QS LIÊN CHIỂU

QS LIÊN CHIỂU

Share

Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from QS LIÊN CHIỂU, Da Nang.

12/06/2025

QUỐC HỘI THÔNG QUA NGHỊ QUYẾT VỀ SẮP XẾP ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CẤP TỈNH, CẢ NƯỚC CÒN 34 TỈNH, THÀNH

Quốc hội đề nghị các cơ quan theo thẩm quyền khẩn trương thực hiện các công tác chuẩn bị cần thiết bảo đảm để chính quyền địa phương ở các tỉnh, thành phố hình thành sau sắp xếp chính thức hoạt động từ ngày 1/7/2025. Nghị quyết của Quốc hội có hiệu lực thi hành từ ngày được thông qua.
Sáng 12/6, tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV, với 461/465 đại biểu có mặt biểu quyết tán thành (bằng 96,44% tổng số đại biểu Quốc hội), Quốc hội đã thông qua Nghị quyết của Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày được Quốc hội thông qua.

Theo đó, Quốc hội quyết nghị sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Hà Giang và tỉnh Tuyên Quang thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Tuyên Quang. Sau khi sắp xếp, tỉnh Tuyên Quang có diện tích tự nhiên là 13.795,50km2, quy mô dân số là 1.865.270 người.

Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Yên Bái và tỉnh Lào Cai thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Lào Cai. Sau khi sắp xếp, tỉnh Lào Cai có diện tích tự nhiên là 13.256,92km2, quy mô dân số là 1.778.785 người.

Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Bắc Kạn và tỉnh Thái Nguyên thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Thái Nguyên. Sau khi sắp xếp, tỉnh Thái Nguyên có diện tích tự nhiên là 8.375,21km2, quy mô dân số là 1.799.489 người.

Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Vĩnh Phúc, tỉnh Hòa Bình và tỉnh Phú Thọ thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Phú Thọ. Sau khi sắp xếp, tỉnh Phú Thọ có diện tích tự nhiên là 9.361,38km², quy mô dân số là 4.022.638 người.

Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bắc Ninh thành tỉnh mới có tên gọi là Bắc Ninh. Sau khi sắp xếp, tỉnh Bắc Ninh có diện tích tự nhiên là 4.718,6km2, quy mô dân số là 3.619.433 người.

Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Thái Bình và tỉnh Hưng Yên thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Hưng Yên. Sau khi sắp xếp, tỉnh Hưng Yên có diện tích tự nhiên là 2.514,81km2, quy mô dân số là 3.567.943 người.

Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thành phố Hải Phòng và tỉnh Hải Dương thành thành phố mới có tên gọi là thành phố Hải Phòng. Sau khi sắp xếp, thành phố Hải Phòng có diện tích tự nhiên là 3.194,72km2, quy mô dân số là 4.664.124 người.

Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Hà Nam, tỉnh Nam Định và tỉnh Ninh Bình thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Ninh Bình. Sau khi sắp xếp, tỉnh Ninh Bình có diện tích tự nhiên là 3.942,62 km2, quy mô dân số là 4.412.264 người.

Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Quảng Bình và tỉnh Quảng Trị thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Quảng Trị. Sau khi sắp xếp, tỉnh Quảng Trị có diện tích tự nhiên là 12.700km2, quy mô dân số là 1.870.845 người.

Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam thành thành phố mới có tên gọi là thành phố Đà Nẵng. Sau khi sắp xếp, thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên là 11.859,59km2, quy mô dân số là 3.065.628 người.

Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Kon Tum và tỉnh Quảng Ngãi thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Quảng Ngãi. Sau khi sắp xếp, tỉnh Quảng Ngãi có diện tích tự nhiên là 14.832,55km2, quy mô dân số là 2.161.755 người.

Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Bình Định và tỉnh Gia Lai thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Gia Lai. Sau khi sắp xếp, tỉnh Gia Lai có diện tích tự nhiên là 21.576,53km2, quy mô dân số là 3.583.693 người.

Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Ninh Thuận và tỉnh Khánh Hoà thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Khánh Hòa. Sau khi sắp xếp, tỉnh Khánh Hoà có diện tích tự nhiên là 8.555,86km2, quy mô dân số là 2.243.554 người.

Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Đắk Nông, tỉnh Bình Thuận và tỉnh Lâm Đồng thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Lâm Đồng. Sau khi sắp xếp, tỉnh Lâm Đồng có diện tích tự nhiên là 24.233,07km2, quy mô dân số là 3.872.999 người.

Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Phú Yên và tỉnh Đắk Lắk thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Đắk Lắk. Sau khi sắp xếp, tỉnh Đắk Lắk có diện tích tự nhiên là 18.096,40km2, quy mô dân số là 3.346.853 người.

Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và tỉnh Bình Dương thành thành phố mới có tên gọi là Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi sắp xếp, Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích tự nhiên là 6.772,59km2, quy mô dân số là 14.002.598 người.

Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Bình Phước và tỉnh Đồng Nai thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Đồng Nai. Sau khi sắp xếp, tỉnh Đồng Nai có diện tích tự nhiên là 12.737,18km2, quy mô dân số là 4.491.408 người.

Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Long An và tỉnh Tây Ninh thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Tây Ninh. Sau khi sắp xếp, tỉnh Tây Ninh có diện tích tự nhiên là 8.536,44km2, quy mô dân số là 3.254.170 người.

Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Hậu Giang thành thành phố mới có tên gọi là thành phố Cần Thơ. Sau khi sắp xếp, thành phố Cần Thơ có diện tích tự nhiên là 6.360,83km2, quy mô dân số là 4.199.824 người.

Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Bến Tre, tỉnh Trà Vinh và tỉnh Vĩnh Long thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Vĩnh Long. Sau khi sắp xếp, tỉnh Vĩnh Long có diện tích tự nhiên là 6.296,20km2, quy mô dân số là 4.257.581 người.

Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Tiền Giang và tỉnh Đồng Tháp thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Đồng Tháp. Sau khi sắp xếp, tỉnh Đồng Tháp có diện tích tự nhiên là 5.938,64km2, quy mô dân số là 4.370.046 người.

Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Cà Mau. Sau khi sắp xếp, tỉnh Cà Mau có diện tích tự nhiên là 7.942,39km2, quy mô dân số là 2.606.672 người.

Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Kiên Giang và tỉnh An Giang thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh An Giang. Sau khi sắp xếp, tỉnh An Giang có diện tích tự nhiên là 9.888,91 km2, quy mô dân số là 4.952.238 người.

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày được thông qua.

Quốc hội đề nghị các cơ quan theo thẩm quyền khẩn trương thực hiện các công tác chuẩn bị cần thiết bảo đảm để chính quyền địa phương ở các tỉnh, thành phố hình thành sau sắp xếp quy định tại Điều 1 của Nghị quyết này chính thức hoạt động từ ngày 1/7/2025.

Nghị quyết nêu rõ, chính quyền địa phương ở các tỉnh, thành phố trước sắp xếp tiếp tục hoạt động cho đến khi chính quyền địa phương ở tỉnh, thành phố hình thành sau sắp xếp chính thức hoạt động.

Kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành, cả nước có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 28 tỉnh và 6 thành phố; trong đó có 19 tỉnh và 4 thành phố hình thành sau sắp xếp và 11 tỉnh, thành phố không thực hiện sắp xếp là các tỉnh: Cao Bằng, Điện Biên, Hà Tĩnh, Lai Châu, Lạng Sơn, Nghệ An, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Sơn La và thành phố Hà Nội, thành phố Huế.

Quốc hội giao Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quy định tại Điều 1 của Nghị quyết này và các cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm tổ chức thi hành Nghị quyết này; sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan, tổ chức ở địa phương; hỗ trợ, kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động bị tác động, ảnh hưởng của việc thực hiện sắp xếp; bảo đảm an sinh xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp và yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh trên địa bàn.

Chính phủ, các Bộ, ngành ở trung ương có trách nhiệm hướng dẫn, kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình sắp xếp các đơn vị hành chính cấp tỉnh, kiện toàn tổ chức bộ máy chính quyền địa phương các cấp để thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm giám sát việc thực hiện Nghị quyết này./.

Báo Nhân dân

11/06/2025

Hướng dẫn một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng

Thay mặt Ban Bí thư, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành Hướng dẫn số 06- HD/TW ngày 9/6/2025, về một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng.

Căn cứ Điều lệ Đảng; Quy định số 294-QĐ/TW, ngày 26/5/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về thi hành Điều lệ Đảng; Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư khóa XIII, Ban Bí thư hướng dẫn chi tiết đối với 19 vấn đề cụ thể: về tuổi đời và trình độ học vấn của người vào Đảng ở một số trường hợp đặc biệt; về đảng viên phải hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; thủ tục xem xét kết nạp đảng viên (kể cả kết nạp lại); kết nạp đảng viên trong một số trường hợp cụ thể; quản lý hồ sơ đảng viên; chuyển sinh hoạt đảng…

Ban Bí thư ủy quyền cho Ban Tổ chức Trung ương xem xét, có ý kiến bằng văn bản trước khi cấp ủy trực thuộc Trung ương quyết định thành lập, giải thể đảng bộ cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng ở những nơi có đặc điểm riêng.

Đáng chú ý, tại mục 13 về cách tính nhiệm kỳ, số thứ tự đại hội đảng bộ, chi bộ, Hướng dẫn số 06- HD/TW nêu rõ, đối với đại hội đảng bộ, chi bộ tiến hành theo nhiệm kỳ, thực hiện đầy đủ các nội dung mà Điều lệ Đảng quy định thì nhiệm kỳ được tính theo thời điểm tiền hành đại hội. Số thứ tự đại hội tiếp nối theo thứ tự các nhiệm kỳ trước.

Những đảng bộ, chi bộ do chia tách, hợp nhất, sáp nhập thì cách tính số thứ tự đại hội, nhiệm kỳ là số thứ tự đại hội qua các thời kỳ lịch sử (kể cả thời gian chia tách, hợp nhất, sáp nhập) cộng thêm nhiệm kỳ hiện tại; đảng bộ, chi bộ được thành lập mới thì tính theo nhiệm kỳ mới. Một đảng bộ, chi bộ được tách thì các đảng bộ, chi bộ mới được tính số thứ tự đại hội, nhiệm kỳ liên tiếp như nhau. Một đảng bộ, chi bộ được thành lập mới hoặc được thành lập từ nhiều đơn vị khác nhau thì tính đại hội sau thành lập mới là nhiệm kỳ đầu tiên. Trường hợp đặc biệt cần phải có cách tính khác thì báo cáo Ban Bí thư xem xét, quyết định.

Nhiệm kỳ của đảng bộ bộ phận như nhiệm kỳ của đảng bộ cơ sở; số lượng cấp ủy viên của đảng ủy bộ phận không quá 7 cấp ủy viên. Thí điểm thực hiện nhiệm kỳ của chi bộ (không phải chi bộ cơ sở) là 5 năm. Đối với chi bộ thành lập mới, chia tách, hợp nhất, sáp nhập thì nhiệm kỳ đầu tiên không nhất thiết là 5 năm…

Hướng dẫn số 06- HD/TW được ban hành nhằm thực hiện Quy định 294-QĐ/TW, do Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành ngày 26/5/2025 (thay thế Quy định số 232- QĐ/TW ngày 20/1/2025) về thi hành Điều lệ Đảng. Quy định số 294-QĐ/TW có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2025, có một số điểm mới, trong đó, hệ thống tổ chức của Đảng được tổ chức theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bao gồm cấp xã (xã, phường, đặc khu) và cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương), không còn cấp huyện. Quy định 294-QĐ/TW đề cập việc thí điểm tổ chức các đảng bộ xã, phường trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy là đảng bộ cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng. Cấp ủy tỉnh, thành phố quyết định tổ chức đảng ở đặc khu là cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng hoặc là tổ chức cơ sở đảng sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của Ban Tổ chức Trung ương. Về nhiệm kỳ chi bộ, Quy định số 294-QĐ/TW nêu thí điểm đại hội chi bộ 5 năm một lần, so hiện nay, đối với chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở đang thực hiện đại hội 5 năm 2 lần…

Hướng dẫn số 06 - HD/TW có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và thay thế Hướng dẫn số 01- HD/TW, ngày 28/9/2021của Ban Bí thư khóa XIII.

11/06/2025

ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG TRÌNH BÀY TỜ TRÌNH VỀ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG 11 LUẬT VỀ LĨNH VỰC QUÂN SỰ, QUỐC PHÒNG

Sáng 11-6, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ chín, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Quốc hội nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc phòng; Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân; Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng; Luật Nghĩa vụ quân sự; Luật Biên phòng Việt Nam; Luật Phòng không nhân dân; Luật Lực lượng dự bị động viên; Luật Phòng thủ dân sự; Luật Quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự; Luật Dân quân tự vệ; Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh.

Tại phiên họp, thừa ủy quyền của Chính phủ, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trình bày Tờ trình dự án luật.

Theo Đại tướng Phan Văn Giang, việc sửa đổi, bổ sung các luật nhằm thể chế hóa kịp thời, đầy đủ chủ trương, định hướng trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng, kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi) liên quan đến việc sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp.

Dự thảo Luật gồm 12 điều, trong đó có 11 điều sửa đổi, bổ sung 11 Luật và 1 điều về hiệu lực thi hành.

Dự án Luật tập trung sửa đổi, bổ sung một số điều về vị trí, vai trò, thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ thuộc lĩnh vực quân sự, quốc phòng liên quan đến tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp để bảo đảm thống nhất với quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi) và các quy định của pháp luật có liên quan.

Về sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật Quốc phòng, liên quan sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị về tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản tại 3 điều (Điều 9, Điều 21, Điều 22), như: Xác định xây dựng phòng thủ khu vực, xây dựng cấp xã làm nền tảng để bảo vệ địa phương; UBND cấp tỉnh ban bố lệnh giới nghiêm tại một hoặc một số địa phương cấp xã và việc UBND cấp xã ban bố lệnh giới nghiêm tại một hoặc một số khu vực trên địa bàn quản lý.

Về sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản tại 2 điều (Điều 11 và Điều 40), như: Bỏ một số chức danh Chỉ huy trưởng, Chính ủy Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng cấp tỉnh, Phó chỉ huy trưởng, Phó chính ủy Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng cấp tỉnh, Chỉ huy trưởng, Chính trị viên Ban chỉ huy quân sự cấp huyện, Phó chỉ huy trưởng, Chính trị viên phó Ban chỉ huy quân sự cấp huyện để bảo đảm phù hợp với Đề án số 839-ĐA/QUTW ngày 25-4-2025 của QUTW tiếp tục sắp xếp tổ chức quân sự địa phương “tinh, gọn, mạnh” đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Cùng với đó, bổ sung trách nhiệm Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định gọi đào tạo sĩ quan dự bị và gọi sĩ quan dự bị vào phục vụ tại ngũ, huấn luyện, kiểm tra sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu đối với cán bộ, công chức, hạ sĩ quan dự bị cư trú tại địa phương.

Về sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng, sửa đổi, bổ sung 1 điều (Điều 27), theo đó, chuyển thẩm quyền từ Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự cấp huyện sang Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy phòng thủ khu vực quyết định việc giải ngạch đối với Quân nhân chuyên nghiệp dự bị hết hạn tuổi hoặc không còn đủ sức khỏe phục vụ trong ngạch dự bị do không còn cấp huyện.

Về sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự, sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điểm, khoản tại 18 điều, như: Chuyển thẩm quyền của cấp huyện lên cấp tỉnh đối với các nhiệm vụ: Thành lập Hội đồng khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự; quyết định danh sách công dân gọi nhập ngũ, thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân, danh sách tạm hoãn, miễn gọi nhập ngũ; công nhận công dân hoàn thành nghĩa vụ quân sự tại ngũ trong thời bình; tổ chức bàn giao quân cho các đơn vị (lễ giao nhận quân thực hiện tại Ban chỉ huy phòng thủ khu vực).

Cùng với đó, chuyển thẩm quyền của cấp huyện về cấp xã đối với một số nhiệm vụ: Kiểm tra sức khỏe hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị; ra lệnh gọi từng công dân: Đăng ký nghĩa vụ quân sự lần đầu, sơ tuyển và khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự, gọi nhập ngũ và thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân.

Chuyển thẩm quyền của Ban chỉ huy quân sự cấp huyện về Ban chỉ huy phòng thủ khu vực quyết định: Đưa ra khỏi danh sách đăng ký nghĩa vụ quân sự, giải ngạch đối với hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị và chịu trách nhiệm chính trong tổ chức lễ giao quân, tiếp nhận bàn giao hạ sĩ quan, binh sĩ hoàn thành nghĩa vụ tại ngũ…

Về sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật Biên phòng Việt Nam, sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản tại 5 điều, như: Bổ sung việc xây dựng phòng thủ khu vực biên giới; Quy định Ban chỉ huy Bộ đội Biên phòng quyết định hạn chế hoặc tạm dừng hoạt động trong khu vực biên giới thuộc phạm vi quản lý; Quy định Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự cấp tỉnh đề nghị Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định hạn chế hoặc tạm dừng qua lại cửa khẩu.

Về Sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật Phòng không nhân dân, sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản tại 11 điều, như: Xác định trọng điểm phòng không nhân dân cấp xã; Chuyển trách nhiệm về chỉ huy phòng không nhân dân từ Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự cấp huyện sang Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy phòng thủ khu vực trong chỉ đạo, thực hiện các nhiệm vụ về phòng không nhân dân do không còn cấp huyện.

Bên cạnh đó, bổ sung nhiệm vụ của Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy phòng thủ khu vực, Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự cấp xã được quyền ra lệnh chế áp, tạm giữ tàu bay không người lái, phương tiện bay khác trên địa bàn quản lý.

Về Sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật Lực lượng dự bị động viên, sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điểm, khoản tại 13 điều, như: Chuyển thẩm quyền đăng ký quyền sở hữu phương tiện thủy nội địa, phương tiện giao thông cơ giới đường bộ... từ UBND cấp huyện lên UBND cấp tỉnh; việc chuyển thẩm quyền từ cấp huyện về cấp xã trong xây dựng lực lượng dự bị động viên theo chỉ tiêu của Chủ tịch UBND cấp tỉnh.

Đồng thời, quy định việc chuyển thẩm quyền tổ chức sinh hoạt cho quân nhân dự bị giữ chức vụ chỉ huy đơn vị dự bị động viên từ UBND cấp huyện sang Ban chỉ huy phòng thủ khu vực; Chuyển một số nhiệm vụ từ Chủ tịch UBND cấp huyện lên UBND cấp tỉnh hoặc Ban Chỉ huy phòng thủ khu vực trong tập trung, vận chuyển, giao nhận lực lượng dự bị động viên.

Về sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật Phòng thủ dân sự, sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản tại 5 điều, như: Chuyển một số nhiệm vụ từ UBND cấp huyện xuống UBND cấp xã trong áp dụng, chỉ huy lực lượng trong phòng thủ dân sự; Bổ sung nhiệm vụ của Ban chỉ huy phòng thủ khu vực trong tham mưu cho Ban chỉ huy phòng thủ dân sự cấp tỉnh chỉ đạo Ban chỉ huy phòng thủ dân sự cấp xã trong tổ chức, chỉ đạo, điều hành về phòng thủ dân sự trên địa bàn quản lý…

Về sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật Quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự, sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản tại 2 điều (Điều 6 và Điều 17), như: Bổ sung Khu quân sự loại B gồm các trường bắn, thao trường huấn luyện cấp lữ đoàn, giới hạn trong của vành đai an toàn; bán kính an toàn kho đạn của đơn vị cấp tiểu đoàn độc lập và tương đương trở xuống do không còn cấp huyện.

Về Sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật Dân quân tự vệ, sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ các điểm, khoản tại 19 điều, như: Bỏ thẩm quyền Chủ tịch UBND cấp huyện trong quyết định kéo dài độ tuổi, thời hạn thực hiện nghĩa vụ tham gia Dân quân tự vệ, trong đăng ký, tạm hoãn, thôi, hoàn thành thực hiện nghĩa vụ tham gia Dân quân tự vệ trước thời hạn, đưa ra khỏi danh sách công dân thực hiện nghĩa vụ tham gia Dân quân tự vệ, quản lý Dân quân tự vệ do không còn cấp huyện (nội dung này do Chủ tịch UBND cấp xã thực hiện).

Cùng với đó, bổ sung thẩm quyền của Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Chỉ huy quân sự cấp tỉnh trong chỉ đạo, hướng dẫn UBND cấp xã, cơ quan, tổ chức tuyển chọn công dân thực hiện nghĩa vụ tham gia Dân quân tự vệ…

Về sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh, sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điểm, khoản tại 7 điều, như: Xác định đối với đối tượng trong cơ quan, tổ chức của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội là trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố; trưởng các đoàn thể ở thôn; bỏ Báo cáo viên là lãnh đạo huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, lãnh đạo ban huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

Nhất trí trình Quốc hội xem xét, thông qua Luật tại Kỳ họp thứ chín

Thẩm tra dự án luật, Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội tán thành sự cần thiết ban hành Luật với những cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn đã nêu trong Tờ trình của Chính phủ, nhằm thể chế hóa quan điểm chỉ đạo của Đảng về tiếp tục sắp xếp tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, bảo đảm phù hợp, thống nhất trong hệ thống pháp luật khi sửa đối, bổ sung Hiến pháp năm 2013 và các luật liên quan đến tổ chức bộ máy nhà nước.

Hồ sơ dự án Luật cơ bản đáp ứng yêu cầu của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025; đồng thời, nhất trí trình Quốc hội xem xét, thông qua Luật tại Kỳ họp thứ chín theo quy trình, thủ tục rút gọn.

Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội nhận thấy, các chính sách quy định tại dự thảo Luật phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng./.

QĐND

Photos from QS LIÊN CHIỂU's post 11/06/2025

34 tỉnh, thành phố sẽ hoạt động ngay từ 1/7/2025

Tổng biên chế cán bộ, công chức, viên chức theo định mức được giao của các cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp tỉnh thuộc 52 tỉnh, thành phố thực hiện sắp xếp là 447.657 người (gồm: 2.321 cán bộ, 79.118 công chức, 366.218 viên chức)

Sáng 11/6, tiếp tục chương trình Kỳ hợp thứ 9, Quốc hội khóa XV, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà đã trình bày Tờ trình về việc sắp xếp đơn vị hành chính (ĐVHC) cấp tỉnh năm 2025. Theo đó, khẳng định việc sắp xếp ĐVHC cấp tỉnh phải bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ, thống nhất trong hệ thống chính trị; quá trình thực hiện phải thận trọng, kỹ lưỡng, khoa học, có cách làm phù hợp bảo đảm tuân thủ Hiến pháp và pháp luật.

6 thành phố trực thuộc trung ương và 28 tỉnh

Đặt mục tiêu cao nhất là phát triển đất nước; kết hợp hài hoà giữa kế thừa, ổn định với đổi mới, phát triển; có tầm nhìn dài hạn, bảo đảm ổn định lâu dài; phát huy tiềm năng, lợi thế, mở rộng không gian phát triển của ĐVHC; tạo điều kiện để mỗi địa phương và cả nước phát triển đồng đều, nhanh, mạnh và bền vững, hình thành các trung tâm kinh tế mới có sức cạnh tranh cao hơn ở tầm khu vực và trên thế giới.

Việc sắp xếp ĐVHC cấp tỉnh gắn liền với đổi mới, nâng cao năng lực quản trị, làm cơ sở đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia trong giai đoạn mới. Bảo đảm sự thống nhất nhận thức trong hệ thống chính trị và sự đồng thuận trong nhân dân.

Bộ trưởng Phạm Thị Thanh Trà cho biết, kết quả sau sắp xếp, cả nước có 34 ĐVHC cấp tỉnh gồm 6 thành phố trực thuộc trung ương và 28 tỉnh. Trong đó, toàn bộ 23/23 ĐVHC cấp tỉnh hình thành sau sắp xếp đã đạt định hướng tiêu chuẩn của ĐVHC cấp tỉnh theo quy định tại Điều 4 Nghị quyết số 76/2025/UBTVQH15.

"Kết quả lấy ý kiến nhân dân đạt tỷ lệ đồng thuận cao, trung bình cả nước là 96,19% và 100% HĐND cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã của 52 tỉnh, thành phố đã biểu quyết tán thành chủ trương sắp xếp ĐVHC cấp tỉnh của địa phương mình" - Bộ trưởng Bộ Nội vụ cho biết.

Cũng theo tờ trình, tổng hợp từ các địa phương, sau khi rà soát, thống nhất cách tính số liệu theo ý kiến của Uỷ ban Pháp luật và Tư pháp, tổng biên chế cán bộ, công chức, viên chức theo định mức được giao của các cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp tỉnh thuộc 52 tỉnh, thành phố thực hiện sắp xếp là 447.657 người (gồm: 2.321 cán bộ, 79.118 công chức, 366.218 viên chức).

Việc bố trí, sắp xếp số lượng cán bộ, công chức, viên chức của cấp tỉnh sau sắp xếp thực hiện theo quy định tại Điều 11 Nghị quyết số 76/2025/UBTVQH15, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền.

Về bố trí, sử dụng trụ sở, xử lý tài chính, tài sản công sau sắp xếp ĐVHC cấp tỉnh sẽ thực hiện theo quy định của Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Tài chính. Tổng hợp theo số liệu báo cáo của các địa phương, tổng số trụ sở công cấp tỉnh của 52 tỉnh, thành phố thực hiện sắp xếp là 38.182 trụ sở; tiếp tục sử dụng 33.956 trụ sở; dôi dư 4.226 trụ sở.

Tạo nền tảng ổn định lâu dài và sức bật cho đất nước

Trình bày Báo cáo thẩm tra Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Hoàng Thanh Tùng, cho biết Ủy ban tán thành với các phương án sắp xếp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương năm 2025 như đã thể hiện tại Đề án của Chính Phủ.

"Ủy ban Pháp luật và Tư pháp nhận thấy, việc sắp xếp các ĐVHC cấp tỉnh là chủ trương hoàn toàn đúng đắn, thể hiện sự sáng suốt, quyết tâm chính trị rất cao trong thực hiện cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy, sắp xếp các ĐVHC với quy mô chưa từng có trên cơ sở phù hợp với trình độ phát triển, năng lực quản lý và yêu cầu về mở rộng không gian phát triển, kết hợp với điều chỉnh cơ cấu kinh tế, phân bổ và kết hợp các nguồn lực để tạo nền tảng ổn định lâu dài và sức bật cho đất nước theo các mục tiêu, tầm nhìn chiến lược và dài hạn trong kỷ nguyên mới" - Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Hoàng Thanh Tùng nói.

Về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ đề xuất dự thảo Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2025. Ủy ban Pháp luật và Tư pháp đề nghị xác định Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày được Quốc hội biểu quyết thông qua để tạo cơ sở pháp lý cho các địa phương triển khai công tác bàn giao, chuẩn bị các điều kiện cần thiết, bảo đảm để chính quyền địa phương ở các ĐVHC hình thành sau sắp xếp có thể sớm chính thức bắt đầu hoạt động theo kế hoạch chung của Trung ương (có thể là từ ngày 1/7/2025).

Sau khi Quốc hội thông qua Nghị quyết về việc sắp xếp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương năm 2025, đề nghị Chính phủ tập trung chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương thực hiện các giải pháp đồng bộ, khẩn trương, quyết liệt trong việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy, bố trí cán bộ, công chức, người lao động; xử lý các vấn đề về tài chính công, tài sản công tại các ĐVHC thực hiện sắp xếp để thực hiện đồng bộ, thống nhất.

Đề nghị chính quyền các tỉnh, thành phố hình thành sau sắp xếp xây dựng kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội; chủ động công tác chuẩn bị các điều kiện cần thiết, sẵn sàng quy trình, thủ tục để chuyển giao các chức năng, nhiệm vụ từ chính quyền cấp huyện về cấp tỉnh, cấp xã sau sắp xếp.

Theo chương trình Kỳ họp thứ 9 sửa đổi, bổ sung được Quốc hội thông qua trước đó, ngày mai (12/6), Quốc hội sẽ biểu quyết thông qua Nghị quyết của Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025.

(1) Nhập tỉnh Hà Giang và tỉnh Tuyên Quang thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Tuyên Quang, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Tuyên Quang hiện nay.

(2) Nhập tỉnh Yên Bái và tỉnh Lào Cai thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Lào Cai, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Yên Bái hiện nay.

(3) Nhập tỉnh Bắc Kạn và tỉnh Thái Nguyên thành tỉnh mới, có tên gọi là tỉnh Thái Nguyên, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Thái Nguyên hiện nay.

(4) Nhập tỉnh Vĩnh Phúc, tỉnh Hoà Bình và tỉnh Phú Thọ thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Phú Thọ, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Phú Thọ hiện nay.

(5) Nhập tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bắc Ninh thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Bắc Ninh, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Bắc Giang hiện nay.

(6) Nhập tỉnh Thái Bình và tỉnh Hưng Yên thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Hưng Yên, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Hưng Yên hiện nay.

(7) Nhập tỉnh Hải Dương và thành phố Hải Phòng thành thành phố mới có tên gọi là thành phố Hải Phòng, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại thành phố Hải Phòng hiện nay.

(8) Nhập tỉnh Hà Nam, tỉnh Ninh Bình và tỉnh Nam Định thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Ninh Bình, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Ninh Bình hiện nay.

(9) Nhập tỉnh Quảng Bình và tỉnh Quảng Trị thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Quảng Trị, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Quảng Bình hiện nay.

(10) Nhập tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng thành thành phố mới có tên gọi là thành phố Đà Nẵng, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại thành phố Đà Nẵng hiện nay.

(11) Nhập tỉnh Kon Tum và tỉnh Quảng Ngãi thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Quảng Ngãi, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Quảng Ngãi hiện nay.

(12) Nhập tỉnh Gia Lai và tỉnh Bình Định thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Gia Lai, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Bình Định hiện nay.

(13) Nhập tỉnh Ninh Thuận và tỉnh Khánh Hoà thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Khánh Hoà, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Khánh Hoà hiện nay.

(14) Nhập tỉnh Lâm Đồng, tỉnh Đắk Nông và tỉnh Bình Thuận thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Lâm Đồng, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Lâm Đồng hiện nay.

(15) Nhập tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Phú Yên thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Đắk Lắk, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Đắk Lắk hiện nay.

(16) Nhập tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, tỉnh Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh thành thành phố mới có tên gọi là Thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.

(17) Nhập tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bình Phước thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Đồng Nai, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Đồng Nai hiện nay.

(18) Nhập tỉnh Tây Ninh và tỉnh Long An thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Tây Ninh, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Long An hiện nay.

(19) Nhập thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Hậu Giang thành thành phố mới có tên gọi là thành phố Cần Thơ, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại thành phố Cần Thơ hiện nay.

(20) Nhập tỉnh Bến Tre, tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Vĩnh Long, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Vĩnh Long hiện nay.

(21) Nhập tỉnh Tiền Giang và tỉnh Đồng Tháp thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Đồng Tháp, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Tiền Giang hiện nay.

(22) Nhập tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Cà Mau, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Cà Mau hiện nay.

(23) Nhập tỉnh An Giang và tỉnh Kiên Giang thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh An Giang, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Kiên Giang hiện nay.

Phương Thuỷ

Báo Công an nhân dân

Want your business to be the top-listed Government Service in Da Nang?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Telephone

Website

Address


Da Nang