất phát thấp, nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, nghèo nàn, lạc hậu, từng bị bao vây, cấm vận từ nhiều phía, Việt Nam đã vươn lên trở thành quốc gia có quy mô kinh tế hàng đầu khu vực. Đời sống Nhân dân không ngừng được cải thiện. Quốc phòng, an ninh được tăng cường. Uy tín và vị thế quốc tế của đất nước ngày càng được nâng cao.
Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử ấy chính là minh chứng sinh động cho sự đúng đắn của việc kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn đổi mới; đồng thời không ngừng đổi mới tư duy, thích ứng linh hoạt với điều kiện cụ thể của Việt Nam và những biến động của thế giới.
Trong bối cảnh các thế lực thù địch tiếp tục gia tăng hoạt động chống phá bằng các thủ đoạn “diễn biến hòa bình” ngày càng tinh vi, thâm hiểm, việc chủ động nhận diện, vạch trần âm mưu, thủ đoạn của chúng và đẩy mạnh đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc đường lối đổi mới của Đảng cần được tiến hành đồng bộ, sắc bén, có chiều sâu lý luận và sức thuyết phục cao.
Đây không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan tuyên giáo, báo chí hay lực lượng chuyên trách, mà còn là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị; của mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và mỗi công dân yêu nước trong sự nghiệp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng và con đường phát triển mà dân tộc Việt Nam đã lựa chọn.
01/06/2026
31/05/2026
NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI THỦ ĐOẠN GIẢ MẠO THÔNG TIN TRONG KỶ NGUYÊN SỐ
Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra những cơ hội to lớn cho nhân loại trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, cùng với những giá trị tích cực đó, công nghệ AI cũng đang bị một số tổ chức, cá nhân lợi dụng để tạo ra các sản phẩm giả mạo tinh vi, làm sai lệch thông tin, thao túng nhận thức và gây ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin xã hội. Trong bối cảnh không gian mạng trở thành môi trường kết nối và trao đổi thông tin chủ yếu của hàng triệu người dân, việc nhận diện rõ nguy cơ “thực – ảo đảo chiều” đang trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm bảo vệ sự thật, giữ vững ổn định xã hội và bảo đảm an ninh quốc gia trong thời đại số.
KHÔNG GIAN MẠNG – MẶT TRẬN MỚI CỦA CUỘC CHIẾN BẢO VỆ SỰ THẬT
Lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng kiến nhiều cuộc cách mạng khoa học, công nghệ làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất và đời sống xã hội. Tuy nhiên, chưa bao giờ ranh giới giữa thật và giả lại trở nên mong manh như hiện nay. Chỉ với một thiết bị điện tử thông thường và một số phần mềm ứng dụng AI, bất kỳ ai cũng có thể tạo ra hình ảnh, video, âm thanh giả mạo với độ chân thực rất cao. Những công nghệ như deepfake, AI tạo sinh hay các nền tảng xử lý dữ liệu đa phương tiện đang giúp việc sản xuất nội dung trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết.
Điều đáng lo ngại là các sản phẩm giả mạo này không còn mang tính chất sơ sài như trước đây mà ngày càng tinh vi, khó phát hiện bằng mắt thường. Một đoạn video được cắt ghép khéo léo, một bản ghi âm được mô phỏng giọng nói chính xác hoặc một hình ảnh được tạo ra bởi AI có thể khiến nhiều người nhầm tưởng đó là sự thật. Trong môi trường thông tin số, nơi tốc độ lan truyền được tính bằng giây, những nội dung giả mạo có thể nhanh chóng tạo ra hiệu ứng tâm lý mạnh mẽ, gây hoang mang dư luận và tác động trực tiếp đến nhận thức xã hội.
Thực tiễn thời gian qua cho thấy, nhiều vụ việc lừa đảo sử dụng công nghệ AI đã gây thiệt hại lớn về tài sản và ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống người dân. Không ít trường hợp các đối tượng sử dụng hình ảnh và giọng nói giả mạo người thân để thực hiện các cuộc gọi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản. Một số đối tượng còn lợi dụng AI để cắt ghép hình ảnh, tạo dựng thông tin sai sự thật liên quan đến lãnh đạo, cơ quan nhà nước hoặc các sự kiện xã hội nhạy cảm nhằm gây nhiễu loạn thông tin và kích động dư luận.
Đây không còn đơn thuần là hành vi vi phạm pháp luật riêng lẻ mà đã trở thành thách thức mới đối với công tác bảo đảm an ninh thông tin, an ninh mạng và bảo vệ nền tảng tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia đang được đẩy mạnh.
ÂM MƯU LỢI DỤNG AI ĐỂ THAO TÚNG NHẬN THỨC VÀ GÂY CHIA RẼ XÃ HỘI
Trong thời đại số, thông tin không chỉ là phương tiện truyền tải tri thức mà còn trở thành công cụ tác động đến tâm lý, hành vi và nhận thức cộng đồng. Chính vì vậy, nhiều tổ chức, cá nhân xấu đã tìm cách lợi dụng AI như một “vũ khí mềm” để phục vụ các mục đích chống phá.
Thông qua các nền tảng mạng xã hội, các đối tượng có thể tạo ra những “nhân chứng giả”, “chuyên gia giả”, hình ảnh giả hoặc video giả để tạo cảm giác chân thực đối với người tiếp nhận. Bằng cách đánh vào tâm lý tò mò, lo lắng hoặc bức xúc của công chúng, những thông tin sai lệch này được lan truyền với tốc độ rất nhanh, từ đó hình thành các luồng dư luận tiêu cực và gây nhiễu loạn môi trường thông tin.
Đặc biệt, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị đang triệt để lợi dụng những thành tựu công nghệ mới nhằm xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng; bóp méo chính sách, pháp luật của Nhà nước; bôi nhọ lãnh đạo; kích động tâm lý hoài nghi và gieo rắc những nhận thức lệch lạc trong xã hội. Nếu trước đây các luận điệu chống phá thường mang tính áp đặt, cực đoan và dễ nhận diện thì hiện nay chúng được ngụy trang dưới nhiều hình thức tinh vi hơn, kết hợp giữa hình ảnh, âm thanh và các sản phẩm do AI tạo ra để tăng tính thuyết phục.
Mục tiêu cuối cùng của các hoạt động này không chỉ nhằm tạo ra những tranh cãi trên không gian mạng mà còn hướng tới việc làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ; gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; từng bước thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nhận thức của một bộ phận quần chúng. Đó cũng chính là biểu hiện mới của chiến tranh thông tin, chiến tranh nhận thức trong thời đại công nghệ số mà các quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt.
NGUY CƠ LỚN NHẤT LÀ SỰ XÓI MÒN NIỀM TIN XÃ HỘI
Điều đáng lo ngại nhất không phải là sự xuất hiện của các công nghệ giả mạo mà là nguy cơ con người dần mất khả năng phân biệt thật – giả và đánh mất niềm tin vào những giá trị chân thực.
Khi người dân không còn biết nên tin vào nguồn thông tin nào, khi mọi dữ liệu đều có thể bị nghi ngờ, khi cảm xúc lấn át lý trí thì xã hội rất dễ rơi vào trạng thái bất ổn về nhận thức. Một đoạn video giả có thể gây ra sự hoang mang trong cộng đồng; một tin đồn thất thiệt có thể tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất, kinh doanh; một chiến dịch thông tin sai lệch có thể làm tổn hại đến danh dự của cá nhân, uy tín của tổ chức và ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia.
Thực tế trên thế giới cho thấy, nhiều chiến dịch thao túng thông tin đã được sử dụng để can thiệp vào đời sống chính trị, kích động chia rẽ xã hội, lan truyền thuyết âm mưu hoặc làm suy giảm niềm tin của người dân vào các thiết chế công quyền. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và bùng nổ công nghệ hiện nay, Việt Nam cũng không nằm ngoài những tác động đó.
Đặc biệt, xu hướng tiếp nhận thông tin theo cảm tính, thích chia sẻ những nội dung gây sốc, giật gân mà không kiểm chứng nguồn tin đang tạo điều kiện thuận lợi cho tin giả phát tán rộng rãi. Khi AI được kết hợp với thuật toán mạng xã hội, khả năng lan truyền các nội dung sai lệch càng trở nên mạnh mẽ hơn, tạo ra nguy cơ thao túng nhận thức trên diện rộng.
XÂY DỰNG “LÁ CHẮN SỰ THẬT” TRONG KỶ NGUYÊN AI
Trước những thách thức mới đặt ra, việc bảo vệ sự thật trên không gian mạng cần được triển khai đồng bộ bằng nhiều giải pháp từ pháp luật, công nghệ đến nâng cao nhận thức xã hội.
Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm quản lý hiệu quả các hoạt động liên quan đến AI, xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng công nghệ để lừa đảo, bôi nhọ, xuyên tạc hoặc chống phá Nhà nước. Cùng với đó, tăng cường đầu tư cho các hệ thống giám sát, phát hiện và cảnh báo nội dung giả mạo; ứng dụng chính công nghệ AI để nhận diện và ngăn chặn các sản phẩm deepfake, tin giả và các hình thức thao túng thông tin mới.
Bên cạnh các giải pháp kỹ thuật, việc xây dựng “lá chắn nhận thức” cho mỗi người dân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân cần nâng cao kỹ năng số, hình thành thói quen kiểm chứng thông tin trước khi tin tưởng hoặc chia sẻ. Không tiếp tay cho tin giả, không lan truyền thông tin chưa được xác thực chính là hành động thiết thực góp phần bảo vệ môi trường thông tin lành mạnh.
Trong cuộc đấu tranh này, báo chí cách mạng tiếp tục giữ vai trò nòng cốt trong việc cung cấp thông tin chính xác, kịp thời; định hướng dư luận xã hội; phản bác các luận điệu sai trái, thù địch; củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Trong bối cảnh “sự thật nhân tạo” ngày càng xuất hiện nhiều hơn, báo chí chính thống càng phải khẳng định vai trò là nguồn thông tin đáng tin cậy, là điểm tựa cho công chúng trong quá trình tiếp nhận và kiểm chứng thông tin.
Sự phát triển của AI là xu thế tất yếu và không thể đảo ngược. Tuy nhiên, công nghệ chỉ thực sự phục vụ con người khi được sử dụng đúng mục đích và đặt dưới sự kiểm soát của pháp luật, đạo đức và trách nhiệm xã hội. Một cộng đồng có tri thức số, một xã hội có bản lĩnh chính trị vững vàng và một nền báo chí cách mạng trách nhiệm sẽ tạo nên “lá chắn sự thật” vững chắc trước mọi âm mưu thao túng thông tin.
Cuộc đấu tranh chống tin giả, chống xuyên tạc và chống thao túng nhận thức trong thời đại số thực chất là cuộc đấu tranh bảo vệ sự thật, bảo vệ niềm tin xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan chức năng, lực lượng chuyên trách hay các cơ quan báo chí mà còn là trách nhiệm của mỗi công dân trong hành trình xây dựng một không gian mạng an toàn, lành mạnh và văn minh. Chỉ khi sự thật được bảo vệ, niềm tin được củng cố và nhận thức xã hội được định hướng đúng đắn, chúng ta mới có thể phát huy hiệu quả những thành tựu của công nghệ số phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới.
Click here to claim your Sponsored Listing.
Location
Category
Contact the business
Telephone
Website
Address
Da Nang
