Thư viện Nguyễn Văn Hưởng - NVH Library

Thư viện Nguyễn Văn Hưởng - NVH Library

Share

Một thư viện tư nhân mở cửa rộng rãi cho công chúng. Thư viện do Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng thành lập tháng 10/2019, đặt tại Quận Long Biên, Hà Nội.

Thư viện Nguyễn Văn Hưởng là một trong những thư viện tư nhân có quy mô lớn và chuyên nghiệp nhất Việt Nam, hoạt động độc lập và mở cửa rộng rãi cho công chúng. Với mong muốn góp phần xây dựng một nền tảng tri thức tiến bộ và cởi mở cho độc giả Việt Nam, Thư viện NVH là một không gian mở để độc giả tự do học tập, nghiên cứu và khám phá thông qua nguồn sách và tư liệu phong phú, đa chiều xuất bản t

05/05/2026

🍀 SỐ PHẬN NHỮNG CÔ GÁI CHÂU PHI THEO PHÁP LÊN ĐIỆN BIÊN PHỦ

Trong Chiến tranh Đông Dương, có một lực lượng gần như không xuất hiện trong các tài liệu chính thức: những “nhà thổ di động” đi theo quân đội Pháp ra chiến trường. Họ được gọi là B.M.C.

Trong cuốn Street without Joy (1961), sử gia Bernard B. Fall từng viết rằng: “Cuộc chiến này sẽ chẳng mang chất Pháp nếu phụ nữ không đóng một vai trò quan trọng trong đó”.

Vai trò ấy không chỉ dừng lại ở khoảng 80.000 phụ nữ là vợ con sĩ quan, nhân viên hành chính trong chính quyền Pháp, hay những người làm nghề dân sự như bác sĩ, giáo viên, thương nhân. Cuộc sống của người Pháp ở Việt Nam còn gắn liền với những phụ nữ có vai trò và số phận kỳ lạ hơn rất nhiều.

Trước hết phải kể đến một lực lượng mang tên B.M.C. Ban đầu, ba chữ cái này là viết tắt của Bataillon Médical de Campagne (Tiểu đoàn Quân y Chiến trường), nhưng dần dần nó lại được gắn cho một “lực lượng” khác, tên tiếng Pháp là Bo**el Mobile de Campagne – nhà thổ di động nơi chiến trường. Mặc dù bị lên án vì tính phi đạo đức và nguy cơ lây nhiễm bệnh, nhưng B.M.C vẫn tồn tại vì những lợi ích của nó.

Theo những người ủng hộ, B.M.C giúp giải quyết nhu cầu t*** d** của lính Pháp một cách có kiểm soát, nhờ đó làm giảm tình trạng đào ngũ, cưỡ*g h*ếp dân thường, thậm chí giảm cả nguy cơ mắc bệnh bởi cả binh lính và các cô gái B.M.C đều được khám sức khỏe thường xuyên.

Về mặt đạo đức, theo tác giả, các cô gái này tự nguyện tham gia B.M.C, họ chủ yếu đến từ bộ tộc Oulad-Naïl ở Algeria, và họ sẽ làm việc cho đến khi kiếm đủ tiền làm của hồi môn. Khi ấy, họ sẽ trở về làng, lấy chồng và ổn định cuộc sống.

Bernard B. Fall đã kể những câu chuyện rất sống động về các cô gái B.M.C. Ông miêu tả những đoàn xe của lính Pháp đã trở nên bớt đơn điệu khi bỗng nhiên xuất hiện trong đó một chiếc xe tải 2 tấn rưỡi chở những cô gái Oulad-Naïl ăn mặc sặc sỡ, vui vẻ buông lời đùa cợt các anh lính. Họ thường đi theo các đơn vị ra chiến trường, thậm chí một số cô còn hy sinh anh dũng khi bất đắc dĩ trở thành y tá trong đạn lửa. Mặc dù vậy, họ rất hiếm khi được công nhận chính thức.

Theo tác giả, quân đội Pháp ở Đông Dương thường giấu các nhà báo và quan chức người Mỹ về sự tồn tại của những cô gái B.M.C, nhằm tránh gây hiểu lầm rằng tiền tài trợ của Mỹ đang được sử dụng để nuôi nhà thổ phục vụ quân đội Pháp. Trên thực tế, quân đội không phải trả đồng nào cho các cô gái này, bởi người nào sử dụng “dịch vụ” của họ thì phải tự bỏ tiền túi.

Các cô gái B.M.C. cũng có mặt tại pháo đài Điện Biên Phủ và đảm nhận vai trò y tá ở chiến trường. Mặc dù họ không bao giờ được công nhận, nhưng theo lời kể của Bernard B. Fall, nhiều người lính Pháp bị thương sẽ không bao giờ quên được đôi tay chăm sóc dịu dàng của những cô gái Oulad-Naïl.

====

Mời bạn đọc toàn bài 👉 https://thuviennguyenvanhuong.vn/chien-tranh-dong-duong-va-nhung-nguoi-phu-nu-bi-nuoc-phap-lang-quen.html

04/05/2026

💥 PHÁP ĐỀ NGHỊ MỸ “GIẢ DANH” PHÁP ĐỂ NÉM BOM ĐIỆN BIÊN PHỦ

Trước tình hình quân Pháp bị áp đảo ở Điện Biên Phủ, tháng 4 năm 1954, Pháp đã liên tục thúc giục Mỹ lập tức đưa quân can thiệp để “giữ” Đông Dương.

Mỹ không muốn can thiệp đơn phương, mà kêu gọi các nước phương Tây và đồng minh cùng tham gia phòng thủ để chống lại “sự bành trướng của cộng sản ở châu Á và Đông Dương”.

Tuy nhiên, Pháp lo ngại rằng một sự dàn xếp liên minh sẽ dẫn đến việc quốc tế hóa cuộc chiến và tước quyền kiểm soát khỏi tay Pháp. Do đó, Pháp chỉ muốn được giúp đỡ ngay tại Điện Biên Phủ theo kiểu Chiến dịch Chim kền kền.

Ngày 23/4, một quan chức cấp cao của Pháp đã nói với phía Mỹ:

⚡️ Hãy dùng máy bay Mỹ để không kích Điện Biên Phủ
⚡️ Nhưng sơn phù hiệu Pháp
⚡️ Và coi như đó là máy bay của Quân đoàn Lê dương Pháp

Ý định Mỹ can thiệp vào Điện Biên Phủ cuối cùng đã tiêu tan khi tập đoàn cứ điểm thất thủ vào ngày 7/5.

📚 Mời bạn đọc một số trích đoạn trong Hồ sơ Lầu Năm Góc về những tính toán của Pháp, Mỹ và Anh đối với Điện Biên Phủ.

👉 https://thuviennguyenvanhuong.vn/ho-so-lau-nam-goc-phap-thuc-giuc-my-can-thiep-vao-dien-bien-phu.html

Ảnh: Từ Hà Nội, vợ Tướng de Castries gói ghém xà phòng, thuốc lá và thuốc trị tiêu chảy để gửi cho chồng ở Điện Biên Phủ. Nguồn: Tạp chí LIFE số ra ngày 26/4/1954

03/05/2026

🚩 CÓ MỘT TÒA ĐẠI SỨ *KHÔNG ĐƯỢC* TREO CỜ MẶT TRẬN SAU KHI SÀI GÒN THẤT THỦ

"Vài ngày sau khi Sài Gòn thất thủ năm 1975, các cán bộ cộng sản đã đi từ tòa đại sứ này đến tòa đại sứ khác bị bỏ không, giương cao lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng.

Tòa đại sứ duy nhất họ bỏ qua là






. . Tòa Đại sứ Hoa Kỳ.

Nayan Chanda, trưởng phân xã Sài Gòn của Tạp chí Far Eastern Economic Review, một trong số ít nhà báo ở lại sau cuộc di tản bằng trực thăng, đã hỏi một người lính gác Tòa Đại sứ Mỹ tại sao không có lá cờ Việt Cộng nào được treo trên đó.

'Chúng tôi không được phép giương cờ', người lính nói với Chanda. 'Chúng tôi không muốn làm bẽ mặt người Mỹ. Họ sẽ quay lại'."

Nguồn: Lamb, David. *Vietnam, Now: A Reporter Returns*. PublicAffairs, 2002.

👉 Mời bạn đón đọc bài "Hòa giải Việt - Mỹ: Một hành trình trắc trở" của nhà báo David Lamb, đăng trên Tạp chí Phương Đông số tháng 5/2026.

👉 Hãy liên hệ Hotline 0866998638 để đặt mua.

02/05/2026

🎯 SAU 30/4/1975, VIỆT NAM CÓ THỐNG NHẤT NGAY LẬP TỨC KHÔNG?

Nhiều người mặc nhiên cho rằng sau khi chiến tranh kết thúc, việc thống nhất đất nước diễn ra ngay như một lẽ tất nhiên. Nhưng trên thực tế, trong những tháng đầu sau khi hòa bình lập lại, vấn đề này từng được tính toán theo nhiều khả năng khác nhau.

== Trích đoạn ==

"Theo chương trình mà Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) từng tuyên bố, sau khi lực lượng cách mạng giành thắng lợi ở miền Nam, hai miền sẽ duy trì chính quyền riêng trong một thời gian trước khi tiến tới thống nhất hòa bình. Trong khoảng thời gian ngay sau khi Sài Gòn thất thủ, tình hình đôi lúc cho thấy dường như việc thống nhất sẽ thực sự bị trì hoãn khá lâu.

Vào mùa xuân, người phát ngôn của chế độ cho biết một giai đoạn phát triển riêng biệt kéo dài 5 năm đang được tính đến trong khi miền Nam hoàn tất cuộc cách mạng dân tộc dân chủ của mình. Như một biểu hiện chính thức của ý định đó, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CPCMLT) và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) đã nộp đơn xin gia nhập Liên Hợp Quốc riêng rẽ.

Theo một ước đoán, lãnh đạo Đảng cho rằng một chính quyền riêng của miền Nam, có sự tham gia thích hợp của đại diện “lực lượng thứ ba” từ chế độ Sài Gòn, có thể giành được sự ủng hộ đáng kể của quốc tế.

Tuy nhiên, đến cuối hè, xuất hiện những dấu hiệu cho thấy lãnh đạo Đảng bắt đầu tái đánh giá kế hoạch này. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 24 tổ chức ở Đà Lạt vào tháng 7 và tháng 8, Đảng quyết định bỏ qua giai đoạn mỗi miền một chính phủ riêng, khẩn trương tiến lên chủ nghĩa xã hội và thống nhất hai miền. Như nghị quyết ban hành sau hội nghị nêu rõ, thống nhất đất nước sẽ 'tạo ra sức mạnh mới, những thuận lợi mới để phát triển kinh tế, văn hóa và củng cố quốc phòng. Thống nhất đất nước càng tăng cường ảnh hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế'."

Những dòng trên cho thấy, sau chiến tranh, việc thống nhất đất nước tuy là xu thế lớn nhưng lộ trình thực hiện không phải ngay từ đầu đã được định hình theo một phương án duy nhất.

📖 Đọc tiếp bài nghiên cứu của William J. Duiker tại đây:
👉 https://thuviennguyenvanhuong.vn/tinh-hinh-mien-nam-viet-nam-sau-30-4-1975-ky-2.html

Photos from Thư viện Nguyễn Văn Hưởng - NVH Library's post 01/05/2026

🌟 KHÔNG PHẢI MỌI CHUYỆN ĐỀU ỔN ĐỊNH SAU 30/4/1975

Nhà sử học William J. Duiker (tác giả cuốn Ho Chi Minh: A Life) phân tích những thách thức của miền Nam Việt Nam sau chiến tranh trong cuốn sách "Vietnam since the Fall of Saigon".

== Trích đoạn ==

"Nhìn chung, chính quyền cách mạng đã được thiết lập, hầu như không có bằng chứng về tình trạng đổ máu trên diện rộng. Hàng trăm nghìn đối tượng bị xem là có khả năng chống đối đã bị đưa vào các trại cải tạo; những tin tức rải rác được truyền về gia đình họ cho biết điều kiện trong trại còn thô sơ và đôi khi khắc nghiệt, nhưng hầu như không có các phiên tòa xét xử các nhân vật nổi tiếng hoặc các vụ hà*h q*yết công khai. Dương Văn Minh được cho là sống trong tình trạng bị quản thúc.

Chế độ mới cũng tiến hành tập trung những “thành phần không mong muốn” như người ăn xin, trẻ bụi đời, nữ tiếp viên quán bar và gái m** d**. Tuy nhiên, để tránh gây hoảng loạn, không có dấu hiệu nào của một chiến dịch bắt bớ hàng loạt hay một cuộc “tắm máu” mà nhiều người từng lo sợ. Trong một số trường hợp, những kẻ cực đoan cách mạng đã đi khắp trung tâm Sài Gòn – nay được đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh – tấn công các thanh niên ăn mặc theo kiểu phương Tây. Theo các bản tin báo chí, một số người bị lôi xuống khỏi xe buýt rồi bị cắt tóc dài và xé rách quần áo theo phong cách phương Tây. Tuy nhiên, các chỉ thị của chính phủ nhanh chóng xuất hiện trên báo chí, cảnh báo rằng những hành vi quá khích như vậy sẽ bị xử lý nghiêm khắc.

Mặt khác, chế độ mới khẩn trương loại bỏ hoặc ít nhất làm giảm bớt “cỏ dại độc hại” của văn hóa tư sản phương Tây và gieo trồng hạt giống của một nền văn hóa xã hội chủ nghĩa mới và tốt đẹp. Những cuốn sách phản ánh ảnh hưởng phương Tây bị thu khỏi các hiệu sách và thư viện. Việc phát những thể loại âm nhạc phương Tây “phản cảm” nhất, chẳng hạn như rock’n’roll, bị cấm. Theo một báo cáo, các đài phát thanh Sài Gòn – nay đặt dưới sự kiểm soát của Đảng – chỉ được phép phát nhạc phương Tây hai giờ mỗi ngày, nhịp điệu cùng ca từ đều được điều chỉnh giảm nhẹ.

Công cụ chủ yếu để kiểm soát hành vi và truyền tải các giá trị văn hóa cho thế hệ trẻ dĩ nhiên là giáo dục. Trong một thời gian ngắn, toàn bộ hệ thống trường học bị đóng cửa; giáo viên phải tham gia các khóa học cải tạo tư tưởng trước khi được cấp phép giảng dạy dưới chế độ mới. Khi trường học mở cửa trở lại, học sinh được phát sách giáo khoa mới, được khẩn trương chuyển từ miền Bắc vào để thay thế các sách cũ đã bị thu hồi. Một chương trình học mới được áp dụng, dựa trên hệ thống đang được sử dụng ở miền Bắc".

Đọc toàn bài 👉 https://thuviennguyenvanhuong.vn/tinh-hinh-mien-nam-viet-nam-sau-30-4-1975-ky-1.html

Photos from Thư viện Nguyễn Văn Hưởng - NVH Library's post 30/04/2026

☀️ MIỀN NAM VIỆT NAM BUỔI GIAO THỜI THÁNG 4-5/1975: Khi cuộc sống vẫn tiếp diễn như thường ngày

Trong những ngày chuyển giao giữa tháng 4 và tháng 5 năm 1975, giữa lúc chiến sự đang đi đến hồi kết, đời sống ở miền Nam Việt Nam diễn ra với nhiều nghịch lý: có nơi lo âu, có nơi bình thản giữ nhịp sống quen thuộc như chưa có gì thay đổi.

Tạp chí TIME số ra ngày 5/5/1975 đã đăng hai bài tường thuật về tình hình Đà Nẵng và Sài Gòn trong thời khắc đặc biệt ấy.

== Trích đoạn ==

"Như trong một giấc mơ, cuộc sống vẫn tiếp diễn ở nhiều nơi trong thành phố như thể các sư đoàn Bắc Việt còn đang cách xa hàng trăm dặm. Các biểu ngữ vẫn tuyên bố chiến thắng quân sự ở tỉnh Long Khánh (“một nghĩa trang lớn dành cho quân Bắc Việt”), mặc dù vùng này đã thất thủ. Tại câu lạc bộ Cercle Sportif Français thời thượng, tụ điểm giao du của giới thượng lưu Sài Gòn, rượu sâm panh được phục vụ cạnh hồ bơi như thường lệ. Tại Club Nautique de Saigon, những chiếc thuyền đua được khoác thêm một lớp sơn bóng, như thể niềm vui mùa hè sẽ không bao giờ kết thúc. Cổng trước của nhà hàng Mỹ Cảnh, nơi hai quả mìn Claymore của Việt Cộng đã giết chết 48 thực khách vào năm 1965, đang được sơn màu xanh ngọc lấp lánh.

Thực phẩm không phải là vấn đề. Các khu chợ tràn ngập rau xanh và thịt tươi, đậu phộng chất đống trên vỉa hè đường Lê Lợi, đại lộ sầm uất nhất Sài Gòn, và những hương thơm lạ lùng hấp dẫn tỏa ra từ những quầy đồ ăn nóng trước Nhà thờ Đức Bà. Các cô gái trẻ tụ tập ở tiền sảnh rạp xi-nê Rex vào những suất chiếu sớm để xem phim Boulevard du Rhum (Đại lộ Rhum) có Brigitte Bardot diễn. Các thợ chụp ảnh lăm lăm máy ảnh Polaroid vẫn cố gắng kiếm vài đồng từ những phóng viên nước ngoài mà họ tưởng là khách du lịch. Tỷ giá piastre, có lẽ là phong vũ biểu chiến tranh tốt nhất trong thành phố, tăng vọt từ 2.000 lên 3.900 đổi một đô-la Mỹ trong bốn ngày. Có thời điểm, người ta có thể thuê một gái m** d** với giá chưa đầy 1 USD. Nhưng khi có thêm hy vọng về một lệnh ngừng bắn, tỷ giá piastre giảm xuống còn 1.500 đổi một đô-la...

Khi quân đội Cộng sản tiến gần, các linh mục Công giáo và tăng ni Phật giáo đã tập trung tại Nhà thờ Đức Bà để tham dự buổi lễ chung đầu tiên trong lịch sử miền Nam Việt Nam. Theo lời của một nhà sư, họ cầu Phật “để xin trời phật phù hộ cho người dân Việt Nam, những người đang chịu đau khổ”.

Không phải tất cả cư dân thành phố đều trông cậy vào lời cầu nguyện. Ở ngoại ô, một số người Sài Gòn có tầm nhìn xa đã có trong tay nguồn cung cấp quần áo bà ba màu đen mà Việt Cộng thường hay mặc".

Đọc toàn bài 👉 https://thuviennguyenvanhuong.vn/mien-nam-viet-nam-buoi-giao-thoi-thang-4-5-1975.html

29/04/2026

🔥 MỘT CHI TIẾT TRÙNG HỢP ÍT NGƯỜI ĐỂ Ý TRONG CUỘC DI TẢN CUỐI CÙNG Ở SÀI GÒN

Vào 7 giờ 52 phút sáng ngày 30/4/1975, chiếc trực thăng Mỹ cuối cùng cất cánh từ nóc Tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, kết thúc chiến dịch di tản và cũng chấm dứt sự hiện diện của Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

Đó là một buổi sáng hỗn loạn, căng thẳng và đầy tính biểu tượng. Nhưng giữa những biến cố lớn lao ấy, lịch sử vô tình để lại một chi tiết trùng hợp: nhiều mốc sự kiện lại gắn với con số 4.

👉 “Phương án 4” là lựa chọn cuối cùng: Khi các con đường rút lui bằng hàng không dân sự, vận tải quân sự hay đường biển đều không còn khả thi, Hoa Kỳ buộc phải triển khai phương án di tản bằng trực thăng của Thủy quân lục chiến.

👉 Khoảng 40.000 công dân Mỹ và Việt đã được di tản khỏi căn cứ không quân Tân Sơn Nhất 8 ngày trước khi chiến dịch diễn ra.

👉 Một tai nạn trong giờ phút cuối: Trong chiến dịch, một máy bay tìm kiếm cứu nạn của Hoa Kỳ rơi xuống biển. Phi hành đoàn gồm 4 người, và có 2 người được ghi nhận mất tích. Đây có thể là những quân nhân Mỹ cuối cùng thiệt mạng trong cuộc chiến.

👉 Ngày 30/4/1975 là ngày cuối cùng của tháng Tư, đồng thời rơi vào thứ Tư.

Dĩ nhiên, đó chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên của lịch sử, nhưng chính những chi tiết nhỏ như vậy đôi khi vẫn khiến người ta dừng lại lâu hơn để nhớ về một thời khắc đã làm thay đổi số phận của hàng triệu con người.

Bài báo "The Exodus: Last Chopper Out of Saigon" đăng trên TIME số ra ngày 12/5/1975 ghi lại những giờ phút cuối cùng đầy căng thẳng của cuộc di tản, đã được dịch và giới thiệu trên Tạp chí Phương Đông số tháng 04/2026.

Mời bạn đọc toàn văn tại: https://thuviennguyenvanhuong.vn/cuoc-di-tan-chiec-truc-thang-cuoi-cung-roi-sai-gon.html

28/04/2026

⛔️ PHẠM XUÂN ẨN TỪ CHỐI MỘT CÔNG VIỆC SAU CHIẾN TRANH

Sau năm 1975, Phạm Xuân Ẩn được chính quyền mới thăng hàm tướng và đề nghị đảm nhiệm một công việc trong lĩnh vực kiểm duyệt. Nhưng ông đã từ chối.

Quyết định ấy phần nào cho thấy chân dung phức tạp của một con người từng đi qua nhiều lằn ranh của thời cuộc: hoạt động tình báo, sống giữa giới báo chí quốc tế, và luôn suy nghĩ về tương lai Việt Nam vượt lên trên những chia cắt ý thức hệ.

Trong hồi ức của nhà báo David Lamb, Phạm Xuân Ẩn hiện lên như một nhân vật khó xếp vào bất kỳ khuôn mẫu đơn giản nào.

== Trích đoạn ==

"Ba hôm sau ngày Sài Gòn thất thủ, một vị Đại úy đi cùng một Trung sĩ Bắc Việt ghé qua văn phòng của tờ Time. Hai ông tỏ ra hết mực lịch thiệp, thậm chí còn thân thiện, yêu cầu người mà chính quyền Hà Nội gọi bằng mật danh Hai Trung – cùng những nhân vật khác từng làm việc cho các cơ quan Hoa Kỳ – đến trình diện tại tòa đại sứ cũ của Hàn Quốc.

Ẩn không nói với họ rằng ông từng đứng về phía họ trong suốt cuộc chiến, bởi điều đó chỉ bao hàm một phần sự thật. Điều ông dành cả đời phụng sự là công lý của nền độc lập. Ông không muốn miền Bắc thống trị miền Nam, cũng không ước ao miền Nam sẽ thống trị đất Bắc. Ông không bài Mỹ, mà tin rằng Việt Nam có thể học hỏi được nhiều bài học giá trị từ phương Tây. Ẩn cũng tự hỏi rằng, liệu chủ nghĩa cộng sản có phải là điều hợp lẽ nhất đối với Việt Nam lúc này.

Chính quyền miền Bắc cho Ẩn thăng hàm tướng và đề nghị ông làm một công việc trong lĩnh vực kiểm duyệt. “Khi anh đã từng làm việc cho một nền báo chí tự do, anh sẽ không muốn làm kiểm duyệt viên. Thế nên tôi từ chối”, Ẩn giải thích. Ẩn vẫn tiếp tục nghe đài BBC và Đài tiếng nói Hoa Kỳ (VOA). Ông thường xuyên nhắc tới những người bạn Mỹ đã rời đi.

Thậm chí, đây đó người ta còn kháo nhau rằng, trong thời khắc Sài Gòn hấp hối, ông đã giúp nhiều lính VNCH đang hoang mang cực độ có thể tìm lối thoát thân bằng đường biển. Ẩn lấy cuốn Indochina Geographic Handbook (Cẩm nang địa lý Đông Dương) từ giá sách của ông, do tình báo hải quân Anh biên soạn năm 1943, chỉ cho họ dòng chảy của hải lưu trong tháng Tư, những khu vực có khả năng xuất hiện áp thấp thời tiết, thời điểm gió mùa bắt đầu, đồng thời gợi ý cho họ một lộ trình vượt biên. Ẩn không chiến đấu chống lại bất kỳ ai. Ẩn chỉ đơn giản vì người Việt Nam".

📖 Nhà báo David Lamb thuật lại cuộc gặp với Phạm Xuân Ẩn tại đây:
👉 https://thuviennguyenvanhuong.vn/hoi-co-ve-ngay-sai-gon-sup-do.html

27/04/2026

🍀 LỜI KỂ CỦA NGƯỜI BÍ MẬT ĐƯA TỔNG THỐNG THIỆU RA SÂN BAY NGÀY 25/4/1975

"Martin vẫn hy vọng có thể ổn định tuyến phòng thủ phía bắc Sài Gòn tại Xuân Lộc và tìm kiếm một giải pháp chính trị. Ông muốn có ai đó nắm quyền mà ông tin rằng có thể đàm phán với Hà Nội, nên đến ngày 23 tháng 4, ông xác định đã đến lúc loại bỏ Nguyễn Văn Thiệu. Martin thuyết phục Thiệu từ chức, và để đảm bảo Thiệu không có hành động bất ngờ nào, ông quyết định đưa Thiệu ra khỏi Việt Nam.

Tôi sẽ không bao giờ quên cuộc gọi từ Polgar: “Tôi có một nhiệm vụ đặc biệt dành cho anh – anh sẽ đưa Thiệu ra sân bay tối nay”. Tôi được giao lái chiếc limousine chở Thiệu trong điều kiện hoàn toàn bí mật, đèn xe tắt hết, đến một điểm hẹn tại căn cứ không quân Tân Sơn Nhất, nơi cũng chìm trong bóng tối, để lên một chuyến bay bí mật của CIA rời khỏi Việt Nam.

Khi tôi đến nơi, Thiệu bước ra cùng Tướng Charles Timmes, một đặc vụ CIA. Khi họ lên xe, một vài phụ tá của Thiệu ném những chiếc vali vào cốp. Chúng phát ra tiếng leng keng như kim loại. Thiệu đã chuyển phần lớn số vàng của mình ra nước ngoài từ trước, nên tôi nghĩ đây chỉ là số tài sản còn lại của ông ta.

Thành phố lúc đó rơi vào hỗn loạn. 140.000 quân Bắc Việt chỉ còn cách trung tâm Sài Gòn khoảng một giờ. Tuyến phòng thủ tại Xuân Lộc đang sụp đổ. Không khí vô cùng căng thẳng. Có mối lo ngại lớn rằng Tướng Không quân Nguyễn Cao Kỳ sẽ ra tay sát hại Thiệu để giành quyền kiểm soát, nên chúng tôi được trang bị vũ khí đầy đủ. Thiệu đã khóc suốt đường ra sân bay. Có lúc ông nói về những bức tranh quý mà ông đã kịp chuyển đến Đài Bắc và Hồng Kông. Khi chúng tôi đi ngang qua tấm biển tưởng niệm binh sĩ Mỹ bên ngoài Tân Sơn Nhất với dòng chữ đại ý: “Sự hy sinh cao cả của đồng minh sẽ không bao giờ bị lãng quên”, Thiệu khẽ rên rỉ.

Chiếc máy bay của CIA đang chờ trong bóng tối đen kịt. Khi tôi lướt qua đường băng về phía mà tôi hy vọng là máy bay, tôi suýt đâm phải Polgar. Chúng tôi dừng lại bên chiếc máy bay đang chờ sẵn, động cơ đã nổ. Cảnh tượng chẳng khác gì trong phim Casablanca, chỉ khác là không có Bogart và Bergman.

Đại sứ đang ở đó. Thiệu ra khỏi xe, cúi người nắm lấy tay tôi và nói bằng tiếng Anh giọng Pháp: “Cảm ơn, cảm ơn vì tất cả”. Tôi chợt nghĩ, cảm ơn vì điều gì? Ý tôi là, nước Mỹ đã mất 58.000 chàng trai ở đây, đó có phải là điều ông ta biết ơn không? Hay chỉ đơn giản là biết ơn vì đã giúp ông ta trốn thoát?"

✈️ Đọc toàn bài tự sự của Frank Snepp:
👉 https://thuviennguyenvanhuong.vn/thang-4-nam-1975-day-am-anh-qua-hoi-uc-cua-nhan-vien-cia.html

26/04/2026

🛑 Nhà báo đoạt giải Pulitzer kể chuyện cuối tháng 4 năm 1975

"Trực thăng cất cánh, nhanh chóng vút lên cao. Chỉ trong vài phút, chúng tôi đã ở độ cao 6000 feet (hơn 2100 mét), nhìn xuống dưới thấy xác chiếc máy bay vận tải của VNCH vẫn đang cháy. Mọi thứ đều quá quen thuộc: tiếng ồn chói tai bên trong trực thăng; những xạ thủ ở cửa máy bay khom người sau khẩu súng máy, nòng súng hướng xuống tấm lưới xanh nâu của Đồng bằng sông Mekong, nơi những dòng sông ngập lụt tỏa ra như những mạch máu; và sự chờ đợi căng thẳng – vừa đáng sợ vừa phấn khích – khi chúng tôi dõi mắt tìm những vệt đạn lửa hay quả cầu xoáy sáng rực của tên lửa tầm nhiệt. Một quả đã bắt đầu lao lên, nhưng chiếc trực thăng dẫn đầu đội hình đã đánh lạc hướng nó bằng một quả pháo sáng mô phỏng sức nóng động cơ máy bay. Chúng tôi cũng bị bắn từ mặt đất – làn đạn đến từ lính VNCH, những người có lẽ đã cảm thấy mình bị Mỹ phản bội.

Tâm trí tôi vụt quay về một thập kỷ trước, về cái ngày chúng tôi hành quân vào Việt Nam, vênh váo, đầy tự tin và tràn trề lý tưởng. Chúng tôi đã tin rằng mình đến đó vì một sứ mệnh đạo đức cao cả. Nhưng bằng cách nào đó, lý tưởng ấy đã mai một, đạo đức bị băng hoại, và mục đích cũng bị lãng quên.

Chúng tôi đến bờ biển khoảng 20 phút sau đó. Chúng tôi đã thoát khỏi nguy hiểm, ra khỏi tầm bắn của tên lửa, không còn nguy cơ trở thành những người Mỹ cuối cùng bỏ mạng ở Việt Nam. Các xạ thủ buông lỏng tay khỏi khẩu súng máy cỡ nòng .50, mỉm cười và giơ ngón tay cái ra hiệu “ổn cả rồi”. Lướt qua Biển Đông, bay trên hàng nghìn con thuyền đánh cá chất đầy người tị nạn, chiếc CH-53 đáp xuống tàu U.S.S. Denver, một tàu đổ bộ trực thăng thuộc Hạm đội Bảy được triển khai cho chiến dịch di tản. Có tiếng vỗ tay vang lên khi máy bay hạ cánh xuống boong tàu. Khi chúng tôi lần lượt bước ra, một lính thủy quân lục chiến vỗ vào lưng tôi và nói: “Chào mừng anh về nhà. Tôi cá là anh quá mừng vì đã thoát khỏi đó”. Dĩ nhiên, tôi mừng. Tôi hỏi anh ta thuộc đơn vị nào. “Lữ đoàn Viễn chinh số 9”, anh ta đáp. Lữ đoàn Viễn chinh số 9, cùng đơn vị mà tôi đã theo khi đặt chân đến Đà Nẵng. Nhưng những người lính thuộc đơn vị ấy bây giờ có vẻ hoài nghi hơn nhiều so với chúng tôi 10 năm trước. Người lính thủy quân lục chiến đó nhìn về đường viền xanh nhạt của bờ biển Việt Nam và nói: “Chà, vậy là có một quốc gia mà ta không còn phải rót hàng tỷ đô la vào nữa”.

Những người di tản được làm thủ tục và đưa xuống boong tàu nóng hầm hập để ăn một bữa. Hầu hết chúng tôi đều lâng lâng vì nhẹ nhõm, nhưng một nhà ngoại giao buồn bã từ Tòa đại sứ Mỹ chỉ ngồi lẩm bẩm một mình: “Thế là hết. Mọi chuyện chấm dứt rồi. Kết thúc một thời đại. Một cái kết tệ hại, nhưng rồi nó cũng phải kết thúc theo cách nào đó”. Mệt mỏi và đầm đìa mồ hôi, ông ta chỉ biết lắc đầu. “Kết thúc một thời đại”. Có lẽ đúng là như vậy, nhưng tôi đã quá mệt để suy ngẫm về ý nghĩa lịch sử của sự kiện mà mình vừa trải qua: Nước Mỹ đã thua cuộc chiến đầu tiên trong lịch sử.

Ngày hôm sau, 30 tháng Tư, thuyền trưởng thông báo rằng chính phủ Sài Gòn đã đầu hàng Bắc Việt. Chúng tôi đón nhận tin ấy trong im lặng. Thế là hết."

Mời bạn đọc toàn bài: https://thuviennguyenvanhuong.vn/nha-bao-doat-giai-pulitzer-ke-chuyen-cuoi-thang-4-nam-1975.html

25/04/2026

⭕️ Từ sự kiện 30/4/1975, nghĩ về các đường ranh giới và vấn đề di cư ở Việt Nam (bài của Philippe Papin)

== Trích đoạn ==

"Nếu vào thế kỷ XIX, triều Nguyễn đã cai trị lãnh thổ quy mô tương đương với Việt Nam hiện nay, và nếu đầu thế kỷ XX, quá trình thuộc địa hoá của Pháp khởi đầu cho những cuộc di cư đầu tiên lên vùng trung du và miền núi, thì chính các cuộc chiến tranh diễn ra vào nửa sau thế kỷ XX mới thực sự thống nhất lãnh thổ quốc gia.

Trước hết là theo trục Bắc – Nam, nhờ vào công cuộc chiến đấu 30 năm tuy đầy đau thương nhưng hun đúc một tinh thần dân tộc mạnh mẽ, và thắng lợi tháng 4/1975 được phần lớn người dân cảm nhận như một sự kiện giải phóng.

Tiếp đến là theo trục Đông – Tây, nhờ các cộng đồng người Thượng – vốn kiểm soát những vùng đất chiến lược (như đường mòn Hồ Chí Minh), thực tế vùng này đã là tâm điểm của cuộc đấu tranh, đặc biệt trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ của người Việt.

Cuối cùng, như một cao trào của những biến động ấy, ngay lập tức, việc thống nhất chính trị được nối tiếp bằng các cuộc di dân lớn: chỉ trong hơn 10 năm, gần 4 triệu người từ đồng bằng sông Hồng được đưa vào miền Nam và di chuyển tới các cao nguyên miền Trung. Khoảng 1/3 dân số tỉnh Thái Bình, phía nam Hải Phòng đã di cư lên các vùng núi, ở đó họ lập nên những ngôi làng có cùng tên với quê gốc của mình. Chỉ trong vài năm – khoảng thời gian rất ngắn nếu xét theo quy mô lịch sử, dân cư ở phía bắc đã toả xuống phía nam, và cư dân đồng bằng đã chuyển đến sinh sống ở những vùng trung du miền núi".

📚 Đọc toàn bài bình luận của Philippe Papin:
👉 https://thuviennguyenvanhuong.vn/ngan-nam-hinh-thanh-mot-dat-nuoc.html

Photos from Thư viện Nguyễn Văn Hưởng - NVH Library's post 24/04/2026

Tạp chí TIME ngày 12/5/1975
thuật lại những giờ phút căng thẳng cuối cùng của cuộc di tản, cảnh hỗn loạn tại sân bay Tân Sơn Nhất, Tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, các căn cứ quân sự Mỹ và trại tị nạn ở Thái Lan 👇

Want your business to be the top-listed Government Service in Hanoi?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Website

https://opac.thuviennguyenvanhuong.vn/, https://elib.thuviennguyenvanhuong.vn/

Address


Tầng 2, Almaz Market, Đường Hoa Lan, KĐT Vinhomes Riverside, Long Biên
Hanoi
100000