Thống Kê Thành Phố Đà Nẵng

Thống Kê Thành Phố Đà Nẵng

Share

Thống kê thành phố Đà Nẵng
Địa chỉ: 310 Hoàng Diệu, Đà Nẵng Trích nội dung quyết định như sau:

Điều 1. Vị trí và chức năng

1. Nhiệm vụ và quyền hạn
1.

CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ
Chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của Cục Thống kê thành phố Đà Nẵng 19/08/2008
Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Thống kê thành phố Đà Nẵng được quy định theo Quyết định số Số: 55 / QĐ-TCTK ngày ngày 14 tháng 1 năm 2011 của Tổng Cục trưởng Tổng cục Thống kê (do Đồng chí Đỗ Thức ký). Cục Thống kê thành phố Đà Nẵng là cơ quan trực thuộc Tổng cục Thống

05/05/2026

A80 - NGÀNH THỐNG KÊ VIỆT NAM

14/04/2026

Ban chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 thành phố Đà Nẵng tiếp đoàn Chỉ đạo số 9 - Ban Chỉ đạo Trung ương

13/04/2026

Mời xem thông tin Các báo địa phương đưa tin Đoàn công tác BCĐ Trung ương làm việc tại Đà Nẵng sáng 13-4-2025
-------------------------------------------
1. Báo Công An Đà Nẵng https://cadn.com.vn/se-thay-dieu-tra-vien-kinh-te-khong-dap-ung-yeu-cau-trong-tong-dieu-tra-kinh-te-post339683.html

2. Báo và Phát thanh Truyền hình Đà Nẵng (Báo Điện tử) https://cadn.com.vn/se-thay-dieu-tra-vien-kinh-te-khong-dap-ung-yeu-cau-trong-tong-dieu-tra-kinh-te-post339683.html

3. Cổng 1022 thành phố Đà Nẵng https://officialaccount.me/d/1191640289962321181?zl3rd=815789662550058820&id=a31b92b159f4b0aae9e5&pageId=1191640289962321181

4. Cổng Thông tin Điện tử thành phố Đà Nẵng danang.gov.vn/vi/w/quyet-liet-hoan-thanh-tong-dieu-tra-kinh-te-2026-dung-ke-hoach?p_l_back_url=%2Fweb%2Fdng%2Fsearch%3Fq%3Dt%25E1%25BB%2595ng%2520%25C4%2591i%25E1%25BB%2581u%2520tra%2520kinh%2520t%25E1%25BA%25BF

Photos from Thống Kê Thành Phố Đà Nẵng's post 13/04/2026

Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế 2026 thành phố Đà Nẵng tiếp đón và làm việc với Ban Chỉ đạo TĐT KT Trung ương (Đoàn Chỉ đạo số 9)
-------------
Sáng ngày 13-4-2026

09/04/2026
08/04/2026

Quyết định số 217/QĐ-CTK ngày 7/4/2026 của Cục Thống kê về việc công nhận biểu trưng (Logo) chính thức của ngành Thống kê Việt Nam
-----------------------------
**** Biểu trưng (logo) ngành Thống kê Việt Nam có dạng hình tròn, gồm hai khối cấu trúc chính: vành ngoài hình vành khăn (khối chính danh) và hình tròn trung tâm (khối nghiệp vụ), được liên kết bởi đường cong chữ “S” cách điệu, thể hiện sự thống nhất, liên kết chặt chẽ và định hướng phát triển bền vững của ngành Thống kê.
**** Vành ngoài thể hiện tên gọi “Thống kê Việt Nam” cùng ngày thành lập Ngành (06-5-1946), khẳng định tính chính danh, bề dày truyền thống lịch sử và vai trò của cơ quan thống kê quốc gia.
**** Đường cong chữ “S” là yếu tố tạo hình chủ đạo, vừa là chữ cái đầu của từ “Statistics”, vừa gợi hình dáng lãnh thổ Việt Nam, đồng thời biểu trưng cho dòng chảy liên tục của dữ liệu thống kê và quy trình nghiệp vụ khép kín, lặp lại theo giai đoạn: thu thập, xử lý, phân tích và công bố thông tin.
**** Hình bản đồ Việt Nam được đặt tại trung tâm biểu trưng, thể hiện rõ phạm vi bao phủ toàn quốc của hoạt động thống kê, đồng thời khẳng định tính thống nhất lãnh thổ và định hướng phục vụ phát triển đất nước.
**** Biểu đồ tần suất (histogram) bố trí tại phía dưới bên trái, được thể hiện với sắc độ hài hòa, đóng vai trò yếu tố hỗ trợ, không làm lấn át các hình tượng chủ đạo. Hình ảnh này là biểu trưng tiêu biểu của khoa học thống kê, gợi liên tưởng đến phân phối chuẩn. Đồng thời, các cột biểu đồ vươn lên theo trục tung còn gợi hình ảnh bàn tay
giơ lên, thể hiện cam kết về các giá trị cốt lõi của ngành Thống kê: chuẩn mực, trung thực, khách quan, chính xác, thiết thực và kịp thời. Năm cột biểu đồ cũng đồng thời biểu trưng cho các trụ cột phát triển của cơ quan thống kê hiện đại, bao gồm: thể chế,
phương pháp luận, khoa học công nghệ, nguồn nhân lực và hợp tác quốc tế.
**** Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được thể hiện dưới dạng các điểm dữ liệu trong tổng thể biểu trưng, vừa góp phần khẳng định chủ quyền quốc gia, vừa phản ánh xu hướng số hóa dữ liệu và chuyển đổi số của ngành Thống kê trong bối cảnh phát triển kinh tế số và xã hội số.
**** Màu sắc chủ đạo của biểu trưng là xanh và vàng, thể hiện tính hiện đại, minh bạch, tin cậy và định hướng phát triển bền vững

18/03/2026

Một bài viết của đ/c Nguyên lãnh đạo Tp ĐÀ Nẵng.

----------

ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG NĂM 2026
VÀ CÁC KỊCH BẢN ĐẶT RA CHO NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

(Bài đăng trong Đặc san Xuân Bính Ngọ 2026)

ĐẶT VẤN ĐỀ

Quốc hội đã thông qua mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2026 từ 10% trở lên phản ánh khát vọng phát triển mạnh mẽ của Việt Nam trong giai đoạn mới, hướng tới việc hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của Đại hội XIV và tầm nhìn 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao. Trong bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay đang tiềm ẩn nhiều bất ổn, mục tiêu tăng trưởng này đặt ra yêu cầu cần đánh giá nghiêm túc về nguồn lực, động lực tăng trưởng và rủi ro vĩ mô khi triển khai thực hiện.

Lịch sử kinh tế thế giới trong những thập niên đã qua cho thấy không nhiều quốc gia duy trì được tăng trưởng hai con số trong thời gian dài mà không phải trả giá bằng bất ổn về kinh tế hoặc suy giảm phúc lợi xã hội. Vấn đề cốt lõi để nghiên cứu không nằm ở việc có đạt tăng trưởng GDP 10% hay không, mà ở chỗ tăng trưởng đó được tạo ra bằng động lực nào, có nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế hay chỉ là sự gia tăng ngắn hạn về tổng cầu. Do đó, việc rút ra bài học quốc tế, phân tích động lực và xây dựng kịch bản là đặc biệt cần thiết.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TĂNG TRƯỞNG CAO.

Theo các lý thuyết tăng trưởng (Mô hình Solow-Swan và các mô hình khác), GDP trong ngắn hạn có thể tăng trưởng nhanh thông qua mở rộng vốn đầu tư, gia tăng hiệu quả sử dụng lao động (bao gồm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tái phân bổ lao động sang các ngành có năng suất cao hơn). Tuy nhiên, trong trung và dài hạn, tức là khi nền kinh tế tiến dần đến “trạng thái bão hòa” – khi mà mọi nguồn lực đã được khai thác hết công suất - thì năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP - Total Factor Productivity) - tiến bộ công nghệ, trình độ lao động và hiệu quả quản lý mới là động lực chủ yếu quyết định sự tăng trưởng.
Các yếu tố cần có của một nền kinh tế đạt tăng trưởng cao và bền vững:
• Cải cách thể chế mạnh mẽ và quyết liệt.
• Doanh nghiệp trong nước có năng lực cạnh tranh quốc tế cao.
• Hệ thống tài chính được giám sát chặt chẽ.
• Phân phối thành quả tăng trưởng tương đối hợp lý.
Ngược lại, tăng trưởng nóng dựa trên đòn bẩy tín dụng và sự gia tăng quá mức giá trị các tài sản phi sản xuất (như bất động sản và chứng khoán) thường dẫn đến mất cân đối vĩ mô, khủng hoảng tài chính và suy giảm tăng trưởng kéo dài. Đặc biệt, theo mô hình Solow - Swan, khi vốn và lao động đạt đến ngưỡng hiệu suất giảm dần, chỉ có tiến bộ công nghệ mới có thể phá vỡ giới hạn để duy trì tăng trưởng.

NHỮNG KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ TĂNG TRƯỞNG HAI CON SỐ

Cần khẳng định là các kinh nghiệm quốc tế không phải khuôn mẫu sao chép như nhau giữa các quốc gia, mà như là những tham chiếu về điều kiện cần cho một nền kinh tế tăng trưởng cao, điều mà Việt Nam đang hướng tới từ năm 2025 và những năm sau.

Hàn Quốc xây dựng doanh nghiệp trong nước mạnh đi đôi với tăng năng suất. Trong giai đoạn 1962-1996, Hàn Quốc đạt tăng trưởng trung bình 8-10%/năm. Thu nhập bình quân đầu người tăng vọt từ 87 USD lên hơn 13.000 USD. Thành công này nhờ vào: Phát triển các tập đoàn nội địa (chaebol) vững mạnh; Định hướng xuất khẩu gắn với nâng cao công nghệ; Kỷ luật tài chính chặt chẽ; và đặc biệt là đầu tư lớn cho giáo dục chất lượng cao. Bài học quan trọng là để có nền kinh tế tăng trưởng cao và bền vững, Hàn quốc đã tập trung vào đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đủ trình độ hấp thụ công nghệ tiên tiến và tạo “cú đấm thép” bởi chính sách phù hợp khuyến khích các tập đoàn doanh nghiệp tư nhân nội địa vươn lên khả năng cạnh tranh quốc tế. Có hàng trăm tập đoàn tư nhân lớn nhỏ hoạt động, nhưng nền kinh tế Hàn Quốc giai đoạn này chịu sự chi phối mang tính quyết định bởi 30 Chaebol lớn nhất, trong đó, có 5 tập đoàn khổng lồ (Big Five: Samsung, Hyundai, LG (Lucky-Goldstar), Daewoo và SK) nắm giữ tỷ trọng GDP áp đảo.

Trung Quốc tăng quy mô đầu tư, (vốn và lao động) nhưng phải trả giá dài hạn. Trung Quốc duy trì mức tăng GDP trung bình 9,9%/năm trong suốt 32 năm (1978-2010). Động lực chủ yếu từ đầu tư công quy mô lớn, huy động vốn mạnh nhờ vào FDI và sử dụng lợi thế về nhân khẩu học. Tốc độ tăng trưởng cao trong một thời kỳ dài đã giúp Trung quốc từ một nước nghèo đã vượt qua Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Tuy nhiên, hệ quả là sự tích tụ nợ công và nợ doanh nghiệp ở mức báo động (đến cuối năm 2025 đã vượt ngưỡng 300% GDP); tình trạng dư thừa công suất tại các ngành công nghiệp chủ chốt dẫn đến lãng phí nguồn lực (hiệu quả sử dụng vốn thấp trong khi TFP tăng trưởng chậm không bù đắp được); và đặc biệt là rủi ro từ b**g bóng bất động sản (ước khoảng 40% doanh nghiệp BĐS không thanh toán được nợ), đe dọa trực tiếp đến sự ổn định hệ thống tài chính quốc gia. Bài học tự cảnh báo "4 Không" của Thủ tướng Ôn Gia Bảo (phát biểu năm 2007 trước khi khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008) về sự phát triển "không ổn định, mất cân bằng, thiếu điều phối và không bền vững" là bài học đắt giá về việc lạm dụng tín dụng để kích cầu của Trung quốc.

Thái Lan tăng trưởng nóng và “thập kỷ mất mát”. Thái Lan từng là "Con hổ thứ năm" châu Á với tăng trưởng rất cao giai đoạn 1987-1996, bình quân trên 9%, nhờ vào đầu tư FDI và bùng nổ bất động sản. Song do dựa nhiều vào dòng vốn ngắn hạn và đầu cơ, khủng hoảng tài chính 1997 đã khiến nền kinh tế trì trệ kéo dài cho đến nay vẫn chưa hồi phục. Bài học của Thái Lan cho thấy một nền kinh tế có thể duy trì tăng trưởng nóng trong một thời gian nhờ tích lũy vốn dựa trên vay nợ ngoại tệ với tỉ giá cố định và đầu cơ tài sản. Nhưng do không cải thiện năng lực thể chế; thiếu hụt các doanh nghiệp nội địa có khả năng làm chủ công nghệ; bên cạnh đó, tình trạng bất bình đẳng xã hội sâu sắc dẫn đến những bất ổn chính trị kéo dài…, tất cả đã đẩy nền kinh tế vào trạng thái trì trệ và mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình cho đến tận ngày nay.

CÁC ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG GDP CỦA VIỆT NAM NĂM 2026

• Đầu tư công: Có khả năng tạo “cú hích” tăng trưởng thông qua đầu tư hạ tầng giao thông, đô thị và năng lượng. Tuy nhiên, hiệu quả phụ thuộc lớn vào chất lượng dự án và năng lực thực thi (nhất là dự án địa phương và giải ngân vốn). Nếu đầu tư vào quá nhiều dự án dàn trải, tác động tích cực sẽ hạn chế và suy giảm nhanh.
• Đầu tư nước ngoài và xuất khẩu: Là động lực quan trọng trong thời gian qua và hiện nay, song mô hình này đang dựa chủ yếu vào doanh nghiệp có vốn FDI khiến giá trị gia tăng nội địa còn hạn chế. Việc nâng cao hiệu quả liên kết và chuyển giao công nghệ giữa FDI và doanh nghiệp nội địa là điều kiện cần rất quan trọng để duy trì tăng trưởng cao và bền vững.
• Kinh tế số và chuyển đổi xanh: Đây là động lực mới cần được phát huy đầy đủ hơn trong chính sách và thực thi. Kinh tế số giúp tối ưu hóa nguồn lực và tạo ra giá trị gia tăng cao với chi phí biên thấp (kỳ vọng đóng góp khoảng 20-30% GDP). Trong khi đó, chuyển đổi xanh không chỉ là trách nhiệm mà còn là điều kiện để hàng hóa Việt Nam vượt qua các hàng rào kỹ thuật của các nước (như hàng rào xanh CBAM của EU, Mỹ) để duy trì và phát triển đà xuất khẩu tăng trưởng cao hiện nay.
• Tiêu dùng trong nước: Chỉ trở nên bền vững nếu thu nhập thực của người lao động tăng trưởng ổn định và lạm phát được kiểm soát chặt chẻ. Nếu tăng trưởng không đi kèm cải thiện thu nhập của đại bộ phận dân chúng và thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, sức mua nội địa sẽ chạm trần và khó duy trì vai trò là động lực dài hạn kích thích nền kinh tế. Bên cạnh, nền kinh tế cần một hệ thống an sinh xã hội vững chắc để giải phóng tâm lý tiết kiệm phòng vệ, kết hợp với các kênh tín dụng tiêu dùng lành mạnh.
• Năng suất lao động: là yếu tố then chốt nhất cho tăng trưởng bền vững. Theo các nghiên cứu trên thế giới, để đạt tăng trưởng GDP 10%, năng suất lao động cần tăng ở mức cao. Theo các nghiên cứu của McKinsey (MGI) và trong nước, để GDP tăng 10%, năng suất lao động xã hội cần tăng 8 - 9%, gần gấp đôi mức tăng hiện tại - đây là “cú nhảy vọt” chưa từng có trong lịch sử kinh tế Việt Nam. Theo đó, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) phải đóng góp ở mức rất cao, khoảng trên 5-6% để bù đắp cho các giới hạn về vốn và lao động khi chúng đang tiến dần tới hạn. Yêu cầu này đòi hỏi nước ta phải cải cách toàn diện về đào tạo nhân lực chất lượng cao; về phát triển kinh tế số và các ngành công nghệ cao; về quản trị tiên tiến (của quốc gia và doanh nghiệp).

CÁC KỊCH BẢN CHIẾN LƯỢC CHO LỘ TRÌNH TĂNG TRƯỞNG

 Kịch bản 1: Tăng trưởng có kiểm soát (quyết liệt đạt chỉ tiêu), dồn toàn lực đạt mục tiêu tăng trưởng đột phá (khoảng 10%) vào năm 2026 thông qua các đại dự án hạ tầng và thu hút FDI công nghệ cao. Chính phủ điều chỉnh linh hoạt chính sách tiền tệ và tài khóa theo hướng mở rộng với sự giám sát đặc biệt.

- Tập trung tối ưu hóa chỉ số ICOR (từ mức 6.0 hiện nay xuống dưới 4.0) và năng lực hấp thụ vốn của nền kinh tế để tránh lãng phí nguồn lực.
- Rủi ro hệ thống: khi việc cung tiền lớn cho đầu tư công và phá giá đồng tiền để hỗ trợ xuất khẩu tiềm ẩn rủi ro lạm phát đình trệ (Stagflation). Đồng thời, cần kiểm soát chặt chẽ hiệu ứng lấn át (crowding-out) nhằm đảm bảo khu vực tư nhân không bị thiếu hụt nguồn vốn.
- Điều kiện tiên quyết là cần nâng cao năng lực quản trị quốc gia, cải thiện chất lượng thể chế và thiết lập cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nghĩ, dám làm" để khơi thông các điểm nghẽn pháp lý, đảm bảo an toàn nợ công trong giới hạn cho phép.

 Kịch bản 2: Tăng trưởng bền vững (lý tưởng), tham khảo kinh nghiệm thành công của Hàn Quốc, kịch bản này hướng tới duy trì tốc độ tăng trưởng 7% – 8% dựa trên sự bứt phá của Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) thay vì phụ thuộc vào vốn và lao động giá rẻ.
- Tập trung đầu tư mạnh mẽ vào Vốn nhân lực, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số và kinh tế xanh để nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.
- Điểm đột phá là chú trọng khả năng hấp thụ và làm chủ công nghệ của doanh nghiệp nội địa thông qua các liên kết FDI chiến lược, từ đó tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang các ngành có hàm lượng tri thức cao.
- Thu nhập thực tế của người dân tăng trưởng tương ứng với GDP, giúp củng cố sức mua nội địa. Các chỉ số vĩ mô như lạm phát, nợ công và thâm hụt ngân sách được kiểm soát chặt chẽ, tạo lập nền tảng vững chắc để vượt qua bẫy thu nhập trung bình và đảm bảo công bằng xã hội.

 Kịch bản 3: Tăng trưởng nóng (rủi ro b**g bóng tài sản), sự tăng trưởng cao trong ngắn hạn nhưng thiếu bền vững, dựa chủ yếu vào đòn bẩy vay nợ và sự hưng phấn quá mức của các thị trường tài sản (tương tự sai lầm dẫn đến khủng hoảng năm 1997 của Thái Lan hoặc lĩnh vực bất động sản Trung Quốc những năm gần đây).
- Dòng vốn xã hội bị hút mạnh vào các kênh đầu cơ như bất động sản và chứng khoán thay vì chảy vào khu vực sản xuất thực. Điều này dẫn đến sự phân bổ nguồn lực sai lệch – khi nguồn vốn và nhân lực không đổ vào nhà máy hay công nghệ mà chỉ tập trung vào việc mua đi bán lại đất đai, tạo ra sự phồn vinh ảo trên các con số.
- Tình trạng bất đối xứng thông tin xuất hiện (khi người mua không nắm rõ giá trị thực, dễ bị cuốn vào các cơn "sốt ảo" do các nhóm lợi ích thao túng thông tin) làm gia tăng rủi ro lừa đảo và mất an toàn hệ thống tài chính. Kéo theo đó là tình trạng lạm phát chi phí đẩy: khi giá đất và mặt bằng bị đẩy lên quá cao, chi phí sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp tăng vọt, buộc giá hàng hóa phải tăng theo, trực tiếp bào mòn sức mua của người dân.
- Khi b**g bóng tài sản sụp đổ, nền kinh tế sẽ rơi vào tình trạng suy thoái bảng cân đối kế toán. Đây là giai đoạn cực kỳ nguy hiểm khi giá trị tài sản của người dân và doanh nghiệp bị bốc hơi nhanh chóng nhưng những khoản nợ ngân hàng vẫn còn nguyên. Hệ quả là tất cả các chủ thể trong nền kinh tế đều phải thắt chặt chi tiêu tối đa để ưu tiên trả nợ, khiến sức mua tê liệt và nền kinh tế rơi vào vòng xoáy trì trệ kéo dài.

TỪ BÀI HỌC QUỐC TẾ ĐẾN THỰC TIỄN VIỆT NAM

1. Chuyển dịch trọng tâm từ quy mô sang hiệu quả (Quality over Quantity): Ưu tiên hàng đầu là tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn qua việc kiểm soát chỉ số ICOR và gia tăng đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP). Kinh tế số và chuyển đổi xanh không nên chỉ dừng lại ở khẩu hiệu mà phải được đo lường bằng mức độ đóng góp thực chất vào GDP. Cần kiên định quan điểm: Không đánh đổi sự ổn định vĩ mô và an toàn nợ công để lấy con số tăng trưởng "hai chữ số" nếu con số đó thiếu nền tảng năng suất vững chắc.
2. Thiết lập kỷ cương tài chính và điều tiết tín dụng chiến lược: Xây dựng các "làn ranh đỏ" và tiêu chuẩn an toàn vốn khắt khe đối với các lĩnh vực đầu cơ như bất động sản, chứng khoán để ngăn chặn b**g bóng tài sản. Ngược lại, cần có các cơ chế ưu đãi tín dụng có mục tiêu (Targeted Credit) dành riêng cho sản xuất, xuất khẩu, dự án xanh và số hóa. Việc này giúp dòng vốn chảy đúng vào "hệ tuần hoàn" của nền kinh tế, thay vì bị ứ đọng ở các tài sản đầu cơ.
3. Đột phá thể chế và nuôi dưỡng nội lực doanh nghiệp: Cần thực thi quyết liệt Nghị quyết 68-NQ/TW để hình thành các tập đoàn tư nhân nội địa có năng lực dẫn dắt chuỗi cung ứng, thay vì chỉ phụ thuộc vào khu vực FDI. Đồng thời, cải cách thể chế phải tập trung vào việc "giải tỏa tâm lý" thông qua các quy định pháp lý minh bạch, bảo vệ cán bộ dám nghĩ dám làm. Đây là chìa khóa để khơi thông nguồn lực đầu tư công vốn đang là điểm nghẽn lớn nhất hiện nay.
4. Chiến lược "Chạy đua với thời gian" trước ngưỡng cửa già hóa dân số: Việt Nam đang ở giai đoạn cuối của thời kỳ "dân số vàng". Giai đoạn 2025–2030 là "cửa sổ cơ hội" duy nhất còn lại để tích lũy nguồn lực. Vì vậy, mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn này không nên chỉ coi là tham vọng, mà phải được nhìn nhận là yêu cầu chiến lược bắt buộc. Nếu không đạt được bứt phá về năng suất và tích lũy tài sản quốc gia trước khi lực lượng lao động suy giảm, Việt Nam sẽ đối mặt với rủi ro "già trước khi giàu".
5. Tầm nhìn quyết liệt nhưng bền vững: Tăng trưởng nhanh phải đi đôi với gia tăng thu nhập khả dụng thực tế và hệ thống an sinh xã hội vững chắc. Điều này giúp giải phóng tâm lý "tiết kiệm phòng vệ" của người dân, biến tiêu dùng nội địa thành một động lực tăng trưởng tự thân và bền vững. Lộ trình này đòi hỏi sự điều hành quyết liệt của Chính phủ nhưng phải dựa trên sự thận trọng về mặt kỹ thuật, đảm bảo mỗi phần trăm tăng trưởng đều đóng góp trực tiếp vào sức mạnh nội sinh của quốc gia.

LỰA CHỌN LỘ TRÌNH CHO KHÁC VỌNG THỊNH VƯỢNG

Con đường tiến tới mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam không chỉ đơn thuần là một cuộc đua về mặt số liệu, mà là bài toán về việc lựa chọn mô hình phát triển. Nhìn từ bài học "thập kỷ mất mát" của Thái Lan và những thăng trầm của các nền kinh tế khu vực, chúng ta rút ra ba kết luận cốt lõi:

Thứ nhất, tăng trưởng phải dựa trên năng suất thực chất. Bài học từ kịch bản "Tăng trưởng nóng" dựa trên b**g bóng tài sản và nợ vay cho thấy cái giá phải trả cho sự phồn vinh ảo là sự đình trệ kéo dài và suy thoái bảng cân đối kế toán. Việt Nam cần kiên định với kịch bản tăng trưởng bền vững, nơi năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) và kinh tế số đóng vai trò là động cơ chính.

Thứ hai, tiêu dùng nội địa vừa là thước đo và vừa là động lực. Tăng trưởng sẽ vô nghĩa nếu không chuyển hóa thành thu nhập thực tế và sự tự tin chi tiêu của người dân. Việc củng cố hệ thống an sinh xã hội và kiểm soát lạm phát chi phí đẩy không chỉ là vấn đề xã hội, mà là chiến lược kinh tế then chốt để giải phóng nội lực quốc gia.

Cuối cùng, giai đoạn 2025–2030 chính là "cửa sổ cơ hội" cuối cùng trước khi rào cản già hóa dân số thực sự thắt chặt dư địa tăng trưởng. Việt Nam không có đặc quyền để lựa chọn giữa "nhanh" hay "bền vững" một cách tách biệt, mà phải thực hiện một cuộc bứt phá "nhanh trong sự bền vững". Để làm được điều này, sự quyết liệt trong cải cách thể chế và cơ chế bảo vệ cán bộ năng động, đổi mới sẽ là "mở khóa" cho mọi nguồn lực.

Khát vọng thịnh vượng chỉ có thể đạt được khi chúng ta dám theo đuổi những chỉ tiêu tham vọng nhưng trên một nền tảng quản trị thông minh, kỷ cương tài chính nghiêm ngặt và tinh thần tự cường dân tộc. Đây không chỉ là một lộ trình kinh tế, mà là một cuộc hành trình vượt lên chính mình để không rơi vào vết xe đổ của những quốc gia "già trước khi giàu"./.

Võ Duy Khương

26/02/2026

Thư gửi Giám đốc, Tổng giám đốc Doanh nghiệp

Photos from Thống Kê Thành Phố Đà Nẵng's post 13/02/2026
Tổng điều tra Kinh tế năm 2026: Phấn đấu “về đích” trước 30/6/2026 03/02/2026

https://vov1.vov.vn/kinh-te/tin-kinh-te/tong-dieu-tra-kinh-te-nam-2026-phan-dau-ve-dich-truoc-3062026-123939.vov

Tổng điều tra Kinh tế năm 2026: Phấn đấu “về đích” trước 30/6/2026 VOV1 - Tại cuộc họp chuẩn bị Hội nghị triển khai và rà soát, điều chỉnh kế hoạch Tổng điều tra kinh tế năm 2026 diễn ra chiều tối 02/2/2026, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng đề nghị các bộ, ngành, địa phương đẩy nhanh ti...

Want your business to be the top-listed Government Service in Da Nang?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Telephone

Address


310 Hoàng Diệu
Da Nang
840236

Opening Hours

Monday 07:30 - 17:30
Tuesday 07:30 - 17:30
Wednesday 07:30 - 17:30
Thursday 07:30 - 17:30
Friday 07:30 - 17:30