Búp Sen Xanh 90

Búp Sen Xanh 90

Share

Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Hà Nam

01/07/2025

Thí sinh bỏ thi - không thể xem nhẹ

Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2025 có gần 10.000 thí sinh không đến làm thủ tục dự thi. Dù chỉ chiếm khoảng 1% tổng số thí sinh đăng ký, nhưng đây không đơn thuần là con số thống kê mà là sự phản ánh những vấn đề trong giáo dục và công tác định hướng cho học sinh.

Một phần trong số các thí sinh không đến làm thủ tục dự thi vì các em đã trúng tuyển đại học bằng phương thức khác, hoặc chuyển hướng học nghề, đi làm. Điều đó thể hiện sự đa dạng trong lựa chọn mục tiêu của học sinh. Bên cạnh tín hiệu tích cực, con số trên cũng cho thấy thực trạng đáng lo ngại. Trong khi đất nước đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, việc nhiều thí sinh không dự thi, từ bỏ cơ hội tiếp tục học tập cần được nhìn nhận nghiêm túc. Bởi đằng sau mỗi thí sinh bỏ thi là một câu chuyện: Có thể do định hướng nghề nghiệp, hay tâm lý buông xuôi, thiếu mục tiêu học tập, hoặc gia đình gặp khó khăn...

Để tạo động lực giúp học sinh phấn đấu thực hiện những mục tiêu tích cực, trước hết, nhà trường cần tăng cường giáo dục, xây dựng động cơ học tập đúng đắn, tạo môi trường thuận lợi để học sinh thực hiện, có định hướng nghề nghiệp sớm ngay từ bậc trung học cơ sở. Các cơ sở giáo dục và gia đình cần đồng hành, sâu sát hơn với học sinh. Công tác giáo dục lý tưởng sống, khơi dậy trách nhiệm công dân phải trở thành nền tảng xuyên suốt, giúp học sinh nhận thức rõ vai trò của học tập đối với tương lai bản thân. Bên cạnh đó, cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách hỗ trợ, nhất là hỗ trợ học sinh có hoàn cảnh khó khăn, giảm rào cản về điều kiện học tập.

Định hướng đúng, hỗ trợ kịp thời, truyền cảm hứng tích cực là giải pháp cơ bản để không còn những học sinh bỏ lại ước mơ bên ngưỡng cửa trưởng thành.

THƯ NGỌC

Ảnh minh họa: baochinhphu.vn

01/07/2025

Sức mạnh của đoàn kết

Trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm: Sức mạnh của đoàn kết

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công, đại thành công”- Câu nói bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ giữa thế kỷ XX đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị thời sự. Sức mạnh của tinh thần đoàn kết không chỉ là bài học được đúc kết từ thực tiễn cuộc sống ngàn đời của nhân loại, mà còn là cội nguồn làm nên những thành tựu vĩ đại của xã hội loài người. Điều này đặc biệt đúng trong lịch sử cách mạng Việt Nam gần một thế kỷ qua. Trong giai đoạn hiện nay, khi cả nước đã và đang thực hiện chủ trương sắp xếp, tinh gọn bộ máy tổ chức của hệ thống chính trị; sáp nhập các đơn vị hành chính, “sắp xếp lại giang sơn”, tổ chức không gian phát triển bền vững cho đất nước, tinh thần đoàn kết càng phải được phát huy mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Với tầm nhìn chiến lược và bản lĩnh lãnh đạo của Đảng, chúng ta kiên quyết giữ vững và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đó là “mạch nguồn”, là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt, bảo đảm mọi đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước được thực hiện triệt để, nhất quán, hiệu quả, đáp ứng tốt nhất mọi nguyện vọng chính đáng của Nhân dân.

Đoàn kết – chân lý của mọi thời đại
Từ thuở bình minh của nhân loại, tinh thần cộng đồng và đoàn kết đã là yếu tố sống còn để xã hội loài người tồn tại và phát triển. Ông cha ta đúc kết trong tục ngữ: “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Sức mạnh tập thể luôn lớn hơn tổng sức mạnh của từng cá nhân; “bó đũa” bao giờ cũng vững chắc hơn “đôi đũa”. Khi con người biết hợp quần, đoàn kết, chung sức đồng lòng, thì sức mạnh tính theo cấp số nhân vượt qua mọi khó khăn, nguy hiểm. Lịch sử các dân tộc trên thế giới cho thấy một cộng đồng gắn bó bền chặt sẽ đủ sức chiến thắng thiên tai địch họa, còn chia rẽ phân ly chỉ chuốc lấy suy vong. Chính vì lẽ đó, thông điệp “đoàn kết là sức mạnh” trở thành chân lý phổ quát, được lưu truyền ở mọi chế độ xã hội suốt hàng nghìn năm nay.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, tinh thần đoàn kết lại càng được thể hiện rõ và trở thành một truyền thống quý báu. Từ thời Văn Lang, Âu Lạc tới các triều đại Đinh-Lê-Lý- Trần cho tới ngày nay, sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc luôn được đề cao. Xã hội phát triển, non sông bờ cõi bền vững, mở mang cũng do sức mạnh đoàn kết mà có. Nguyễn Trãi từng tổng kết: “Đẩy thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”, “Thuyền bị lật, mới tin rằng dân như nước”, “Tướng sỹ một lòng phụ tử/ Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”. Bài học lịch sử ấy thấm sâu vào tư tưởng ông cha:“dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Khi lòng dân đồng thuận, trên dưới một lòng, thì không thế lực ngoại xâm nào khuất phục nổi dân tộc ta.

Đặc biệt, từ khi có Đảng Cộng sản lãnh đạo, truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc càng được nâng lên tầm cao mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người kế thừa xuất sắc tinh thần “nước lấy dân làm gốc” của dân tộc, đồng thời vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác–Lênin, xây dựng khối liên minh công-nông-trí thức và Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi. Người khẳng định: “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết chặt chẽ, thì chúng ta nhất định có thể khắc phục mọi khó khăn, phát triển mọi thuận lợi và làm tròn mọi nhiệm vụ nhân dân giao phó cho chúng ta“[1]. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh lời dạy ấy: Khi nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do; trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì sẽ bị xâm lấn. Từ Cách mạng Tháng Tám 1945 đến Chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, rồi Đại thắng Mùa Xuân 1975 cho tới hiện nay, tất cả những mốc son chói lọi đó đều là kết tinh của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc – từ lòng yêu nước nồng nàn đến ý chí “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Chính sức mạnh nhân dân, sự đồng tâm hiệp lực của hàng triệu con người Việt Nam yêu nước, đã làm nên kỳ tích đánh bại những đế quốc hùng mạnh bậc nhất thế giới trong thế kỷ XX. Chúng ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày hôm nay phần nhiều do sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc bồi đắp nên.

Trái lại, lịch sử cũng không thiếu những bài học đau xót về mất đoàn kết dẫn đến thất bại. Cuộc đấu tranh chống thực dân cuối thế kỷ XIX của nhân dân ta đã thất bại có nguyên nhân sâu xa là cả nước không đoàn kết được thành một khối thống nhất. Nhiều cuộc khởi nghĩa anh dũng rốt cuộc bị dập tắt vì thiếu sự phối hợp, đồng lòng giữa các lực lượng và lãnh tụ đương thời. Bài học “chia rẽ thì chết” luôn nhãn tiền: chỉ một mâu thuẫn, phân liệt nội bộ cũng đủ làm suy yếu sức mạnh chung, tạo kẽ hở để kẻ thù “chia để trị”. Sự sụp đổ của một số đảng phái và chế độ trên thế giới cũng cho thấy: khi đoàn kết trong Đảng và trong xã hội bị phá vỡ, khi lợi ích nhóm hay tư tưởng cục bộ lấn át mục tiêu chung, thì thất bại là điều khó tránh khỏi. Ngược lại, đoàn kết chặt chẽ chính là “lực lượng vô địch” tạo nên sức mạnh vô song giúp chúng ta khắc phục mọi khó khăn, giành lấy thắng lợi vẻ vang.

Từ những thành bại trong lịch sử, có thể rút ra chân lý: đoàn kết là vấn đề sống còn, quyết định thành bại của cách mạng. Nhờ đoàn kết, chúng ta biến nguy thành an, hóa giải được mọi âm mưu “chia rẽ, phá hoại” của kẻ thù. Ngược lại, mất đoàn kết dù chỉ cục bộ cũng làm suy yếu sức mạnh, thậm chí tiêu tan thành quả cách mạng. Vì vậy, xây dựng và giữ gìn đoàn kết luôn phải là mối quan tâm hàng đầu của mọi tổ chức cách mạng chân chính.

Đoàn kết là chiến lược xuyên suốt của Đảng
Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên định đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đó vừa là mục tiêu vừa là nguồn sức mạnh quyết định thắng lợi sự nghiệp cách mạng. Đảng luôn xác định giữ vững đoàn kết nội bộ là nguyên tắc sống còn trong công tác xây dựng Đảng. Trong suốt tiến trình cách mạng, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị nhằm củng cố và phát huy sức mạnh đoàn kết. Ngay từ năm 1943, Đảng đã đề ra Đề cương văn hóa Việt Nam với ba nguyên tắc vận động, trong đó có “đại chúng hóa” – tức mọi việc phải vì lợi ích đại chúng, quy tụ được đông đảo quần chúng tham gia. Ngày 03/02/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”[2] đã cảnh báo thói bè phái, địa phương chủ nghĩa là kẻ thù của đoàn kết, cần kiên quyết quét sạch. Trước lúc đi xa, trong Di chúc (1969), Người tha thiết căn dặn Đảng ta phải giữ gìn sự đoàn kết thống nhất như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Thực hiện lời dạy đó, Đảng xác định giữ vững đoàn kết nội bộ là nguyên tắc sống còn, là yêu cầu hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng. Sức mạnh của một dân tộc chính là sự đoàn kết, thống nhất giữa chính quyền và người dân.

Đảng ta đã ban hành những nghị quyết chuyên đề về phát huy sức mạnh đại đoàn kết. Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX số 23-NQ/TW (2003) lần đầu đề ra nhiệm vụ “phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Sau 20 năm, đến Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII (năm 2023), Đảng tiếp tục ban hành Nghị quyết 43-NQ/TW (2023) về tăng cường truyền thống và sức mạnh đại đoàn kết trong giai đoạn mới. Nghị quyết 43 một lần nữa khẳng định: Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, là đường lối chiến lược xuyên suốt của Đảng; là nguồn sức mạnh to lớn, nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết cũng chỉ ra rằng đoàn kết trong Đảng chính là hạt nhân để xây dựng đoàn kết trong cả hệ thống chính trị và toàn xã hội: trước hết nội bộ Đảng, từ Trung ương đến cơ sở, phải thật sự thống nhất ý chí và hành động; mỗi cán bộ, đảng viên đặt lợi ích chung lên trên hết, chấp hành nghiêm kỷ luật, ngăn chặn mọi biểu hiện bè phái, “lợi ích nhóm” gây tổn hại đoàn kết.

Đòi hỏi tất yếu của đổi mới
Đất nước ta đang tiến hành quyết liệt chủ trương đổi mới mà Đảng ta đã đề ra từ Đại hội lần thứ VI, cải cách mạnh mẽ tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; sắp xếp lại đơn vị hành chính các cấp và triển khai vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Mục tiêu là tinh giản bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, quản trị nhà nước, đồng thời thực hiện phân cấp, phân quyền mạnh mẽ hơn cho địa phương. Mô hình này không chỉ cắt bỏ cấp trung gian không cần thiết, mà điều quan trong hơn là tổ chức lại không gian cho phát triển bền vững, để chính quyền gần dân, sát dân, vì dân, phục vụ nhân dân được tốt hơn; Trung ương cũng phân định rõ thẩm quyền và trao quyền chủ động nhiều hơn cho chính quyền địa phương để mỗi nơi năng động, sáng tạo, phát triển phù hợp thực tiễn.

Từ Trung ương đến địa phương đều đang vào cuộc quyết liệt, đồng bộ với mục tiêu kép: vừa tinh gọn bộ máy, vừa nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, phục vụ Nhân dân tốt hơn, để đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện. Tuy nhiên, việc tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; sắp xếp lại đơn vị hành chính cũng tác động, ảnh hưởng đến một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức… điều đó đòi hỏi sự công minh, đồng thuận và quyết tâm chính trị rất cao và đặc biệt là sự hy sinh lợi ích cá nhân. Nếu thiếu đoàn kết thống nhất từ trên xuống dưới, quá trình thực hiện sẽ rất dễ phát sinh vướng mắc, bất cập. Do đó, đoàn kết trong toàn hệ thống chính trị chính là chìa khóa thành công của cải cách này. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Trung ương và chính quyền địa phương để kịp thời tháo gỡ khó khăn; sự đồng lòng của đội ngũ cán bộ, công chức và Nhân dân sẽ tạo nền tảng ổn định triển khai hiệu quả mô hình mới. Chưa bao giờ yêu cầu “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt” trong bộ máy của hệ thống chính trị lại quan trọng như lúc này.

Trong quá trình sắp xếp, tổ chức lại bộ máy, việc thiếu đoàn kết có thể làm nảy sinh nhiều thách thức và nguy cơ chia rẽ. Trước hết là lo ngại trong đội ngũ cán bộ, bởi khi sáp nhập, một số người sẽ mất vị trí hoặc phải chuyển đổi công tác. Nếu không có những chính sách rõ ràng và hợp lý dành cho số cán bộ bị ảnh hưởng do quá trình tổ chức lại hệ thống, rất dễ phát sinh tâm lý tiêu cực, trạng thái “bằng mặt không bằng lòng”, gây mất đoàn kết nội bộ. Bên cạnh đó, tâm lý cục bộ địa phương cũng là một vấn đề đáng lưu ý, bởi mỗi cá nhân đều có tình cảm đặc biệt và niềm tự hào với quê hương, bản quán hay nơi mình đã từng gắn bó. Khi sáp nhập địa phương, những băn khoăn về tên gọi mới, vị trí trụ sở, hay việc phân bổ nhân sự dễ tạo nên tâm lý so sánh thiệt hơn, cản trở quá trình hợp nhất. Thêm vào đó, khác biệt về văn hóa, tập quán và trình độ phát triển giữa các đơn vị hành chính cũng đặt ra thách thức lớn. Việc sáp nhập giữa tỉnh miền núi với tỉnh đồng bằng, hay giữa tỉnh “giàu“ với tỉnh “nghèo“ đòi hỏi đội ngũ lãnh đạo phải thực sự công tâm và có tầm nhìn, nhằm bảo đảm cân đối nguồn lực và hài hòa lợi ích phát triển. Thiếu công bằng trong phân bổ nguồn lực rất dễ dẫn tới bất bình đẳng vùng miền, làm rạn nứt khối đoàn kết chung. Trong khi đó, các thế lực thù địch luôn sẵn sàng lợi dụng những khó khăn này để tung tin xuyên tạc, gây chia rẽ giữa Đảng, chính quyền với nhân dân. Nếu cán bộ, đảng viên và nhân dân thiếu cảnh giác sẽ mắc phải những âm mưu chống phá đó, làm ảnh hưởng lớn đến mục tiêu sắp xếp bộ máy và ổn định, phát triển đất nước.

Tóm lại, thiếu đoàn kết, đồng thuận sẽ làm chệch hướng hoặc kìm hãm hiệu quả vận hành bộ máy. Bởi vậy, giữ gìn đoàn kết chính là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu – là điều kiện tiên quyết để mọi công việc cải cách khác diễn ra thuận lợi. Để giữ gìn và củng cố đoàn kết trong không gian phát triển mới, cần triển khai đồng bộ một số giải pháp quan trọng sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo và chỉ đạo thống nhất. Trong giai đoạn sắp xếp bộ máy của hệ thống chính trị, vai trò lãnh đạo tập trung từ Trung ương đến địa phương phải được duy trì và phát huy cao độ. Các cấp ủy, chính quyền cần bảo đảm sự thống nhất trong triển khai các Nghị quyết, Kết luận, Chỉ thị, Hướng dẫn của Trung ương, tránh tình trạng cục bộ, tự ý làm trái quy định chung. Đồng thời, cần phát huy tối đa vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội trong việc tập hợp, vận động nhân dân, tạo sự đồng thuận sâu rộng. Mọi chủ trương, chính sách khi xây dựng và thực hiện đều phải đặt lợi ích của nhân dân làm trung tâm, gắn kết chặt chẽ mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân, làm sao để nhân dân hiểu, tin tưởng, đồng tình và tích cực ủng hộ.

Hai là, đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự là tấm gương về giữ gìn đoàn kết nội bộ, luôn đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân. Việc sắp xếp, bố trí cán bộ sau sáp nhập phải được tiến hành một cách công khai, minh bạch, bảo đảm công bằng, đúng tiêu chí, kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện bè phái, “lợi ích nhóm”, hay tư tưởng cục bộ vùng miền. Song song với đó, kỷ luật hành chính cần được tăng cường mạnh mẽ nhằm ngăn ngừa và chấn chỉnh kịp thời những biểu hiện tiêu cực, trì trệ trong thời gian chuyển tiếp. Đặc biệt, phải thường xuyên biểu dương, khen thưởng những cá nhân, tập thể hy sinh lợi ích riêng vì đại cục, tạo động lực và lan tỏa tinh thần đoàn kết, vì lợi ích chung trong toàn hệ thống.

Ba là, tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích và công bằng xã hội, góp phần củng cố đoàn kết trong quá trình tái cơ cấu. Cần tiếp tục xây dựng, ban hành và thực thi các chính sách hỗ trợ hợp lý, thiết thực đối với các địa phương và cán bộ chịu tác động trực tiếp từ quá trình sáp nhập, từ các chính sách hỗ trợ tài chính, phụ cấp, động viên, khen thưởng, khuyến khích… đến công tác an sinh xã hội, đầu tư hạ tầng cho các địa phương mới sáp nhập. Ngoài ra, cần rà soát, chỉnh sửa và bổ sung kịp thời các quy định pháp luật liên quan, bảo đảm tính đồng bộ, rõ ràng và dễ thực hiện, giảm tối đa các vướng mắc pháp lý. Công tác giám sát, kiểm tra việc thực thi các quy định pháp luật phải được tăng cường, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm nhằm giữ vững kỷ cương phép nước, tạo dựng niềm tin và sự đồng thuận rộng rãi trong nhân dân.

Bốn là, đẩy mạnh công tác tư tưởng, tuyên truyền sâu rộng trong toàn thể cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về ý nghĩa, lợi ích của việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy, giúp mọi người hiểu rõ đây là chủ trương đúng đắn, cần thiết và có lợi cho phát triển lâu dài của đất nước, từ đó đồng lòng, tự giác thực hiện. Việc tuyên truyền cần kết hợp hiệu quả giữa giáo dục lịch sử, truyền thống đoàn kết toàn dân tộc với việc giải thích rõ ràng các chủ trương cụ thể, minh bạch thông tin về lộ trình và các vấn đề nhân sự, tài chính liên quan đến sáp nhập. Đồng thời, phải chủ động đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, ngăn chặn kịp thời những tin đồn gây mất ổn định xã hội. Đặc biệt, cần tăng cường đối thoại trực tiếp giữa lãnh đạo với nhân dân, giúp giải tỏa những băn khoăn, nghi ngờ, củng cố vững chắc niềm tin và sự đoàn kết trong toàn xã hội.

Năm là, phát huy mạnh mẽ “tính Đảng” và bản lĩnh chính trị trong mỗi tổ chức Đảng và từng đảng viên. Mọi cán bộ, đảng viên cần phải kiên định đặt lợi ích chung của đất nước, của Đảng lên trên hết, chấp hành nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ và kỷ luật Đảng. Những ý kiến khác biệt trong nội bộ cần được đưa ra thảo luận dân chủ, thẳng thắn và xây dựng; sau khi đã thống nhất thì phải đoàn kết, nghiêm túc thực hiện, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng bè phái, cục bộ địa phương, gây rạn nứt đoàn kết nội bộ. Người đứng đầu các tổ chức Đảng phải là trung tâm đoàn kết, là hạt nhân gương mẫu trong việc giải quyết hài hòa các mâu thuẫn phát sinh, đồng thời luôn cảnh giác cao độ và kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu chia rẽ, phá hoại của các thế lực thù địch. Chỉ khi thống nhất về tư tưởng và hành động từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, khối đoàn kết toàn Đảng và toàn dân mới thực sự vững chắc, tạo nên sức mạnh để hoàn thành tốt nhiệm vụ sắp xếp lại bộ máy, đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới.

Đoàn kết đã, đang và sẽ mãi là sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam. Trong giai đoạn chuyển mình sắp xếp lại bộ máy đầy thách thức hiện nay, tinh thần ấy càng phải được quán triệt sâu sắc và phát huy cao độ. Lịch sử giao cho chúng ta nhiệm vụ hết sức quan trọng là kiến tạo một bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong thời kỳ mới. Để hoàn thành nhiệm vụ đó, không có “vũ khí” nào lợi hại và hiệu quả hơn sự đồng tâm nhất trí của cả hệ thống chính trị và sự ủng hộ của toàn dân. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công, đại thành công!”.

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, với bản lĩnh và trí tuệ tập thể cùng truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc vững chắc, công cuộc tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; sắp xếp lại đơn vị hành chính và vận hành chính quyền địa phương hai cấp nhất định sẽ đạt được kết quả tốt đẹp, tạo tiền đề đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra. Sức mạnh của đoàn kết một lần nữa sẽ giúp chúng ta vượt qua mọi trở ngại, biến thách thức thành cơ hội, đưa đất nước vững vàng tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phồn vinh, thịnh vượng, hội nhập và phát triển bền vững vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của Nhân dân./.

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 9, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 145

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 15, tr 546.

01/07/2025

Chính sách miễn, hỗ trợ học phí góp phần nâng cao chất lượng giáo dục

Ngày 26/6, Quốc hội thông qua Nghị quyết về miễn, hỗ trợ học phí đối với trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục phổ thông trong cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Với chính sách nhân văn này, sẽ góp phần quan trọng để tạo sự công bằng và nâng cao chất lượng giáo dục tại các địa phương.

Theo nghị quyết, đối với cơ sở giáo dục công lập, trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục phổ thông trong các cơ sở giáo dục công lập được Nhà nước miễn toàn bộ học phí. Trong khi đó, mầm non, học sinh phổ thông học tập tại các cơ sở giáo dục dân lập, tư thục, được Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí để đóng học phí. Mức hỗ trợ do hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định, căn cứ theo khung học phí do Chính phủ quy định, nhưng không vượt quá mức thu học phí của cơ sở giáo dục dân lập, tư thục.

Như vậy, ngoài việc miễn học phí trong các cơ sở giáo dục công lập, Nhà nước sẽ hỗ trợ học phí đối với cả trẻ em mầm non, học sinh phổ thông tại cơ sở giáo dục dân lập, tư thục nhằm bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục, thể hiện tính ưu việt của chế độ và thực thi chính sách thống nhất, công bằng đối với người học; khuyến khích phát triển giáo dục ngoài công lập, tăng cường xã hội hóa giáo dục.

Ngay sau khi nhận được thông tin chính thức được miễn, hỗ trợ học phí từ năm học 2025-2026, chị Mai Thị Nhung, trú tại xã Đại Đồng, huyện Đông Anh, hiện đang là công nhân ở khu công nghiệp Bắc Thăng Long (Hà Nội) vui mừng cho biết, gia đình chị có hai con đang trong độ tuổi đi học, một cháu là sinh viên năm nhất, một cháu năm học 2025-2026 bước vào lớp 8.

Chị là một trong những gia đình thuộc diện khó khăn tại địa phương, vì cách đây bảy năm, sau khi ly hôn, một mình chị nuôi hai con với nhiều áp lực cuộc sống và áp lực kinh tế. Những năm qua, lương công nhân của chị một tháng được hơn 9 triệu đồng. Trong khi đó, chi phí cho việc học tập của các con chiếm hơn một phần hai số lương hằng tháng của chị. Số tiền còn lại, hằng tháng chị còn trả tiền thuê nhà, tiền điện, nước… cho nên cuộc sống gặp rất nhiều khó khăn. Nhận được tin miễn, hỗ trợ học phí của Nhà nước, chị có cảm giác vui mừng và tin rằng, năm nay sẽ bớt lo toan, vất vả để yên tâm nuôi dạy con cái.

Mặc dù sinh sống ở quận nội thành Hà Nội, nhưng gia đình anh Bùi Anh Tuấn (phường Cát Linh, quận Đống Đa) thường xuyên gặp áp lực về kinh tế mỗi khi đến tháng đóng tiền học cho con, nhất là ba năm gần đây, khi hai người con của vợ chồng anh bước vào cấp học trung học cơ sở với nhiều chi phí đóng góp. Để có tiền chi trả tiền nhà, đóng học phí, thời gian qua, anh Tuấn tăng thời gian chạy Grab từ 8 tiếng lên 12 tiếng mỗi ngày, với mong muốn có thêm thu nhập để đóng tiền học cho con. Nhận được tin miễn, hỗ trợ học phí, anh muốn gửi lời cảm ơn đến Đảng, Nhà nước đã quan tâm, có chính sách nhân văn hỗ trợ gia đình anh và các gia đình có con trong độ tuổi đi học.

Cô giáo Trần Thu Hằng, Hiệu trưởng Trường mầm non xã Đại Đồng (huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái) cho biết, ngôi trường nơi cô công tác thuộc xã miền núi, có nhiều con em dân tộc, điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, được miễn học phí thì tỷ lệ huy động trẻ ra lớp rất thuận lợi, chứ như những năm trước thì không đạt theo yêu cầu. Năm học 2024-2025 vừa qua, tỷ lệ huy động trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi ra lớp của trường đạt 100%, trẻ 3 tuổi đạt 95%, riêng nhà trẻ đạt rất thấp, hơn 20%. Được nhà nước quan tâm, cô Hằng tin rằng, không chỉ phụ huynh phấn khởi mà giáo viên cũng phấn khởi, có thêm những thuận lợi, không phải đến từng nhà vận động học sinh rất vất vả như trước đây, công tác tuyển sinh sẽ đạt kế hoạch đề ra.

Trong khi đó, cô giáo Trần Lệ Khanh, Hiệu trưởng Trường THCS Lĩnh Nam (quận Hoàng Mai, Hà Nội) khẳng định, việc miễn, hỗ trợ học phí cho học sinh mầm non, phổ thông là quyết định tạo được sự đồng thuận cao trong xã hội. Điều này đã tác động tích cực, tạo tâm lý phấn khởi trong nhân dân, phụ huynh học sinh. Theo cô Khanh, mặc dù ở quận nội thành, nhưng thực tế học sinh nơi đây vẫn thuộc gia đình thuần nông, nhiều gia đình có thu nhập ở mức thấp, một bộ phận dân cư làm nông nghiệp hoặc buôn bán nhỏ lẻ. Khi được hưởng chính sách này, chắc chắn sẽ tạo được sự đồng thuận, ủng hộ, phấn khởi của nhân dân. Nhiều năm nay, trường cũng quan tâm đến học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Theo quy định, trước đây, nhà nước chỉ miễn học phí cho học sinh thuộc hộ nghèo, cận nghèo, giảm học phí cho con thương binh, gia đình chính sách, còn lại những cháu có hoàn cảnh khó khăn nhưng không thuộc các đối tượng nêu trên thật sự cũng rất khó giải quyết. Vì vậy, thời gian qua, nhà trường chủ động phối hợp các doanh nghiệp trên địa bàn phường, Hội Phụ nữ quận Hoàng Mai tặng các suất học bổng tương đương học phí năm học cho học sinh.

Đề cập vấn đề miễn, hỗ trợ học phí tác động như thế nào đến việc nâng cao chất lượng giáo dục, theo TS Nguyễn Tùng Lâm, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Tâm lý Giáo dục Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng giáo dục, Trường trung học phổ thông Đinh Tiên Hoàng (Hà Nội), đây là tin vui mà nhân dân mong chờ nhiều năm nay. Ở góc độ chuyên gia, TS Nguyễn Tùng Lâm cho rằng, đây là chủ trương nhân văn của Đảng, Nhà nước. Nhiều năm nay, chủ trương của Đảng, Nhà nước, ngoài việc xóa mù chữ, thì vấn đề phổ cập giáo dục, nhất là giáo dục mầm non, phổ thông rất được coi trọng. Với chính sách này, ngành giáo dục và các địa phương sẽ có điều kiện làm giáo dục “từ gốc”, tức là phải bảo đảm giáo dục từ mầm non, tiểu học đến trung học cơ sở, trung học phổ thông thật tốt, đấy là bảo đảm sự công bằng cho giáo dục, cho tất cả học sinh.

Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn cho biết, trong khi tiềm lực kinh tế của đất nước còn nhiều khó khăn, còn nhiều nhiệm vụ phải đầu tư, nhưng Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, Quốc hội đã thống nhất để thực hiện việc miễn học phí. Có thể khẳng định, đây chính là thể hiện sự quan tâm, nỗ lực trong việc phát triển giáo dục và tạo điều kiện cho trẻ em được tiếp cận với giáo dục và đỡ gánh nặng cho phụ huynh…

THẢO TIÊN

Học sinh Trường trung học cơ sở Giảng Võ (Ba Đình, Hà Nội) trong giờ học mô hình trường học số.

27/06/2025

Nhận thức đúng đắn vai trò quan trọng của hệ thống tư pháp quân sự

Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoạt động tư pháp giữ vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần bảo đảm công lý, kỷ cương pháp luật và quyền con người.

Trong Quân đội nhân dân Việt Nam, hoạt động tư pháp quân sự có vai trò quan trọng trong việc duy trì và tăng cường kỷ luật, bảo vệ bí mật quân sự, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội. Tuy nhiên, hiện nay có một số ý kiến, nhận định mang tính phiến diện, nhằm hạ thấp vai trò của hoạt động tư pháp quân sự, sâu xa có thể làm suy yếu nền quốc phòng toàn dân. Về vấn đề này, phóng viên Báo Quân đội nhân dân có cuộc trao đổi với Trung tướng, PGS, TS Trần Văn Độ, nguyên Phó chánh án Tòa án Nhân dân (TAND) Tối cao, nguyên Chánh án Tòa án Quân sự (TAQS) Trung ương, nguyên đại biểu Quốc hội khóa XII, XIII.

Phóng viên (PV): Có ý kiến cho rằng,“hoạt động tư pháp trong Quân đội là không cần thiết, trùng lặp với hệ thống tư pháp dân sự”, “các cơ quan tư pháp Quân đội thiếu tính độc lập, dễ bị chi phối bởi cấp trên trong Quân đội”. Quan điểm của đồng chí về vấn đề này?

Trung tướng, PGS, TS Trần Văn Độ: Đây là những ý kiến nhận định, đánh giá phiến diện, thiếu căn cứ và không phản ánh đúng thực tiễn cũng như vai trò thiết yếu của hệ thống tư pháp trong Quân đội đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng vững mạnh để bảo vệ Tổ quốc. Các cơ quan thuộc hệ thống tư pháp trong Quân đội được thiết lập từ những ngày đầu sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công cho đến ngày nay để phù hợp với đặc thù tổ chức, nhiệm vụ, hoạt động của Quân đội, nhưng vẫn áp dụng chung Bộ luật Hình sự, theo các thủ tục được Bộ luật Tố tụng hình sự quy định mà các cơ quan tiến hành tố tụng trong và ngoài Quân đội phải tuân thủ mà không có ngoại lệ. Đặc biệt, các cơ quan trong hệ thống tư pháp quân sự vẫn chịu sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện về mọi mặt của Đảng. Việc hình thành hệ thống tư pháp quân sự như hiện nay là xuất phát từ tình hình đất nước nói chung và đặc thù tổ chức, hoạt động của Quân đội nói riêng.

Nhìn rộng ra thế giới, hệ thống tư pháp quân sự đã tồn tại từ lâu, thậm chí ở một số quốc gia như Hoa Kỳ, TAQS còn xử lý các vụ kiện dân sự mà gia đình quân nhân là đương sự để bảo vệ hậu phương tốt, giúp quân nhân yên tâm công tác. Các quốc gia khác như: Nga, Trung Quốc, Pháp, Italy, Đức... cũng đều có hệ thống tư pháp quân sự với thẩm quyền tương tự Việt Nam và hoạt động rất hiệu quả.

Như vậy, ý kiến cho rằng “hệ thống tư pháp trong Quân đội là không cần thiết, trùng lặp với hệ thống tư pháp dân sự”, “các cơ quan tư pháp Quân đội thiếu tính độc lập, dễ bị chi phối bởi cấp trên trong Quân đội” không chỉ thiếu tôn trọng sự thật mà còn nhằm mục đích chia rẽ nội bộ, làm suy yếu Quân đội, suy yếu nền quốc phòng toàn dân và hạ thấp uy tín của Quân đội.

PV: Vậy đâu là những cơ sở pháp lý khẳng định vị trí, vai trò, tầm quan trọng của hoạt động tư pháp trong Quân đội, thưa đồng chí?

Trung tướng, PGS, TS Trần Văn Độ: Tại Việt Nam, lịch sử tư pháp Quân đội gắn liền với lịch sử cách mạng. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 33-C ngày 13-9-1945 về thành lập các TAQS tiền thân của TAND ngày nay. Tại điều II, Sắc lệnh nêu rõ: TAQS sẽ xử tất cả các người nào vi phạm vào một việc gì có phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trừ khi phạm nhân là binh sĩ thì thuộc về nhà binh tự xử lấy theo quân luật.

Điều 102, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”. Hệ thống TAND gồm TAND Tối cao và các tòa án khác, bao gồm cả TAQS-một bộ phận đặc thù nhưng không tách rời của hệ thống tư pháp.

Về tổ chức, TAQS gồm 3 cấp: TAQS Trung ương, các TAQS quân khu và các TAQS khu vực, thay cho các TAQS quân đoàn, quân chủng, binh chủng trước đây để không phụ thuộc vào người chỉ huy. Việc thành lập các TAQS khu vực thay cho tòa án các đơn vị theo Chiến lược cải cách tư pháp là khuôn mẫu để thành lập các tòa án khu vực trong phạm vi cả nước ngày nay.

Về thẩm quyền xét xử, các TAQS xét xử: Các vụ án do quân nhân, người khác do Quân đội trực tiếp quản lý thực hiện; các vụ án do người khác thực hiện xâm phạm sức mạnh chiến đấu Quân đội như gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe của quân nhân, gây thiệt hại cho vũ khí, khí tài và tài sản của Quân đội; xâm phạm bí mật quân sự và các vụ án xảy ra trong khu vực có bảo vệ của Quân đội...

Đồng bộ với các TAQS là hệ thống cơ quan điều tra trong Quân đội và viện kiểm sát quân sự với tổ chức và thẩm quyền xuất phát và đồng bộ với TAQS.

Những quy định pháp luật trên cho thấy hệ thống tư pháp trong Quân đội được pháp luật tổ chức chặt chẽ, bảo đảm nguyên tắc độc lập tư pháp, đúng quy trình, đầy đủ quyền hạn. Quy định về hệ thống tổ chức và thẩm quyền của hệ thống tư pháp quân sự như vậy là để góp phần tăng cường kỷ luật, bảo vệ sức mạnh chiến đấu của Quân đội, bảo vệ bí mật quân sự, từ đó bảo vệ, tăng cường tiềm lực quốc phòng của đất nước. Vì vậy, việc cho rằng hợp nhất tư pháp Quân đội vào tư pháp dân sự là thiếu khoa học, không phù hợp thực tiễn, không đáp ứng yêu cầu của chính sách quốc phòng của nước ta.

Thực tế cho thấy, qua một số vụ việc, với sự vào cuộc tích cực của các cơ quan điều tra hình sự trong Quân đội, viện kiểm sát quân sự, TAQS là minh chứng cho tính nghiêm minh trong Quân đội-điều mà các thế lực thù địch thường tìm cách xuyên tạc.

PV: Hiện nay Đảng và Nhà nước đang đẩy mạnh sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Theo đồng chí, trong bối cảnh đó, hệ thống tư pháp trong Quân đội cần được điều chỉnh ra sao cho phù hợp?

Trung tướng, PGS, TS Trần Văn Độ: Tinh gọn bộ máy là chủ trương lớn, đúng đắn của Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả. Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với việc “cào bằng” hay giản lược một cách cơ học. Đặc biệt, đối với hệ thống tư pháp trong Quân đội vốn hoạt động trong môi trường có tính đặc thù cao thì càng phải được cân nhắc kỹ lưỡng, thấu đáo, tránh mọi sự nóng vội, chủ quan, duy ý chí.

Hệ thống tư pháp Quân đội là một phần không thể tách rời của hệ thống tư pháp quốc gia. Vai trò của nó không chỉ là điều tra, truy tố, xét xử các hành vi vi phạm pháp luật trong nội bộ Quân đội mà còn góp phần giữ vững kỷ luật, bảo đảm sự trong sạch, nghiêm minh của Quân đội. Cho nên, trong xu thế tinh gọn, hệ thống tư pháp Quân đội cần được điều chỉnh theo hướng tổ chức hợp lý hơn chứ không phải bị xem nhẹ hay thu hẹp một cách máy móc.

Chúng ta cần tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong điều tra, kiểm sát, xét xử, giúp tiết kiệm nguồn lực nhưng vẫn kiểm soát chặt chẽ. Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan tư pháp trong và ngoài Quân đội để xử lý những vụ án có yếu tố dân sự-quân sự lồng ghép một cách hiệu quả, nhưng không làm mờ nhạt vai trò của hệ thống tư pháp Quân đội.

PV: Để hệ thống tư pháp Quân đội thực sự tinh gọn mà vẫn hoạt động hiệu lực, hiệu quả, theo đồng chí cần chú trọng những vấn đề gì trong thời gian tới?

Trung tướng, PGS, TS Trần Văn Độ: Theo tôi, cần tập trung vào 3 vấn đề then chốt. Trước hết, cần giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội, trong đó có tổ chức tư pháp trong Quân đội. Đây là nền tảng chính trị bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất, xuyên suốt, bao trùm của Đảng.

Thứ hai là tổ chức lại bộ máy theo hướng “tinh nhưng không yếu”, “gọn nhưng không thiếu”, tránh tình trạng cắt xén gây ra khoảng trống pháp lý hoặc rối loạn chức năng của hệ thống tư pháp trong Quân đội.

Thứ ba là tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tư pháp trong Quân đội, để mỗi cán bộ làm công tác tư pháp trong Quân đội không chỉ là người “gác cổng pháp luật” mà còn là chỗ dựa pháp lý cho cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân.

Qua đây, tôi mong rằng, các cấp lãnh đạo khi xem xét, quyết định các vấn đề liên quan đến hệ thống tư pháp trong Quân đội cần bảo đảm tính kế thừa giữa lịch sử và hiện tại, phù hợp với xu thế phát triển của thế giới. Trong đó, cần xác định rõ ràng sự đóng góp của hệ thống tư pháp trong Quân đội đối với nhiệm vụ bảo vệ sức mạnh và khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội.

Các cấp có thẩm quyền, các cơ quan chức năng cần đẩy mạnh tuyên truyền, có tiếng nói mạnh mẽ hơn để giải thích rõ ràng, bác bỏ những luận điệu thiếu căn cứ, giúp cho người dân hiểu đúng về vị trí, vai trò và sự cần thiết của việc duy trì hệ thống tư pháp trong Quân đội. Phải làm sao để người dân thấy rằng, những quan điểm, nhận định, ý kiến nhằm hạ thấp vai trò của tư pháp quân sự là không có cơ sở chính trị, lý luận, pháp lý và thực tiễn.

Tóm lại, hệ thống tư pháp quân sự ở Việt Nam có lịch sử lâu đời, được tổ chức và hoạt động độc lập, hiệu quả, đóng vai trò then chốt trong việc bảo vệ bí mật quân sự, tăng cường sức mạnh quốc phòng và khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội.

Nằm trong xu thế chung của nhiệm vụ xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh”, chính quy, hiện đại hiện nay, việc tinh gọn bộ máy tư pháp trong Quân đội là cần thiết nhưng vẫn phải phải bảo đảm duy trì và nâng cao hiệu quả hoạt động của thiết chế tư pháp quan trọng này, đồng thời tuân thủ nghiêm ngặt sự lãnh đạo của Đảng, của Quân ủy Trung ương, chỉ đạo của Bộ Quốc phòng đối với hoạt động tư pháp trong Quân đội.

PV: Trân trọng cảm ơn đồng chí!

VĂN HÓA (thực hiện)

Want your business to be the top-listed Government Service in Ha-Nam?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Telephone

Address


Đường Trần Nhật Duật, Phủ Lý, Hà Nam
Ha-Nam