Chùa Vua - Hai Bà Trưng - Hà Nội

Chùa Vua - Hai Bà Trưng - Hà Nội

Share

Là một di tích trong Thăng Long tứ quán, chùa Vua được mệnh danh là "cờ miếu" của Thăng Long.

22/06/2023

TẾT ĐOAN NGỌ - TẾT CỦA CƯ DÂN BÁCH VIỆT
-------------------


MỪNG TẾT ĐOAN NGỌ 5/5 Âm Lịch!

Tháng tư đong đậu nấu chè
Ăn Tết Đoan Ngọ trở về tháng năm.
Chúc mọi người “diệt được nhiều sâu bọ”, chúc bà con nông dân có một vụ mùa bội thu.

Theo dấu Tổ sư
Kết tập kinh điển Phật giáo Việt Nam
Chốn Thiêng
-----------
Thiết kế: Đặng Hương Giang

TẾT ĐOAN NGỌ - TẾT CỦA CƯ DÂN BÁCH VIỆT
-------------------

Tết Đoan Ngọ hay còn được gọi là tết Đoan Dương, được tổ chức vào giờ Ngọ, ngày mùng 5 tháng 5 Âm lịch hằng năm. Đây là một ngày tết truyền thống tại một số quốc gia Đông Á như Việt Nam, Triều Tiên, Đài Loan, Nhật Bản và Trung Quốc.
Đoan nghĩa là Nhất, Ngọ được hiểu là giữa trưa vì thế tết Đoan Ngọ thường được cử hành vào lúc 12 giờ trưa. Nếu theo thuyết Âm Dương ngũ hành thì nước Việt ta nằm ở phương Nam, vùng đất nóng nên Ngọ được xếp vào quẻ Ly thuộc hành hỏa. Trong một ngày thì dương khí cao nhất là vào giờ Ngọ (thời điểm giữa ngày), trong một tháng dương khí cao nhất là vào những ngày Ngọ, nhất là ngày Ngọ thượng tuần (đầu tháng).

Lịch cổ của người Bách Việt còn thể hiện qua cách gọi bằng hệ đếm can chi. Trái với những suy nghĩ quen thuộc cho rằng hệ can chi có nguồn gốc từ Trung Quốc, nó lại có nguồn gốc từ văn hóa nông nghiệp phương Nam. Tên gọi các con vật (hệ chi) trong tiếng Hán chỉ là phiên âm của những từ trong nền văn hóa phương Nam. Ví dụ như trong tiếng Chứt, tiếng Mường (những ngôn ngữ gần với tiếng Việt nhất), Sửu được gọi là Klưu, Tlưu... Nếu một ngày được bắt đầu từ giờ Tý (từ 23 giờ đêm đến 1giờ sáng) là thời điểm lạnh nhất và đến giờ Ngọ (giữa ngày) là thời điểm nóng nhất thì theo lịch cổ của người Bách Việt thời điểm một năm bắt đầu từ tháng Tý (tháng lạnh nhất) đến giữa năm là tháng Ngọ (tháng nóng nhất). Nóng thuộc về dương nên tết Đoan Ngọ được gọi là tết Đoan Dương (tết cực nóng).

Theo truyền thuyết kể lại, một ngày sau khi thu hoạch, nông dân ăn mừng vì trúng mùa nhưng sâu bọ năm ấy lại kéo dày ăn mất cây trái, thực phẩm đã thu hoạch. Mọi người đau đầu không biết làm cách nào để có thể giải được nạn sâu bọ này, bỗng nhiên có một ông lão từ xa đi tới tự xưng là Đôi Truân. Ông chỉ cho dân chúng mỗi nhà lập một đàn cúng gồm đơn giản có bánh tro, trái cây, sau đó ra trước nhà mình vận động thể dục. Nhân dân làm theo chỉ một lúc sau, sâu bọ đàn lũ té ngã rã rượi. Lão ông còn bảo thêm: Sâu bọ hằng năm vào ngày này rất hung hăng, mỗi năm vào đúng ngày này cứ làm theo những gì ta đã dặn thì sẽ trị được chúng. Dân chúng biết ơn định cảm tạ thì ông lão đã đi đâu mất. Để tưởng nhớ việc này, dân chúng đặt cho ngày này là ngày "Tết diệt sâu bọ", có người gọi nó là "Tết Đoan ngọ" vì giờ cúng thường vào giữa giờ Ngọ.

Tết Đoan Ngọ ăn gì?

Rượu nếp, nếp cẩm: đây là thứ không thể thiếu vào ngày tết Đoan Ngọ.

Bánh tro: là loại bánh có màu vàng đậm, được làm từ gạo nếp ngâm cùng với nước tro của các loại cây khô, sau đó gói trong lá chuối rồi đem luộc.

Hoa quả: với mong muốn "tiêu diệt sâu bệnh" bên trong cơ thể, người ta thường lựa chọn các loại quả có vị chua như mận, xoài xanh... và ăn chúng vào buổi sáng ngay sau khi thức dậy.

Chè trôi nước: đây là món ăn không thể thiếu vào ngày tết Đoan Ngọ của người miền Nam. Những viên chè làm từ bột nếp, bên trong có nhân đậu xanh, ăn kèm với nước cốt dừa có vị man mát, thơm ngon.

Chè kê: đây là món ăn đặc trưng của người Huế mỗi dịp tết Đoan Ngọ. Sau khi xay hạt kê và loại bỏ lớp vỏ, người ta ngâm rồi đun sôi cho đến khi nở mềm, sền sệt rồi thêm nước đường cùng chút gừng là đã được một nồi chè kê thơm phức, vô cùng hấp dẫn rồi.

Theo dấu Tổ sư Kết tập kinh điển Phật giáo Việt Nam
Chốn Thiêng Cổ Phong

------------
Thiết Kế: Đặng Hương Giang

Photos from Chùa Vua - Hai Bà Trưng - Hà Nội's post 14/06/2023

Bộ Tứ Linh tại Chùa Vua.

Tứ Linh, còn được gọi là Tứ Thụy, là bốn loài linh thú lớn trong thần thoại Trung Hoa và các nước Đông Á tượng trưng cho sự cát tường và điềm tốt lành, bao gồm Long, Lân, Quy và Phượng.

Ảnh: Trung Nguyễn - Ekip Chốn Thiêng

13/06/2023

Bức châm được chụp tại Chùa Vua (Hưng Khánh tự - Hai Bà Trưng - Hà Nội)

Vân tác y thường hựu tác xa
Triêu du Đâu Suất mộ đồ hà
Nhân gian dục thức hà danh tính
Nhất đại sơn nhân Ngọc Quỳnh Hoa.

Lạc khoản: Tuế đại Giáp Ngọ niên

Ảnh: Trung Nguyễn - Ekip Chốn Thiêng

Photos from Chùa Vua - Hai Bà Trưng - Hà Nội's post 13/06/2023

Một câu đối tuyệt hay tại chùa Vua:
" Hồ trung nhàn nhật nguyệt
Thành hạ tiểu càn khôn".

Ảnh: Trung Nguyễn - Ekip Chốn Thiêng

12/06/2023

Sân đánh cờ là nơi diễn ra những huyền vi, ảo diệu của các thế cờ trong cuộc thi mỗi năm. Bàn cờ được kẻ bằng vôi trên một sân lát đá xanh. Trong những ngày thường, các vị trí đặt quân trên bàn cờ được đặt các chậu cảnh. Trên thân chậu cũng ghi tên quân với tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã… Từ trên lầu chuông của tam quan nhìn xuống, du khách như cảm nhận khí thế một cuộc cờ với những câu thơ:

“Xe pháo qua hà giữa tiết xuân
Cần chi phong tướng mới cầm quân
Thoắt mang ngựa đến tan thành cổ
Bỗng vẫy voi ra giấu mẹo thần…”

(Chùa Vua là nơi được coi là "cờ miếu" của HN, thờ Vua Cờ và có hội đánh cờ đặc trưng)

12/06/2023

Công tác in rập văn bia của Ekip Chốn Thiêng tại Chùa Vua.

12/06/2023

Nội dung bia Thiên Tải Lưu Phương (千載流芳)- Chùa Vua (Hưng Khánh Tự, Hai Bà Trưng, Hà Nội)

Thơ
Hà Thành thắng địa
Thịnh An phố phường
Phạn Vũ hoa khải
Thánh điện huy hoàng
Tự danh Hưng Khánh
Điện viết Thiên vương
Tứ thời phụng sự
Thử tắc hinh hương
Niên niên khai hội
Tất cử kỳ trường
Đoạt quán quân giả
Danh tính lưu phương
Viễn cận dương bá
Thiên trường địa cửu

Tạm dịch:
Đất thắng cảnh ở Hà Thành
Ở phố Thịnh An
Điện Phạn Vũ dựng nơi hoa nở
Chùa tên Hưng Khánh
Điện tên Thiên Vương
Bốn mùa cúng tế
2 loại lúa xịn đem lên để tế
Mở hội hàng năm
Ắt sẽ mở sân oánh cờ
Người đoạt giải nhất
Tên họ sẽ được lưu tiếng thơm
Xa gần đều truyền bá
Vĩnh cửu như trời đất

Tiếc thay trong khoảng giao thời (giao giữa cũ, mới hồi đầu thế kỉ 20), thiên hạ tang thương dâu biển, chùa thành nơi hoang tàn, phế tích. Đất này, người nơi đây nhớ tiếng cảnh tráng lệ, nhân đó có 1 mẫu ruộng, 4 sao, cúng vào chùa một nửa, nay lưu bia này, muôn đời hậu thế nên biết.
Những người hội chủ hưng công, tín thí liệt kê, gồm: v.v.v.

Dịch: Ekip Chốn Thiêng

12/06/2023

Nội dung Bia Hưng Khánh Tự Kí Kị Bi(興慶寺奇忌碑)- Chùa Vua (Hưng Khánh Tự, Hai Bà Trưng, Hà Nội)

Phiên âm
Tổng tựa tinh dã cương vực tân tân tạo Hưng Khánh tự bi kí
Hựu cung tiến miêm túc tản nhất song, kỳ biển nhất bộ.
Phù dịch chi ngôn viết: tại thiên thành tượng, tại địa thành hình, phương dĩ loại tụ, vật dĩ quần phân. Thử tinh dã cương vực chi sở do phân dã.

Tự hữu Ngu thị tuyền cơ ngọc hành dĩ tề thất chính, Hạ Hậu thị huyền khuê tạo thành nhi chính cửu châu. Hậu chi ngưỡng quan phủ sát giả thành. Vị thông đô cự ấp, các hữu biên thùy, tung nhạc danh sơn thượng ứng liệt tú. Tuy phương lý chi vực hàm văn chi bảo mạc bất thuộc ư phận dã, thống tư phân tinh, kính chi dĩ kinh giới biệt chi dĩ phiên li. Do thị tai tường chi trưng, bỉ ngã chi [kiến?] phân, nhiên khởi phát như thử sa bà thế giới thị tắc bất nhiên. Hà dĩ cố? Dĩ lục hợp vi nhất gia, bát hoang vi nhất thát, vạn tượng sâm la. Nhất tâm sở ấn, nhi kim thị bỉ hoạnh sinh khu vực giả thí như hữu nhân cát tải hư không, dục kỳ ly dị thu quy tự kỷ khởi khả đắc da. Tuy nhiên, như thị vân nguyệt tổng đồng, khê sơn các biệt, vô cố hư không, hốt sinh sơn hà đại địa. Ư đại địa thượng khu, phân đại tiểu chư quốc tỉnh phủ huyện xã thôn thành tụ lạc. Ư chư tụ lạc khu vực kiến lập già lam tinh xá. Kim ư Thịnh An khu vực tân tạo Hưng Khánh già lam. Thùy khai thùy kế, thùy chủ thùy tân, Hưng Khánh đồng cư bất phương đế. Đương như hoặc bất nhiên tắc trảm hình phi cức, khẩn thổ tru mao hoàn dữ mộc nhân thảo sáng da.
Thử xứ lợi tạo Hưng Khánh già lam, nhưng trụ tỷ khâu Thanh Lịch dữ đàn chủ Sái Huy [Khiêm?]. Nhâm Ngọ niên tam nguyệt thập ngũ nhật. Nhất nguyệt sơ thất nhật chính kị. Thê Bùi Thị Ốc hiệu Diệu Thông, Đinh Dậu niên nguyệt nhật tạo [?][?] kỳ ư tam nguyệt nhị thập thất nhật chính kỵ.

[?] quyên tư tân tạo thượng điện ngũ gian, tiền đường thất gian nội tự điền ngũ cao tại Cung Đường xứ, tịnh Thanh tiền nhất thiên ngũ bách mân, dân điền nhất mẫu tứ cao tại Bạch [Mai?] phường Lễ Giai xứ, tịnh Thanh tiền ngũ bách quán, đồng dân ưng thuận thụ hợp ước bách tuế hậu đệ niên tác kị nhật bản thôn biện cụ chư nhất diện, xôi nhất bàn, kim ngân phù lưu cụ túc. Chí như [?] [?] lễ vật truy [nghi?] [?] tòng phối hưởng yếu tại phụng sự tam bảo, dĩ thử công đức hồi hướng nội hiển khảo Sài quý công tự Doãn Chấp thụy Phúc Hậu, tỷ Nguyễn quý thị hiệu Từ [?]. Hiển khảo Bùi quý công tự Đức Chính, tỷ Lương quý thị, hiệu Từ Minh chư chân linh.
Tứ ân tổng báo, tam hữu trai tư, pháp giới chúng sinh đồng viên chủng trí. Hà dĩ cố, địa danh Thắng Mẫu chi lý Tăng Tử hồi xa, dịch thùy ... chi văn [?] công tốn mỹ cố. Tuy chàng phá [?] lâu dã tu khiêm thoái. Như vân băng do ư thủy chính hảo tri nguyên, đàn việt phát tâm thành chi chí dã. Hưng công hội chủ hà cảm vong chi, thị cố tổng tuế tinh dã cương vực tân tạo Hưng Khánh già lam bi ký.

Tường án Hưng Khánh tự tại Hà [Nội?] [Hoài?] Đức phủ, [Thọ?] [Xương?] huyện, Kim [?] tổng [?] An thôn cương vực.
[Đồng?] [Khánh?] tam niên, tuế thứ Mậu Tý thập nhất nguyệt nhị thập cửu nhật lập bi ký.
Thảng hà nhân vong tiền công đức...

Dịch nghĩa
Bia ghi chép tổng quan về phạm vi, ranh giới [1] tân tạo chùa Hưng Khánh.
Lại cúng tiến ô gấm một đôi, cờ biển một bộ.
Lời sách Chu Dịch viết rằng: “ tại thiên thành tượng, tại địa thành hình, phương dĩ loại tụ, vật dĩ quần phân [2]”. Điều này chính là sự phân chia bởi cương vực vậy. Từ khi có họ Ngu [3] có máy tuyền cơ ngọc hành, để định thất chính [4]. Họ Hạ Hậu [5] đặt ra phép huyền khuê [6] cáo thành mà định ra chín châu [7]. Đời sau ngẩng xem thiên văn, cúi xét địa lý, đều cho rằng khắp các đô ấp lớn, mỗi nơi đều có ranh giới cương vực. Núi Tung Sơn danh tiếng, trên trời ứng các vì sao, tuy là cương vực một cõi, thắng cảnh hàm chứa vẻ đẹp không gì là không thuộc vào chỗ sao chiếu ứng, thâu tóm ở tinh phận mà xác định ra ranh giới, phân biệt ra bởi bờ ngăn cách [8]. Cũng bởi chỗ này mà phô bày ra tai ương hay tốt lành. Sự thấy biết của ta và người rối rắm khác nhau, tuy khởi phát như ở thế giới Sa bà này thì chẳng như vậy. Cớ vì sao như vậy? Vì lục hợp [9] là một nhà, bát hoang [10] là một phòng, vạn tượng sum la, nhất tâm ấn chứng, mà nay thấy kẻ kia từ nơi khác sinh đến, cũng ví như có người cắt vào hư không, mà muốn thoát ly thu trở về nơi mình, như thế há có được chăng!

Tuy nhiên, như là mây bay trăng lặn, cùng núi non khe suối có cách biệt, chẳng bởi hư không mà bỗng sinh núi sông đất lớn. Trên đất lớn lại phân chia ra các khu vực lớn nhỏ, các nước, các tỉnh, phủ, huyện xã thôn, thành quách, tụ lạc [11] , ở các khu vực dân cư lại xây dựng các chùa các tinh xá.

Nay ở khu vực Thịnh An mới xây một ngôi chùa là Hưng Khánh. Ai khai sáng, ai tiếp nối, ai là chủ, ai là khách. Chùa Hưng Khánh cùng tồn tại, chẳng phương hại đến thường tình đang có, hoặc như chẳng được thế ắt phải vượt khó khăn, mở đất phạt cỏ, trồng cây, đòi hỏi người sáng lập ấy vậy! Đất này thích hợp xây chùa Hưng Khánh, bởi trụ trì là Tỷ kheo Thanh Lịch cùng với đàn chủ là Sài Huy [?] xây dựng. Ngày 15 tháng 3 năm Nhâm Ngọ [12]. Giỗ ngày 7 tháng giêng. Vợ Bùi Thị Ốc, hiệu Diệu Thông, năm Đinh Dậu... giỗ ngày 27 tháng 3.

Đóng góp của cải để xây tòa thượng điện năm gian, tòa tiền đường bảy gian, ruộng trong chùa 5 sào tại xứ Cung Đường, cùng với Thanh tiền [13] một nghìn năm trăm mân [14], ruộng dân một mẫu bốn sào tại phường Bạch [Mai?], xứ Lễ Giai, cùng với tiền Thanh năm trăm quan. Toàn dân cùng ưng thuận đến trăm năm sau, hàng năm vào ngày giỗ, thôn ta biện cỗ lợn một mặt, xôi một mâm, tiền vàng, trầu rượu đầy đủ đến như lễ vật [? ][?] cùng theo đó phối hưởng, quan trọng ở việc phụng sự tam bảo.

Kính đem công đức này hồi hướng đến chân linh các vị.

Hiển khảo có họ Sài, tên tự là Doãn Chấp, tên thụy là Phúc Hậu, cùng vợ của ngài, có họ Nguyễn, hiệu là Từ [?].
Hiển khảo có họ Bùi, tên tự là Đức Chính, cụ bà vợ của cụ có họ Lương, hiệu là Từ Minh.

Tổng báo tứ ân [15], tam hữu [16] tư lương thanh tịnh, mọi chúng sinh trong pháp giới đều được trí tuệ viên mãn tròn đầy. Cớ vì sao tên gọi làng Thắng Mẫu mà ngài Tăng Tử không vào, ngài Mặc tử quay xe [17]... tuy phá lầu gác vậy. Nên khiêm thoái như nói: Băng sinh ra từ nước chính là khéo biết về nguồn gốc, tín thí phát tâm rất mực chí thành vậy. Hội chủ hưng công sao dám quên công ấy, bởi vậy nên ghi vào bia đá nói tổng quát ranh giới phạm vi tân tạo chùa Hưng Khánh.

Xét rõ: chùa Hưng Khánh ở trong cương vực thôn [?] An, tổng [?] huyện [Thọ?] phủ [?] [Đức?] tỉnh Hà [Nội?]
Ngày 29 tháng 11 năm Mậu Tý- năm thứ ba niên hiệu Đồng Khánh [18] lập bia.

Chú thích

[1] Nguyên Hán văn là tinh dã cương vực. Tinh dã là thuật ngữ của thiên văn học, nói việc các sao hoặc chòm sao trên trời chiếu ứng và chủ một vùng đất nào đó ở dưới đất. Ví dụ như nói nước Nam ta thuộc vùng sao Dực, và sao Chẩn. Cương vực: là chỉ bờ cõi biên giới lãnh thổ của một nước.

[2] Trên trời thành ra khí tượng, dưới đất tạo thành hình hài, thuận loài hợp tụ, khác tính phân chia.

[3] Họ Ngu, tức Ngu Thuấn. Thời đế Thuấn có máy “tuyền cơ ngọc hành” dụng cụ để làm lịch, định thời tiết.

[4] Thất chính: gồm năm sao Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ và Mặt trời, mặt trăng.

[5] Tức chỉ vua Đại Vũ. Vua Vũ định quốc hiệu là Hạ. Triều đình nhà Hạ xưng hô có thêm chữ hậu đi kèm, cũng để chỉ họ tộc.

[6] Sách Thượng thư thiên Vũ Cống chép: vua Vũ ban ngọc huyền khuê cho các công thần có đại công cáo thành. Nhưng theo Khổng truyện thì chính vua Vũ có đại công phổ khắp bốn bể nên được đế Nghiêu ban cho ngọc có sắc đen gọi là huyền khuê. Sau huyền khuê vừa là ngọc ban cho người có đại công, cũng phiếm chỉ đại nghiệp.

[7] Chín châu: Sau khi vưa Đại Vũ trị thủy thành công thì định ra chín châu gồm: Dực châu, Thanh châu, Từ châu, Dương châu, Kinh châu, Dự châu, Lương châu, Ung châu, Duyện châu.

[8] Nguyên văn là Phiên ly, tức là bờ rào bờ dậu.

[9] Lục hợp: tức bốn phương Đông Tây Nam Bắc và hai phương trên dưới.

[10] Bát hoang: cũng như tám hướng, phiếm chỉ cả thiên hạ.

[10] Tụ lạc: nơi tụ tập dân cư.

[12] Dòng chữ này nội dung chỉ vẻn vẹn có vậy.

[13] Tức tiền nhà Thanh bên Trung Quốc.

[14] Mân: đơn vị tiền thời cổ, tiền đồng xu xâu chuỗi lại thành tiền, thành mân.

[15 Tứ ân: Ơn cha mẹ, ơn thầy tổ, ơn trời đất, ơn tam bảo.

[16] Tam hữu: chỉ chúng hữu thức, hữu tình, hữu duyên.

[17] Sách sử ký – Lỗ Trọng Liên liệt truyện: trang sức cho đẹp để vào triều thì không lợi ích gì cho việc nghĩa, trau chuốt danh hiệu thì chẳng có đả động gì đến thực hành. Cho nên huyện có tên gọi là Thắng Mẫu thì Tăng Tử không vào, ấp có tên là Triều Ca thì Mặc Tử quay xe. Vì không thuận theo cổ vậy.

[18] Tức năm 1888.

Dịch: Ekip Chốn Thiêng

12/06/2023

Nội dung bia Hưng Khánh Thiền Tự Bi Ký(興慶禅寺碑記)- Chùa Vua (Hưng Khánh Tự, Hai Bà Trưng, Hà Nội)

Đại khái nghe rằng, giáo vụ của nhà Phật là việc cảnh tỉnh người đời, muốn họ đạt tới cõi giác ngộ, vì vậy cho nên cái đạo ấy không nói mà tin, không giáo hoá mà tự hành, mênh mông trong dân chúng, không thể gọi tên ra được. Cho nên từ triều Lý về sau, trên từ công khanh văn võ, dưới cho đến khanh sĩ thứ dân đều hưng công xây dựng chùa miếu, hoặc tô tượng, đúc chuông, đại khái muốn xây dựng nền đạo vững chắc hôm nay, để kết thành quả tốt lành trong tương lai.

Nay ở tại phía Nam thành Hà Nội, có Hưng Khánh thiền tự, là nơi bảo điện chốn Thiền lâm. Tương truyền rằng sáng lập từ triều Lý, quy mô rộng lớn, gom cái đạo từ trời Tây (trời Ấn Độ) mà quy về Bắc Đẩu (ở trời phương Đông). Chẳng may gặp cơn binh hoả, thành ra hoang phế. Ai đi qua đều buồn đau, luôn đau đáu việc trùng hưng, tôn tạo. Gần đây, có Tỷ Khiêu ni Thích Đàm Định trụ trì bản tự cùng với những anh em thiện lành quanh đây (đấy) gồm: Nguyễn Quốc Triệu, Nguyễn Đức Bạch, Nguyễn Thị Hồng Hà, Nguyễn Thị Ngọc Anh, v.v. cũng bảo nhau rằng: thiên thần giáo ứng theo đó mà nắm giữ tài bảo, vậy có thể nhắm mắt xuôi tai mà quên lời Phật bảo được sao? Lúc này cùng với trụ trì chùa cùng nhau cầu thợ giỏi, mộ vật tốt ở khắp các nơi, đúc lại chuông lớn, trang hoàng Tam Bảo thành một công trình to lớn, hết thảy đều đẹp lắm, toàn cảnh trở nên một chốn danh lam.

Chùa hoàn thành trụ trì mới trình bản văn lên cho ta (?), để viết vào mấy lời tán thán. Từ một nơi hoang phế, trở thành Hưng Khánh tự uy nghi, bề thế, cái công của những người trùng hưng có thể gọi là nhỏ được chăng? Công đức của các ngài đã khiến cho đạo có nơi nương tựa, con cháu đời sau có chốn tu hành, ngưỡng vọng. Công ấy thực sáng như sao Khuê. Ngày sau qua đây, quan thời chiêm ngưỡng, dân thời vọng nghĩ, ắt sẽ nhớ đến công đức của tiền nhân. Bèn ghi lại mấy lời, theo đó mà khắc vào bia, lưu mãi về sau.
Hà Thanh, Song Hữu Nguyễn Trước Phù kính cẩn thuật lại, về sau người học trò ở Hoài An, ấp Nguyên kính viết, người thợ khắc đá ở đất Hoa Ninh kính khắc.

Ngày lành, trọng thu tháng tốt, năm 2007.

Dịch: Ekip Chốn Thiêng

23/05/2023

Thần Đế Thích vốn xuất phát từ tín ngưỡng đạo Bà La Môn ở Ấn Độ. Sau này Phật giáo và Bà La Môn tiếp xúc với nhau, Đế Thích trờ thành một vị thần cùng với Ngọc Hoàng là hai vị thần hộ vệ Phật pháp. Trong chùa, Đế Thích và Ngọc Hoàng (hay còn gọi Phạm Thiên) được tạc tượng theo dáng các vị vua với áo cổn, mũ miện đứng hai bên tượng Thích Ca sơ sinh (theo sách Vào chùa lễ phật, sự tích - ý nghĩa cách bài trí của Trần Nho Thìn), ở Ấn Độ, Đế Thích là vị thần sấm sét. Nhưng khi du nhập vào Việt Nam lại trở thành vị thần có khả năng cải tử hoàn sinh và là vua của môn cờ tướng.

Ở nhiều chùa nước ta, tượng Đế Thích thường bố trí Đại Phạm Thiên đứng hai bên tòa Cửu long (tức là Thích Ca sơ sinh có chín con rồng chầu) đặt ở bàn thờ dưới cùng của tòa Tam Bảo. Tượng Đế Thích và Đại Phạm Thiên là hai vị thần thường xuyên hỗ trợ Đức Thích Ca khi ngài chưa thành Phật. Đế Thích được xem là bậc cao cờ nhất “cờ cao Đế Thích chấp đôi xe”. Ngài thường chu du, biến hóa xuất hiện khắp nơi trong chốn Tam Thiên thế giới để trừ tai, giải nạn cho mọi người. Do đó ngạn ngữ có câu “Ai muốn sống lâu thì cầu Đế Thích”.

Want your business to be the top-listed Government Service in Hanoi?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Address


Phố Thịnh Yên, Hai Bà Trưng
Hanoi
100000