Chùa Tiên Phúc - Đống Đa - Hà Nội

Chùa Tiên Phúc - Đống Đa - Hà Nội

Share

Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Chùa Tiên Phúc - Đống Đa - Hà Nội, Landmark & historical place, số 152, Nguyễn Khuyến, Văn Miếu, Đống Đa, Hanoi.

Chùa có tên chữ là “Tiên Phúc tự” (nghĩa là chùa được Tiên ban phúc, có Tiên giáng thế), nhưng nhân dân địa phương vẫn quen gọi chùa bằng cái tên Nôm là chùa Bà Nành

Photos from Chùa Tiên Phúc - Đống Đa - Hà Nội's post 30/12/2021

HƯỚNG DẪN HÀNH LỄ TẠI ĐÌNH, ĐỀN, MIẾU, PHỦ:
Theo tập tục văn hoá truyền thống, ở mỗi tỉnh thành, làng, xã Việt Nam đều có các Đình, Đền, Miếu, Phủ là nơi thờ tự Thần linh, Thành Hoàng, Thánh Mẫu.
Các vị Thần linh, Thành Hoàng, Thánh Mẫu là các bậc tiền nhân đã có công với cộng đồng làng xã, dân tộc trong lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước của người Việt Nam.
Ngày nay, theo nếp xưa người Việt Nam ở khắp mọi miền đất nước hàng năm vẫn đi lễ, đi trẩy Hội ở các Đình, Đền, Miếu, Phủ vào các ngày lễ, tết, tuần tiết, sóc, vọng và ngày Hội, để tỏ lòng tôn kinh, ngưỡng mộ biết ơn các bậc Tôn thần đã có công với đất nước.
Đình, Đền, Miếu, Phủ cùng với sự lưu truyền sự linh diệu của các thần trong nhiều trường hợp đã đi vào trang sử oai hùng của dân tộc Việt Nam góp phần không nhỏ vào việc duy trì tình cảm yêu nước.
Nơi thờ tự Đình, Đền, Miếu, Phủ còn là những nơi sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng. Con người hy vọng rằng bằng những hành vi tín ngưỡng, có thể cầu viện đấng Thần linh phù hộ cho bản thân, cùng gia đình, cộng đồng được an khang, thành đạt và thịnh vượng, yên bình, biến hung thành cát, giải trừ tội lỗi…
SẮM LỄ
Theo phong tục cổ truyền khi đến Đình, Đền, Miếu, Phủ nên có lễ vật có thể to, nhỏ, nhiều, ít, sang, mọn tuỳ tâm. Mặc dù ở những nơi này thờ Thánh, Thần, Mẫu nhưng người ta vẫn có thể sắm các lễ chay như hương hoa quả, oản,… để dâng cũng được.
1. Lễ Chay: Gồm hương hoa, trà, quả, phẩm oản… dùng để lễ ban Phật, Bồ Tát (nếu có).
Lễ chay cũng dùng để dâng ban Thánh Mẫu. Trong trường hợp này sắm thêm một số hàng mã để dâng cũng như: tiền, vàng, nón, hia…
2. Lễ Mặn: Gồm gà, lợn, giò, chả… được làm cẩn thận, nấu chín. Nếu có lễ này thì đặt bàn thờ Ngũ vị quan lớn tức là ban công đồng.
3. Lễ đồ sống: Gồm trứng, gạo, muối hoặc thịt mồi (một miếng thịt lợn khoảng vài lạng)
Đây là lễ dành riêng cho việc dâng cúng quan Ngũ Hổ, Bạch xà, Thanh xà đặt ở hạ ban Công Đồng Tứ phủ.
Theo lễ thường thì gồm 5 quả trứng vịt sống đặt trong một đĩa muối, gạo, hai quả trứng gà sống đặt trong hai cốc nhỏ, một miếng thịt mồi được khía (không đứt rời) thành năm phần, để sống.
Kèm theo lễ này cũng có thêm tiền vàng.
4. Cỗ mặn sơn trang: Gồm những đồ đặc sản Việt Nam: cua, ốc, lươn, ớt, chanh quả… Nếu có gạo nếp cẩm nấu xôi chè thì cũng thuộc vào lễ này.
Theo lệ thường, khi sắm lễ mặn sơn trang, người ta thường sắm theo con số 15: 15 con ốc, cua, 15 quả ớt, chanh hoặc có thể chỉ cần 1 quả nhưng được khía ra làm 15 phần… Con số 15 này tương ứng với 15 vị được thờ tại ban sơn trang: 1 vị chúa, 2 vị hầu cận, 12 vị cô sơn trang
5. Lễ ban thờ cô, thờ cậu: Thường gồm oản, quả, hương hoa, hia, hài, nón, áo… (đồ hàng mã) gương, lược… Nghĩa là những đồ chơi mà người ta thường làm cho trẻ nhỏ. Nhưng lễ vật này cầu kỳ, nhỏ, đẹp và được bao trong những túi nhỏ xinh xắn, đẹp mắt.
6. Lễ thần Thành Hoàng, Thư điền: Thường dùng lễ mặn: chân giò lợn luộc, xôi, rượu, tiền, vàng…
TRÌNH TỰ DÂNG LỄ
– Theo lệ thường, người ta lễ thần Thổ địa, thủ Đền trước, gọi là lễ trình. Gọi là lễ trình vì đó là lễ cáo Thần linh Thổ Địa nơi mình đến dâng lễ. Người thực hành tín ngưỡng cáo lễ Thần linh cho phép được tiến hành lễ tại Đình, Đền, Miếu, Phủ.
Sau đó người ta sửa sang lễ vật một lần nữa. Mỗi lễ đều được sắp bày ra các mâm và khay chuyên dùng vào việc cúng lễ tại Đình, Đền, Miếu, Phủ.
– Kế đến là đặt lễ vào các ban. Khi dâng lễ phải kính cẩn dùng hai tay dâng lễ vật, đặt cẩn trọng lên bàn thờ. Cần đặt lễ vật lên ban chính trở ra ban ngoài cùng.
– Chỉ sau khi đã đặt xong lễ vật lên các ban thì mới được thắp hương.
– Khi làm lễ, cần phải lễ từ ban thờ chính đến ban ngoài cùng. Thường lễ ban cuối cùng là ban thờ cô thờ cậu.
– Thứ tự khi thắp hương:
Thắp từ trong ra ngoài
Ban thờ chính của điện được đặt theo hàng dọc, ở gian giữa được thắp hương trước.
Các ban thờ hai bên được thắp hương sau khi đã thắp xong hương ban chính ở gian giữa.
Khi thắp hương cần dùng số lẻ: 1, 3, 5, 7 nén. Thường thì 3 nén.
Sau khi hương được châm lửa thì dùng hai tay dâng hương lên ngang trán, vái ba vái rồi dùng cả hai tay kính cẩn cắm hương vào bình trên ban thờ.
Nếu có sớ tấu trình thì kẹp sớ vào giữa bàn tay hoặc đặt lên một cái đĩa nhỏ, hai tay nâng đĩa sớ lên ngang mày rồi vái 3 lần.
Trước khi khấn thường có thỉnh chuông. Thỉnh ba hồi chuông. Thỉnh chuông xong thì mới khấn lễ.
Khi tiến hành lễ dâng hương bạn có thể đọc văn khấn, sớ trình trước các ban, hoặc chỉ cần đặt văn khấn, sớ trình lên một cái đĩa nhỏ, rồi đặt vào mâm lễ dâng cúng cũng được.
Khi hoá vàng thì phải hoá văn khấn và sớ trước.

19/12/2021

Chùa có tên chữ là “Tiên Phúc tự” (nghĩa là chùa được Tiên ban phúc, có Tiên giáng thế), nhưng nhân dân địa phương vẫn quen gọi chùa bằng cái tên Nôm là chùa Bà Nành
Hiện chưa rõ chùa được dựng từ bao giờ? Các công trình nghiên cứu của một số học giả đều cho rằng chùa Bà Nành được xây dựng từ thời Lê Sơ (thế kỷ XV) để thờ Bà Nành, người đã có công xây dựng ngôi chùa. Theo truyền thuyết thì xưa kia có một bà già không rõ tên tuổi, mở một quán bán hàng nhỏ ở ngay nền chùa gần nơi các sĩ tử qua lại để vào học trường Quốc Tử Giám. Bà thường xay đậu nành chế ra các thứ chè, bánh rất thơm ngon, ai ăn cũng phải khen. Khách hàng gần xa đến thưởng thức, quán hàng trở nên phát đạt nên bà sắm được một phiến đá to làm quầy hàng. Hiện nay, phiến đá ấy vẫn còn.

Bà để dành được tiền xây ngôi chùa rất nguy nga, đặt tên ngôi chùa là “Tiên Phúc tự” ở ngay trên đất quán cũ của bà. Người đương thời cảm kích công đức ấy nên khi bà qua đời đã lấy tấm đá dùng làm quầy bán hàng khi xưa đục chạm hoa văn đặt làm bàn thờ Hậu phật cho bà ở bên ban hữu trong chùa làm kỷ niệm và gọi tên là chùa Bà Nành.

Chùa Bà Nành còn gắn với câu truyện ly kỳ của vua Lê Thánh Tông (1460-1497) từng gặp Tiên nữ tại đây. Tương truyền một lần khi vua đến thăm Trường Quốc Tử Giám, lúc đi qua chùa đã nghe thấy tiếng một ni cô đang tụng kinh. Đến khi trở về, nhà vua ghé thăm chùa, gặp ni cô. Vua cùng ni cô và nhóm quần thần bình thơ, ngâm vịnh...

Ngày nay, trong chùa còn nhiều hoành phi, câu đối nhắc đến lần gặp gỡ kỳ thú giữa vua Lê Thánh Tông và Tiên nữ, như bức Hoành phi: “Tiên Phúc tự”, “Tiên Phúc môn” (với nghĩa là chùa gặp Tiên, được Tiên ban phúc, cổng Tiên phúc…), hay đôi Câu đối ngoài cổng còn ghi:

Ngọc Hồ tả trĩ, đế thi Tiên rịch cộng lưu phương;

Tam các hữu văn, Tiên trú thánh kinh đồng đại giác

Tạm dịch là:

Núi cao bên trái hồ, vua cùng tiên đánh cờ, ngâm vịnh đẹp xiết bao

Nơi Tam các bên phải hồ, nghe Tiên cầu nguyện, đọc kinh cùng tỉnh ngộ.

Chùa có qui mô kiến trúc trang nhã, đã qua nhiều lần tu sửa, nhưng lớn nhất là vào năm Đồng Khánh Đinh Hợi (1887). Lần tu sửa này được ghi lại trên tấm bia đá tại chùa.
Ngôi chùa nằm trong vùng đất đậm đặc với nhiều loại hình di tích tôn giáo – tín ngưỡng đan xen như: Văn Miếu – Quốc Tử Giám, chùa Bà Ngô, chùa Phổ Giác, Y Miếu Thăng Long, Bích Câu Đạo Quán, đền Sòng Sơn… là những điểm thu hút khách tham quan đến chiêm bái, lễ Phật, tìm hiểu về vùng đất của đạo Nho, Phật, Lão ở kinh thành Thăng Long xưa. Ngôi chùa là nơi để mỗi người dân gửi gắm niềm tin và ước vọng về một cuộc sống thái bình, an lạc sau những ngày lao động vất vả nhằm hướng con người tới những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống.

Chùa Bà Nành đã được xếp hạng là di tích cấp Quốc gia năm 1986.

19/12/2021

Theo truyền thuyết, chùa được xây dựng để thờ một bà bán hàng – bà cụ trước kia từng bán nước và chè đậu nành cho các học sinh trường Quốc Tử Giám. Lại có truyền thuyết khác cho rằng chùa dựng đầu triều Lê (thế kỷ XV) trên nền quán hàng nước của bà. Có lần vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497) trong một lần đến thăm Quốc Tử Giám đã ghé lại chùa. Chùa được tu sửa lớn vào năm Đinh Hợi đời vua Đồng Khánh (1887). Chùa phía ngoài có tam quan, bên trong hình chuôi vồ, chia làm nơi tiếp khách và nơi bày tượng Phật.
Chùa thờ Phật và thờ Bà Nành, trong chùa còn một phiến đá hình chữ nhật, tương truyền là nơi bà cụ bày hàng để bán. Chùa Bà Nành ngoài giá trị lịch sử văn hoá tự thân, còn được coi là một di tích nằm trong quần thể Văn Miếu – Quốc Tử Giám.
Ngày 12/12/1986, chùa đã được bộ Văn hoá – Thông tin xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật.

https://chonthieng.com/dia-diem/chua-tien-phuc/

Want your business to be the top-listed Government Service in Hanoi?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Address


Số 152, Nguyễn Khuyến, Văn Miếu, Đống Đa
Hanoi
100000