11/03/2026
Ngày này năm ấy
Trang thông tin điện tử chính thức của Công an phường Thuận Phước
11/03/2026
Ngày này năm ấy
19/11/2025
Trong thời gian gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện những bài viết mang giọng điệu “rửa mặt cho thực dân Pháp”, điển hình là bài chia sẻ của Lê Việt Đức. Bằng cách liệt kê hàng loạt công trình hạ tầng được xây dựng trong thời kỳ thuộc địa – nào là cầu Long Biên, đường sắt xuyên Đông Dương, Nhà hát Lớn Hà Nội, thành phố Đà Lạt… – tác giả cố tình tạo ấn tượng rằng người Pháp đã “văn minh hóa” Việt Nam, còn người Việt sau 70 năm độc lập thì “không làm được gì ra hồn”. Nguy hiểm hơn, bài viết ấy tìm cách gieo rắc tâm lý tự ti, phủ nhận thành quả cách mạng, và hạ thấp ý nghĩa của độc lập dân tộc – một thủ pháp quen thuộc của những luận điệu chống phá tinh vi trên không gian mạng.
Nhưng lịch sử không phải là những tấm ảnh lưu niệm mang sắc vàng hoài cổ. Lịch sử là dòng sự thật – mà ở đó, mọi “thành tựu” của Pháp tại Đông Dương đều gắn liền với mục tiêu duy nhất: bóc lột thuộc địa để làm giàu cho chính quốc.
Paul Doumer, Toàn quyền Đông Dương (1897–1902), người được tác giả bài viết ca tụng, từng công khai tuyên bố trong bản kế hoạch “khai thác thuộc địa lần thứ nhất” rằng mục tiêu là: “Faire de l’Indochine une colonie d’exploitation se suffisant à elle-même et contribuant aux bénéfices de la France” – “Làm cho Đông Dương tự nuôi lấy mình và đóng góp lợi nhuận cho nước Pháp”. (Paul Doumer, L’Indochine française, Paris, 1903). Câu nói này đủ để bóc trần bản chất thực sự của mọi công trình mà người Pháp dựng lên tại Việt Nam: chúng được xây để vận chuyển tài nguyên, kiểm soát quân sự, và duy trì bộ máy cai trị, chứ không phải vì sự phát triển của dân bản xứ.
Cầu Long Biên, mà bài viết của Lê Việt Đức tâng bốc như “biểu tượng văn minh Pháp”, thực ra là cây cầu chiến lược nối vùng mỏ than Hòn G*i và các khu khai khoáng Thái Nguyên, Bắc Giang với cảng Hải Phòng để thuận tiện xuất khẩu khoáng sản sang Pháp. Tuyến đường sắt xuyên Đông Dương không phải để dân nghèo đi lại mà để vận chuyển hàng hóa, binh lính, và tài nguyên ra cảng.
Nhà hát Lớn Hà Nội, được coi là “biểu tượng văn hóa Pháp”, là nơi phục vụ giới thượng lưu người Âu và tầng lớp quan lại tay sai, trong khi 95% dân Việt khi đó mù chữ và không được phép đặt chân vào.
Thành phố Đà Lạt được quy hoạch không phải để người Việt hưởng thụ, mà để làm nơi nghỉ dưỡng cho giới chức Pháp tránh khí hậu nhiệt đới.
Đằng sau những công trình “đẹp đẽ” ấy là mồ hôi, máu và nước mắt của hàng chục nghìn lao phu người Việt bị bắt đi phu khổ sai, làm việc 12–14 giờ mỗi ngày trong điều kiện tồi tệ, không tiền công, không bảo hiểm. Nhiều tài liệu Pháp thừa nhận hàng nghìn người chết vì sốt rét, kiệt sức, tai nạn lao động.
Nhà sử học Pierre Brocheux, trong Histoire de l’Indochine française (2001), viết: “Le développement de l’infrastructure coloniale a été payé par le sang et les impôts des indigènes” – “Sự phát triển cơ sở hạ tầng thuộc địa được trả giá bằng máu và thuế của dân bản xứ.” Vậy mà hôm nay, có người lại lấy chính những di sản của áp bức đó để ca ngợi kẻ đi xâm lược – chẳng phải là một sự đảo lộn trắng đen nguy hiểm sao?
Còn chuyện “Pháp không khai thác được gì ở Việt Nam”, như tác giả kia khẳng định, là hoàn toàn sai sự thật. Theo Statistiques de l’Indochine (1939), chỉ riêng ngành than đá ở Hòn G*i, sản lượng xuất khẩu năm 1938 đã đạt hơn 2 triệu tấn, mang về hàng triệu franc lợi nhuận cho các công ty Pháp. Trong giai đoạn 1897–1939, hàng trăm ngàn hécta đất đai màu mỡ ở Nam Kỳ bị chiếm để lập đồn điền cao su, cà phê, chè, hầu hết thuộc sở hữu tư nhân Pháp như Michelin, Béhad, Société des Plantations d’Indochine… Nông dân Việt bị biến thành tá điền, làm thuê trên chính mảnh đất cha ông mình. Nếu Pháp “không khai thác được gì”, liệu họ có thể tồn tại gần một thế kỷ ở đây?
Còn câu so sánh rằng “Việt Nam sau 70 năm độc lập không làm được bằng Pháp trong 80 năm đô hộ” là một sự xúc phạm trí tuệ. So sánh đó chẳng khác nào đem 80 năm của một đế quốc công nghiệp đã tích lũy tư bản suốt nhiều thế kỷ, đối chiếu với 70 năm của một dân tộc vừa thoát khỏi chiến tranh, bom đạn, phong kiến, đói nghèo. Từ đống tro tàn của hai cuộc kháng chiến, Việt Nam đã xây dựng nên một đất nước độc lập, thống nhất, có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế; GDP bình quân đầu người tăng hơn 40 lần so với năm 1986; tuổi thọ trung bình vượt 73; chỉ số phát triển con người (HDI) đứng đầu nhóm nước thu nhập trung bình thấp. Ở đâu trong lịch sử thuộc địa, người Pháp từng đem cho ta độc lập, dân chủ, quyền làm người như ngày nay?
Cần phải nói thẳng: cái mà thực dân Pháp để lại không phải là “công trình văn minh”, mà là một di sản bất bình đẳng, là một cấu trúc xã hội nô dịch, nơi một thiểu số giàu có sống xa hoa trên xương máu đại đa số bị bóc lột. Người Pháp mở trường học – nhưng chủ yếu để đào tạo thư ký, thông ngôn, công chức phục vụ bộ máy cai trị. Họ dạy chữ quốc ngữ không phải để khai sáng, mà để dễ kiểm soát dân chúng bằng ngôn ngữ mới do họ quy định. Họ đưa y tế vào Đông Dương, nhưng bệnh viện chỉ dành cho người Âu hoặc quan lại bản xứ.
Và quan trọng hơn cả: nếu thực dân Pháp “tốt đẹp” đến thế, vì sao nhân dân Việt Nam từ Bắc chí Nam lại vùng lên đấu tranh, chịu đòn roi, chịu tù đày, chịu chết để giành độc lập? Chẳng lẽ hàng triệu người đã hy sinh chỉ vì “hiểu nhầm” lòng tốt của kẻ đi xâm lược?
Những bài viết như của Lê Việt Đức không chỉ sai về lịch sử, mà còn nguy hiểm về chính trị: nó gieo vào lòng người đọc niềm tin lệch lạc rằng chế độ thuộc địa “văn minh hơn” chính quyền độc lập hiện nay; rằng “tự do dân tộc” là điều không cần thiết. Đó chính là cái bẫy tâm lý mà các thế lực thù địch luôn tìm cách gieo vào lòng giới trẻ Việt Nam – bằng cách biến sự tự ti thành sự tôn thờ ngoại bang.
Lịch sử không phủ nhận rằng Pháp đã xây dựng một số công trình có giá trị vật chất, nhưng đó là giá trị của nhà tù chứ không phải của tự do, của sự thống trị chứ không phải của khai hóa. Một dân tộc không thể được gọi là văn minh nếu cái “văn minh” đó dựng trên xương máu người khác. Và Việt Nam – dù còn nhiều khó khăn – đã đi con đường riêng của mình, bằng mồ hôi và trí tuệ của chính người Việt, để chứng minh rằng chúng ta không cần một kẻ đi xâm lược nào dạy mình cách trở thành con người.
Cuối cùng xin hỏi ông Lê Việt Đức: Nếu Pháp đến để "khai hóa văn minh" thì tại sao có nạn đói làm hàng triệu người dân vô tội chết vào năm 1945 và vì sao toàn thể nhân dân Việt Nam, từ Nam chí Bắc lại đồng loạt đứng lên đánh đuổi quân xâm lược Pháp?
Tre Làng
11/11/2025
MỖI NGÀY MỘT CHUYỆN ĐÁNG NHỚ:
NGƯỜI ĐƯA CƠ QUAN TÌNH BÁO CHỦ CHỐT CỦA LIÊN XÔ LÊN ĐỈNH VINH QUANG-6/11
Trong suốt hơn 70 năm tồn tại dưới các cơ cấu tổ chức khác nhau, Uỷ ban An ninh quốc gia Liên Xô (KGB) có tất cả 17 vị chủ tịch, trong đó Yuri Vladimirovich Andropov được xem là đã đưa KGB lên đỉnh cao. Bản thân Yuri Vladimirovich (1914-1984) là vị Chủ tịch KGB duy nhất sau khi rời Lubyanka được bổ nhiệm vào vị trí cao hơn và sau đó là cao nhất đất nước – Tổng Bí thư.
Trưởng thành từ công tác đoàn, công tác đảng, Yuri Andropov có điều kiện để nắm được nhiều thông tin đã chắt lọc và có chất lượng cao; hiểu biết bộ máy cơ chế và phương thức vận hành các đòn bẩy quyền lực. Cái thiếu của "tip" cán bộ này là thực tế đời thường khắc nghiệt được Yuri Andropov bổ sung bằng những năm công tác trong ngành ngoại giao – làm Vụ trưởng Vụ châu Âu 4, Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương, đặc biệt 3 năm làm đại sứ tại Hungary vào thời điểm nước này có chính biến (1956).
Là người có tầm nhìn chiến lược và có phương pháp luận khoa học, Chủ tịch KGB Yuri Andropov tập trung nhiều công sức cho lĩnh vực tư tưởng, thành lập thêm một số bộ phận nhằm theo dõi và nắm chắc hơn mọi mặt của đời sống xã hội. KGB dưới thời Yuri Andropov đã tìm được cách tiếp cận cương quyết nhưng mềm dẻo và có hiệu quả đối với mọi vấn đề trong xã hội và mọi vùng của đất nước. Với hệ thống đại diện ở tất cả các địa phương, KGB nắm bắt, báo cáo cho lãnh đạo đất nước mọi việc xảy ra trong nước, để trên cơ sở đó, Bộ Chính trị chỉ đạo xử lí, giải quyết.
Cũng chính dựa trên tài liệu tác chiến do KGB cung cấp, Liên Xô vào thời điểm ấy bắt đầu tuyên chiến với nạn tham nhũng. Cũng chính KGB dưới thời Yuri Andropov đã cảnh báo lãnh đạo đất nước về việc trong xã hội bắt đầu xuất hiện một loại “bệnh dịch” thờ ơ và thụ động, những yếu tố làm cho tình hình xã hội căng thẳng, những dấu hiệu khủng hoảng trong chính trị, kinh tế đất nước… Theo đánh giá, phải là một KGB đứng đầu bởi vị Chủ tịch có trí tuệ sắc sảo và tinh tế như Yuri Andropov thì mới giúp duy trì được đất nước Liên Xô ổn định, thịnh vượng trong hai chục năm, mới có một hệ thống kiểm soát xã hội một cách toàn diện và chắc chắn như thế.
Dưới thời Yuri Andropov, KGB triển khai được một mạng lưới điệp viên đông đảo, giỏi nghiệp vụ và rộng rãi chưa từng có trên toàn thế giới, cùng với đảm bảo về ngân sách và kĩ thuật khá hoàn hảo. Tình báo Xô-viết cắm rễ được ở tất cả các khu vực, như một cái máy khổng lồ thu hút mọi thông tin trên toàn thế giới. KGB đã giúp lãnh đạo đất nước chỉ đạo xử lí thành công, hiệu quả một loạt vấn đề tối quan trọng như chiến tranh và hoà bình, giải trừ quân bị, xây dựng, phát triển tiềm lực khoa học, tiềm lực quốc phòng của Liên Xô, góp phần đắc lực vào sự nghiệp đấu tranh vì hoà bình, giải phóng dân tộc và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.
KGB cũng cung cấp thông tin, tham mưu cho lãnh đạo đất nước thực hiện nhất quán chủ trương bảo vệ kiên quyết các lợi ích chính trị của Liên Xô, không cho phép làm xấu tình hình và suy giảm ảnh hưởng của đất nước trên trường quốc tế - đây chính là thời kì Liên Xô đạt được cân bằng chiến lược quân sự với Mỹ. Cũng chính Yuri Andropov – với tư cách Chủ tịch KGB đã đề xuất ý kiến kiềm chế tối đa trong quan hệ với Trung Quốc, bằng mọi cách thu hẹp các cuộc xung đột với người láng giềng khổng lồ này.
Là thủ trưởng, Yuri Andropov rất quan tâm đến mọi mặt công tác, đời sống của cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền; và họ đáp lại ông bằng lòng trung thành, mẫn cán, sự tận tâm phục vụ. Làm việc trong cơ quan an ninh trở thành một nghề danh giá và được nể trọng. Một nét đáng quý nữa ở Yuri Andropov là trong mọi vấn đề, ông không bao giờ nhận thừa trách nhiệm về phía mình hay có biểu hiện lạm quyền. Trong công tác và sinh hoạt, Yuri Andropov luôn là mẫu mực cho mọi cán bộ dưới quyền. Không uống rượu, không hút thuốc, không quát tháo, yêu âm nhạc và ca hát, ngay trong dáng đi của ông cũng thể hiện một cái gì đó khiêm nhường, giản dị.
Chính nhờ công lao, thành tích đối với đất nước, nhờ những phẩm chất cá nhân cao quý mà sau khi Leonid Breznhev từ trần, Yuri Andropov được bầu làm Lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản và Nhà nước Xô-viết (tháng 11-1982). Ở cương vị này, ông đã khởi xướng việc cải cách sâu rộng, toàn diện đời sống xã hội Liên Xô theo hướng đưa dần các yếu tố dân chủ đích thực vào hệ thống chính trị, áp dụng cơ chế thị trường trong kinh tế, nhưng với lộ trình và bước đi phù hợp, chắc chắn.
Có thể giả định rằng, nếu sống, làm việc thêm một thời gian nữa, Yuri Andropov hoàn toàn có thể thay đổi tiến trình lịch sử của Liên bang Xô-viết, xây dựng một hệ thống Xô-viết đổi mới mà không cần phải phá huỷ nó.
Tại một Hội nghị Trung ương, khi đánh giá về công tác an ninh tình báo, Tổng Bí thư Leonid Breznhev đã bỏ giấy nói "vo": Uỷ ban An ninh quốc gia dưới sự lãnh đạo của đồng chí Andropov đã giúp đắc lực cho công tác của Trung ương, cả về đối nội và đối ngoại. Có người nghĩ rằng KGB - đó là bắt bớ, tù đầy. Nhầm! KGB trước hết là những công việc to lớn và đầy trách nhiệm. KGB không phải ai cũng làm đươc. Ở đây cần có năng lực và tính cách, lòng dũng cảm và lòng trung thành to lớn. Đó là sự đánh giá xứng đáng đối với Yuri Vladimirovich – vị Chủ tịch có công đưa KGB lên đỉnh vinh quang.
Ảnh: Yuri Andropov, người có công đưa KGB lên đỉnh vinh quang.
11/11/2025
Trong bức ảnh nổi tiếng ghi lại thời khắc Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt tay một phi công, người đứng bên cạnh Người chính là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Cốc, một trong những phi công xuất sắc nhất của Không quân nhân dân Việt Nam, người đã bắn rơi 9 máy bay Mỹ, khiến 13 phi công Mỹ thiệt mạng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Theo tài liệu giải mật của Bộ Chỉ huy Quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam, phía Mỹ xác nhận ít nhất 7 máy bay bị bắn hạ bởi Nguyễn Văn Cốc, và 9 -11 phi công Mỹ tử trận trong các trận không chiến do ông trực tiếp điều khiển.
Nguyễn Văn Cốc được coi là huyền thoại của Không quân Việt Nam, một biểu tượng khiến các cơ quan quân sự Hoa Kỳ phải đặc biệt chú ý. Trong các tài liệu nội bộ, Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ (NSA) đã đặt cho ông mật danh “Red Baron” - “Nam tước đỏ”, cái tên gợi nhớ đến Manfred von Richthofen, phi công Đức lừng danh của Thế chiến I với 80 chiến công không chiến. Đó là cách người Mỹ thừa nhận: Việt Nam đã sản sinh ra một “Red Baron” mới, một phi công thiện chiến đến mức khiến toàn bộ hệ thống radar và chiến thuật của không quân Hoa Kỳ phải thay đổi.
Sau Thế chiến II, NSA từng đánh giá Nguyễn Văn Cốc là phi công khiến họ “đau đầu nhất” trong toàn bộ chiến dịch Đông Dương, bởi khả năng xuất hiện bất ngờ, tấn công chính xác và rút lui an toàn của ông trong các trận không chiến MiG - Phantom. Từng có thời gian, phía Mỹ thậm chí nghi ngờ “phi công Tomb” (một mật danh khác mà NSA sử dụng) là một phi công Liên Xô bí ẩn tham chiến tại Việt Nam, vì không tin rằng một người Việt Nam có thể sở hữu trình độ chiến đấu thượng thừa như vậy. Chỉ đến khi các dữ liệu được đối chiếu, NSA mới xác nhận “phi công Tomb” thực ra là một sĩ quan Không quân nhân dân Việt Nam mang họ Nguyễn: Nguyễn Văn Cốc.
Trong một bản báo cáo của NSA có đoạn viết: “Nam tước Đỏ của Bắc Việt Nam đã một tay đánh sập một phi vụ ném bom chiến lược.” Cũng theo cơ quan này, chiếc MiG của ông từng được sơn 13 ngôi sao, tượng trưng cho 13 phi công Mỹ đã bỏ mạng trong các trận không chiến với ông.
Điều trớ trêu là chính nước Mỹ cũng có một dự án mật mang tên “Red Baron” – chương trình nghiên cứu các trận không chiến tại Việt Nam, do Nhóm Đánh giá Hệ thống Vũ khí thuộc Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ tiến hành từ khoảng năm 1965 - 1968.
Dự án này tập hợp hàng nghìn bản báo cáo từ phi công, radar, trung tâm chỉ huy, nhằm rút kinh nghiệm cho không chiến hiện đại. Một phần của nó nằm trong chuỗi nghiên cứu Checo và Checo II, chuyên đánh giá các trận đối đầu với Không quân Bắc Việt, cũng như Chiến dịch Bolo, nơi Mỹ nỗ lực “dụ” MiG cất cánh để tiêu diệt.
Tuy nhiên, “Dự án Red Baron” kết thúc trong thất bại cay đắng. Thay vì “áp đảo MiG”, không quân Mỹ nhận ra họ đang đối đầu với một lực lượng nhỏ nhưng cực kỳ tinh nhuệ, linh hoạt, và đặc biệt có khả năng khai thác địa hình, thời tiết, và chiến thuật du kích trên không. Trong số những cái tên khiến họ phải viết lại chiến thuật, Nguyễn Văn Cốc là người được nhắc đến nhiều nhất.
Trong giới sưu tầm kỷ vật chiến tranh Mỹ, đôi khi vẫn xuất hiện những chiếc bật lửa Zippo của lính Mỹ tại Việt Nam, được khắc dòng chữ thô tục nhưng ám ảnh:
“F*** YOU, RED BARON.” Đó không chỉ đơn thuần là lời chửi rủa, mà còn là sự thừa nhận cay đắng của những người lính Mỹ đối với một đối thủ vô hình, lặng lẽ nhưng đáng sợ. Trong nhiều phi vụ, radar Mỹ chỉ kịp ghi nhận tín hiệu thoáng qua của một chiếc MiG, trước khi máy bay của họ bị bắn hạ. Đối với họ, “Red Baron” là hình bóng của một phi công Việt Nam thần bí, “xuất hiện từ hư không và biến mất vào mây trắng”.
Cụm từ “F*** You, Red Baron” còn gắn với biểu tượng phản chiến trong văn hóa Mỹ, khi nhân vật Snoopy trong truyện tranh Peanuts của Charles M. Schulz thường tưởng tượng mình là phi công chiến đấu chống lại “Red Baron”, hình ảnh ẩn dụ cho sự phi lý của chiến tranh. Trong tâm thức người Mỹ, “Red Baron” dần trở thành biểu tượng của nỗi sợ, sự bất lực và cũng là sự kính nể đối với đối thủ phương Đông.
Phi công anh hùng Nguyễn Văn Cốc không chỉ là biểu tượng của tinh thần “quyết chiến – quyết thắng” của Không quân nhân dân Việt Nam, mà còn là minh chứng sống cho bản lĩnh, trí tuệ và lòng quả cảm của con người Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Từ những đường băng dã chiến, ông và đồng đội đã viết nên huyền thoại MiG-21 Việt Nam, sánh vai cùng những phi công huyền thoại thế giới, nhưng với điểm khác biệt duy nhất: ông chiến đấu vì độc lập dân tộc, không vì danh vọng hay phần thưởng.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng mỗi khi nhắc đến “Red Baron” trong các tài liệu quân sự phương Tây, cái tên Nguyễn Văn Cốc vẫn được nhắc với sự nể trọng đặc biệt. Những chiếc bật lửa Zippo khắc dòng chữ thô ráp năm nào giờ đã trở thành kỷ vật của lịch sử, chứng nhân cho một thời kỳ mà người Việt Nam trong điều kiện vô cùng chênh lệch vẫn có thể chiến thắng kẻ thù mạnh hơn gấp bội bằng trí tuệ và lòng dũng cảm.
Nếu với người Mỹ, “Red Baron” là hình tượng ẩn dụ cho nỗi ám ảnh chiến tranh, thì với người Việt Nam, đó là biểu tượng cho ý chí tự cường, tinh thần chiến đấu và niềm tự hào dân tộc. Trên bầu trời Hàm Rồng, Kép, Phúc Yên, Thọ Xuân… những chiếc MiG nhỏ bé đã không chỉ bắn hạ máy bay địch, mà còn bắn hạ cả huyền thoại về “sự bất khả chiến bại” của không quân Mỹ. Và giữa những trang hồ sơ mật, những chiếc Zippo méo mó còn sót lại, lịch sử vẫn ghi một sự thật không thể chối cãi: “Người phi công Việt Nam mang tên Nguyễn Văn Cốc đã làm thay đổi cách thế giới nhìn về sức mạnh của một dân tộc nhỏ bé, nhưng kiên cường và vĩ đại.”
Nguồn st
25/10/2025
Ít ai biết rằng, năm 1946, ngay giữa lúc vận mệnh đất nước đang chênh vênh, Ngân hàng Đông Dương của Pháp đã đề nghị một cuộc trao đổi chưa từng có là: Họ chấp nhận đưa cho Chủ tịch Hồ Chí Minh số tiền 30 tỷ franc (tương đương hơn 6.000 tỷ đồng ngày nay),
chỉ với một điều kiện là Bác Hồ phải từ bỏ con đường đấu tranh giành độc lập cho dân tộc Việt Nam.
Nếu khi đó nhận lời, Bác sẽ trở thành người giàu nhất Đông Dương.
Thậm chí, người Pháp còn kết hợp đe dọa sẽ lên kế hoạch mưu sát nếu Bác từ chối lời đề nghị.
Nhưng đáp lại mọi cám dỗ và đe dọa,
Bác chỉ bình thản nói trong buổi gặp gỡ kiều bào tại Pháp: “Tiền bạc là vật ngoài thân, Tổ quốc là trên hết.”
Và phần còn lại sau đó, như người ta vẫn nói, chính là lịch sử. Và Bác Hồ chính là người đã làm nên lịch sử của một đất nước.
Không một thế lực nào có thể mua chuộc được một tấm lòng Việt Nam.
Không một đồng tiền nào có thể khuất phục ý chí của một dân tộc yêu nước đến tận cùng.
Bác Hồ – người đã chọn độc lập của cả dân tộc, thay vì sự giàu sang của riêng mình.
Đây cũng là lý do vì sao mà Đảng cộng sản Việt Nam phát động phong trào học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ. Mong rằng cán bộ, đảng viên của ta hãy noi gương Bác, đó cũng chính là cách tốt nhất để cảm ơn Người đã cho ta cuộc sống hôm nay.
Theo: kienthuclich
14/10/2025
Ngày Doanh nhân VN: Cúi đầu trước hai shark thực thụ Cụ Trịnh Văn Bô và cụ Hoàng Thị Minh Hồ
Nhân ngày Doanh nhân Việt Nam, xin được cúi đầu trước cặp vợ chồng doanh nhân Hà Nội vĩ đại và yêu nước bậc nhất lịch sử nước nhà: Cụ Trịnh Văn Bô và cụ Hoàng Thị Minh Hồ.
Mọi người có biết hai cụ đã hiến tặng bao nhiêu cho cách mạng không? 5.147 LƯỢNG VÀNG! 💰
Đọc lại mới thấy choáng ngợp. Thập niên 1940, hai cụ là "cá mập" thứ thiệt của Hà thành, sở hữu thương hiệu lụa Phúc Lợi nức tiếng, có nhà máy 3 hecta, xuất khẩu hàng sang cả Anh, Pháp, Ấn Độ... Gia tài kếch xù, bất động sản mua đứt chứ không thèm thuê. 2 cụ từng bỏ ra 300.000 đồng Đông dương (khi đó giá trị còn hơn cả đô Mỹ) để mua biệt thư 34 Hoàng Diệu từ tay 2 vợ chồng người Pháp.
Nhưng triết lý kinh doanh của hai cụ mới thực sự đáng nể: "Buôn bán 10 đồng thì giữ lại 7, còn lại giúp đỡ người nghèo và làm việc phúc đức".
Và họ đã làm đúng như vậy!
✅ Cứu đói, giúp người lũ lụt, lo ma chay cho người nghèo.
✅ Đối xử với gia nhân, người làm công lúc nào cũng ân cần, cuối năm còn thưởng thêm tiền cho họ về ăn Tết.
✅ Và trên hết, khi đất nước lâm nguy, ngân khố trống rỗng, hai cụ đã không ngần ngại hiến gần như toàn bộ gia sản để phục vụ cách mạng.
Hai cụ không chỉ hiến vàng, mà trước đó trong Cách mạng Tháng Tám 1945, vợ chồng cụ dành ngôi nhà 48 Hàng Ngang để cán bộ cách mạng làm việc. Ngôi nhà 48 Hàng Ngang chính là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo Tuyên ngôn độc lập, khai sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2/9/1945. Sau đó gia đình cụ Trịnh Văn Bô cũng hiến căn nhà này cho Nhà nước để làm di tích cách mạng.
Những việc làm đầy ý nghĩa của 2 cụ xuất phát từ lòng yêu nước nồng nàn, sự tự hào dân tộc mạnh mẽ. Cụ bà Hoàng Thị Minh Hồ từng kể với Bác Hồ về "nỗi nhục mất nước" và sau này, bà đã có câu nói bất hủ: “Vợ chồng tôi có 4 bàn tay, 2 khối óc, đóng góp hết rồi chúng tôi sẽ làm ra. Độc lập dân tộc không thể để mất, vì mất rồi bao giờ thế hệ sau mới lấy lại được”. 😭
Nhìn lại tấm gương của hai cụ, rồi ngẫm đến thời nay mà buồn. Cũng là doanh nhân, thậm chí là "cá mập" hào nhoáng trên truyền thông, mà sao nhiều người chỉ chăm chăm "úp bô" đồng bào, lùa gà kiếm lợi cho bản thân, để lại bao nhiêu hệ lụy cho xã hội.
Ngày Doanh nhân Việt Nam, chỉ xin được nghiêng mình tự hào và biết ơn những doanh nhân chân chính có trái tim vì dân tộc như cụ Trịnh Văn Bô, cụ Hoàng Thị Minh Hồ. Đó mới thực sự là những người doanh nhân đáng được lưu danh sử sách! ❤️
30/09/2025
10/09/2025
Nhà có con trai, đến tuổi lớn, nhất định sẽ nảy sinh mâu thuẫn gay gắt với bố. Chuyện đấy, từ lâu, vẫn luôn là một lẽ tất yếu ở đời.
Tôi viết bài này dành cho nam giới, để chia sẻ những điều mà có thể bạn vẫn chưa nhận ra. Hy vọng rằng, sau đó, bạn sẽ trân trọng hơn khoảng thời gian ít ỏi mà mình vẫn còn được ở cạnh bố.
Trong những gia đình kiểu cũ, bố có thể là một người vô cùng hà khắc. Điều ấy không có nghĩa rằng bố không yêu thương và bao dung bạn như mẹ. Chỉ có điều, ở vai trò của người cha, bố phải trở thành một thứ tường thành vững chắc ngăn bạn không vì cái tôi non trẻ mà huỷ đi cả tương lai của mình.
Bản thân tôi cũng từng trẻ, tôi hiểu đứa con tuổi mới lớn sẽ có những đòi hỏi vô lý thế nào về gia đình. Bạn muốn bố điều gì cũng thấu hiểu. Bạn mong bố sẽ đồng tình và ủng hộ với mọi lựa chọn về sự nghiệp lẫn hôn nhân (bất chấp việc những lựa chọn ấy có thể ngu dại thế nào).
Nếu trao quyền lèo lái cuộc đời vào tay một đứa trẻ 18, còn chưa học được cách kiểm soát bản thân; thì rất nhanh thôi, đứa trẻ ấy sẽ bị các thế lực trong xã hội đưa vào tròng, lợi dụng đến mức thân tàn ma dại, tiêu tán cả công sức một đời cố gắng.
Bạn cũng phải là một một người cực kỳ đàn ông thì mới có thể hiểu được những gì mà bố từng đi qua.
Con đường của đàn ông chính là cho dù có bị khinh thường, hay đám đông miệt thị; cho dù có phải trải qua những thứ đau đớn như lừa đảo, phản bội hay lợi dụng, thì vẫn có thể đứng dậy, coi những trải nghiệm đó là một phần tất yếu của cuộc hành trình; và tiếp tục sinh tồn cho đến ngày có thể biến giá trị của bản thân giữa xã hội trở thành một thứ không thể bị phủ nhận.
Hơn ai hết, bố cũng là người đã trải qua thứ nghi lễ trưởng thành tàn khốc ấy để trở thành đàn ông. Mà một trong những bài học căn bản nhất của hành trình ấy chính là phải nghiêm khắc, đến mức không khoan nhượng, với tất cả những sự yếu đuối hay si mê sẽ ảnh hưởng đến tương lai của mình. Thế nên trong mắt bạn bố mới là người hà khắc.
Nhưng hãy hiểu đúng một sự thật là - gia đình không cần phải là nơi mà mọi kỳ vọng của đứa trẻ đều sẽ được đáp ứng. Gia đình, trước nhất, phải là một kết cấu bền vững mà cho dù ngày mai bầu trời có sập xuống, cuộc sống của mẹ và các con cũng sẽ không lâm vào cảnh thiếu thốn. Đó mới chính là thứ đạo lý trong góc nhìn của người làm cha.
Sự xung đột giữa bố và con trai, không đơn giản chỉ là sự va chạm của cái tôi, hay là những mâu thuẫn xảy ra do khác biệt về thế hệ. Quá trình ấy cũng là một giai đoạn đấu tranh tất yếu, để bạn tự vượt ra khỏi vòng tròn an toàn của chính mình; rồi sau đó mới là chứng minh cho gia đình rằng lối sống mới của mình là phù hợp hơn với bối cảnh của xã hội hiện đại.
Ngành tâm lý học đã nghiên cứu được rằng - từ góc nhìn của người con, mối quan hệ của con trai với bố sẽ trải qua ba giai đoạn: thần tượng, căm thù và thấu hiểu. Thế nhưng, từ góc nhìn của bố, trong suốt cả đời bạn, bố vẫn luôn là bố.
Nếu là con trai lớn trong gia đình mà vẫn còn đang to tiếng với bố, hãy hiểu rằng đó là một hành động cực kỳ bất hiếu và ngu xuẩn. Nếu bạn vẫn còn nghĩ rằng tất cả mọi thứ cần phải thuyết phục và hợp ý mình, bạn vẫn đang còn ở trong cái tôi ấu trĩ.
Đòi hỏi người khác phải đáp ứng cảm xúc của mình trong khi họ đang vượt qua cả cảm xúc, hy sinh cho mình bằng tình yêu vô điều kiện là hàng đầu của đại nghịch. Cha mẹ mang công lao trời biển cả đời không kể, nhưng lúc về già, chỉ cần một suy nghĩ rằng bố không cho bạn được gì lại là một thứ vô cùng nhói lòng.
Những thứ bạn được cho có thể không được nhiều như những gia đình khác. Nhưng chỉ cần chừng đó vẫn luôn tốt hơn là phải trở thành cô nhi, để cho xã hội dẫm đạp từ khi mới chỉ còn là một đứa bé. Nếu cũng là chính bạn, được đặt vào bối cảnh và xuất phát điểm của bố, chưa chắc bạn đã chịu được khối áp lực khổng lồ mà năm xưa bố từng gánh.
Bạn chưa bao giờ biết rằng người đàn ông ấy đã hy sinh nhiều thế nào cho mình. Nếu như trong vài chục năm tháng cuối cùng mà bạn không thể báo đáp được cho bố bằng cảm giác yên bình thì đó chính là tội bất hiếu.
Trong tất cả các mối quan hệ tình thân, khó nói nhưng thâm sâu và ít người hiểu được nhất chính là tình phụ tử.
Bởi vì bên cạnh chuyện hy sinh, để bảo vệ máu mủ, bạn phải dám chấp nhận cả sự ghét bỏ, mà không biết có ngày nào đó, con mình có hiểu được sự hy sinh ấy hay không. Thử hỏi trên đời liệu bạn đã yêu ai được bằng thứ tình cảm to lớn đến như vậy chưa?
Đây là những điều mà trước giờ báo đài hay phim ảnh ít khi đề cập tới. Nhưng nếu không kể ra, thì có lẽ mọi người sẽ còn chưa biết được tới những thứ đạo nghĩa to lớn trong thế giới của đàn ông.
- Lu -
P/S: Trong suốt cả chặng đường làm bố, bố cũng chỉ có đâu đó 10 mấy năm đầu tiên là vui vẻ nhất. Bởi trong giai đoạn ấy, bố với con trai có thể cùng nhau nghịch phá như hai đứa trẻ. Từ lúc bạn dậy thì đến tận bây giờ, điều bố đã làm là hy sinh tương lai của mình để tương lai của bạn có thể rạng rỡ hơn.
25/07/2025
TRI ÂN VÀ VỮNG BƯỚC
Đất nước mấy nghìn năm lịch sử, có mấy lúc bình yên. Nhưng thế kỷ 20 là những tháng năm khốc liệt và hào hùng nhất. Hàng triệu người đã ngã xuống cho Tổ quốc trường tồn.
Hàng vạn liệt sĩ vẫn nằm đâu đó nơi rừng xanh, núi thẳm. Có cả những người hy sinh trên đất bạn, khắc ghi một tấm tình dân tộc vô tư cứu bạn cũng là nghĩa vụ thiêng liêng.
Tôi đã nhiều lần đến Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Trường Sơn. Những ngôi mộ liệt sĩ xếp hàng bên nhau theo địa danh tỉnh cũ. Những dòng chữ mờ theo thời gian đọc lại vẫn thân thương. Những chàng trai trẻ tuổi 20, từ làng quê ra thẳng chiến trường. Những sinh viên xếp bút nghiên lên đường chiến đấu. Có cả những người gấp lại tờ giấy báo đi nước ngoài nhập học và ra trận. "Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến chống quân thù". Bình dị viết nên những dòng lịch sử. Bình dị như hy sinh vì Tổ quốc là lẽ sống.
Tôi đã đến nghĩa trang ở Ngã ba Đồng Lộc-nơi 10 cô gái thanh niên xung phong hy sinh. Tên tuổi các chị đã khắc sâu trong tâm trí bao thế hệ. Câu chuyện cuộc đời và tình yêu của các chị mãi mãi được lưu truyền. Đất nước có giặc, không ai có thể ngồi yên. Tuổi thanh xuân cống hiến cho đất nước là tuổi thanh xuân vĩnh cửu.
Những nghĩa trang cũng trải dài dọc đường biên giới phía Bắc. Những anh hùng kiên cường trên đá, hy sinh trên vách đá Hà Giang. Bức tường thép ngăn bước quân thù, giữ vững biên cương. Một dân tộc hiền hậu, bao dung nhưng không bao giờ khuất phục. Những kẻ nuôi mộng xâm lăng, lấn chiếm, muốn đè bẹp dân tộc ấy chắc cũng đã rút ra được những bài học thấm thía trong lịch sử.
Cũng có những nghĩa trang mà rất nhiều dòng tên liệt sĩ chưa xác định được danh tính. Nghĩa trang liệt sĩ ở Điện Biên có tấm bảng vàng ghi danh những người đã ngã xuống. Em ruột của bà nội tôi có tên trên đó, nhưng nghĩa trang không có mộ ông. Ngôi mộ của ông ở quê cũng chỉ là nấm mộ không, vọng tưởng. Tuổi 20 ra đi không vướng bận, thế hệ ấy đã thanh thản về với đất mẹ như làn khói sương ôm ấp mảnh đất thân yêu, hòa một chí khí quyết tử cho Tổ quốc. Nhưng nỗi đau, nỗi day dứt của người ở lại thì còn mãi.
Mãi mãi trên đất nước này, dấu ấn những người con hy sinh cho Tổ quốc. Mãi mãi trong lòng người sự biết ơn, trân trọng. Bình yên của Tổ quốc được đổi bằng bao xương máu, hy sinh. Giữ bình yên ấy hôm nay vẫn là thách thức, gian lao. Chỉ có dựng xây đất nước hùng cường mới mong tránh nạn binh đao. Tham vọng chiếm đất đai, nô dịch dân tộc khác vẫn còn trong máu những kẻ tham lam. Bom đạn vẫn nổ, máu vẫn chảy ở Ukraine, ở Trung Đông. Lời nhà báo Tiệp Khắc J.Fucik từ gần 100 năm trước vẫn như văng vẳng: Hỡi loài người, hãy cảnh giác!
Phải tự lớn dậy, vững vàng trên mảnh đất bao hy sinh, vất vả. Xứng với cha ông, phải dựng xây đất nước mạnh giàu. Cha ông xưa buông giáo gươm là xốc lấy tay cày, tay cuốc. Mùa vàng từ bàn tay chăm chỉ. Những triều đại thịnh trị nhất là triều đại biết chăm dân; biết khoan dung, đoàn kết; biết mở rộng giao thương. Nhiều triều đại nối nhau mở mang sự học, coi tri thức sâu như biển, cao như núi mới là tầm cao dân tộc; biết "tích cốc phòng cơ", lấy dân làm gốc sâu bền rễ...
Nhìn sâu về quá khứ, hướng đến tương lai, hiểu rõ mạnh-yếu để từng bước đi vững chãi. "Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế quốc tế như ngày nay". Nhưng so với các nước phát triển thì vẫn còn khoảng cách rất xa. Ngay ở gần ta, không kể Singapore, Malaysia đã phát triển từ trước, nay Indonesia, Philippines cũng đang nỗ lực vươn lên ngoạn mục. Thời của c.h.u.y.ể.n đ.ổ.i s.ố, của t.r.í t.u.ệ n.h.â.n t.ạ.o, bao nhiêu tiềm năng mới được khai phá. Nếu không chớp được thời cơ, thỏa mãn với cái đã có, nguy cơ tụt hậu xa hơn nữa là hiện hữu.
Thế nên, đất nước cũng đang chứng kiến những bước chuyển mình chưa từng có. 63 tỉnh, thành phố nay thu gọn còn 34. Hơn 600 huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố không còn nữa. Một cuộc chuyển dời lịch sử mà như Tổng Bí thư Tô Lâm gọi là “sắp xếp lại giang sơn” diễn ra với một tốc độ nhanh đến khó hình dung. Bộ máy gọn nhẹ để đất nước bay cao vào kỷ nguyên mới. Thước đo cao nhất là phục vụ nhân dân. Chính quyền địa phương hai cấp, 4-5 xã gộp lại làm một xã, trên nữa là cấp tỉnh. Giao cho xã đủ thẩm quyền giải quyết các thủ tục hành chính, tỉnh hướng dẫn, giám sát và hỗ trợ giải quyết những tình huống khó. Tối đa hóa các tỉnh, thành phố có biển để hiện thực tầm nhìn vươn ra biển lớn. Gia Lai có biển Quy Nhơn, Đắk Lắk có biển Tuy Hòa, còn Lâm Đồng thì vừa có Đà Lạt ngàn hoa lại có Mũi Né trữ tình, rộng tay phát triển du lịch. Hải Phòng giờ bao trọn cả đặc sản bánh g*i Ninh Giang lẫn vải thiều Thanh Hà. Đại đô thị TP Hồ Chí Minh vươn tận giàn khoan Vũng Tàu và các khu công nghiệp Bình Dương. Thành phố lớn nhất nước giờ có hai sân bay Tân Sơn Nhất và Côn Đảo, sải cánh cho giấc mơ một thành phố phát triển hàng đầu khu vực và châu Á trong tương lai không xa!
Một cuộc đổi thay cũng có những trăn trở, nhưng là trăn trở để phát triển. Có những cán bộ còn năm công tác vẫn tự giác làm đơn nghỉ sớm, nhường vị trí cho người trẻ hơn gánh vác, cũng là để bộ máy gọn ghẽ hơn. Có anh cười bảo xưa nay cứ nghĩ mình quan trọng, mình kinh nghiệm, cơ quan không thể thiếu mình. Liệu có lúc nào đó mình là gánh nặng của tổ chức mà không biết? Hay chí ít do quan niệm và cách kết cấu bộ máy mà mình cứ nghĩ mình không ai thay được? Có sở ngành ì ạch, nặng nề vì cơ chế thủ trưởng không bảo được quân. Ông chuyên viên ở dưới đã “bác” đi thì sếp cũng đành chịu. Mỗi khâu rề rà một chút là người dân, doanh nghiệp lãnh đủ. Nay có c.h.u.y.ể.n đ.ổ.i s.ố, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tất cả lưu trên hệ thống. Ai giải quyết thế nào, đúng-sai rõ hết. Xã này với xã kia, phường mình với phường bạn, tại sao họ làm được mà mình thì tắc? Chắc không ông cán bộ lãnh đạo cấp xã, cấp tỉnh nào ngủ ngon khi việc dân, việc nước còn gặp khó vì nhận thức của cán bộ còn chưa tới hay guồng máy nơi này, nơi kia còn chưa nhuyễn.
Cuộc cách mạng đặt ra rất nhiều việc, giải quyết rất căn cơ cả những vấn đề tồn đọng nhiều năm. Cứ như từng đường cày rành rẽ, mạch lạc, tưởng không liên quan mà lại rất đồng bộ, nhịp nhàng.
Lại nhớ câu thơ của nhà thơ Chế Lan Viên: “Dẫu là Chúa cũng sinh từ ruột máu/ Ta đẻ ra đời, sao khỏi những cơn đau”. Để đi đến thành tựu phải qua bao gian lao, thử thách. Để quyết sách đúng đi vào cuộc sống cần sự đồng lòng, chung chí hướng. Khát vọng đưa dân tộc vượt lên, kinh tế năm nay tăng trưởng 8% trở lên, tạo đà cho từ sang năm sẽ là tăng trưởng hai con số. Làm tốt công tác đền ơn đáp nghĩa. Hoàn thành xóa nhà tạm, nhà dột nát. Quyết liệt chống hàng giả, hàng nhái, bảo vệ quyền lợi và sức khỏe nhân dân. Rồi miễn học phí phổ thông, mầm non, phổ cập giáo dục trẻ 3-5 tuổi. Hướng tới miễn viện phí toàn dân. Đề ra chiến lược mới về đầu tư cho giáo dục, về chăm sóc giống nòi và sức khỏe nhân dân... Phải vượt lên chính mình mới có tương lai tươi sáng, bền lâu!
Những đoàn quân ra trận năm xưa cũng một ý chí vì sự trường tồn của dân tộc, vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Nỗ lực của thế hệ hôm nay là làm cho đất nước hùng cường, nhân dân ấm no, hạnh phúc. Cả nước một lòng đoàn kết, đại đoàn kết thì mới có thành công. Cuộc "sắp xếp lại giang sơn" lần này được nhân dân ủng hộ, hưởng ứng bởi cũng hướng đến mục tiêu xây dựng đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như mong ước của bao thế hệ đi trước đã không tiếc máu xương vì Tổ quốc!./.
Báo QĐND