17/12/2021
Chùa tọa lạc trên khu đất bằng phẳng rộng rãi ở giữa làng, trông ra sông Nhuệ. Theo di văn Hán – Nôm tại di tích, đặc biệt là hệ thống văn bia, trong đó có văn bia cổ nhất là Hậu phật bi kí (Bía ghi việc lập hậu phật), dựng năm Vĩnh Khánh nguyên niên (1729), có thể khẳng định muộn nhất là đến nửa đầu thế kỷ XVIII, ngôi chùa này được xây dựng. Văn bia Công đức bi kí (Bia ghi việc công đức) dựng năm thứ 41 niên hiệu Cảnh Hưng (1780) cho biết thông tin về việc Đoàn Đình Kim là Hữu đề điểm ở địa phương (đương thời gọi là thôn Chu Xá) đóng góp 100 quan cổ tiền để trùng tu chùa. Văn bia Tri ân bi (Bia tri ân) tạo tác vào ngày 18 tháng 9 niên hiệu Cảnh Thịnh năm thứ 6 (1798) cho biết thông tin về việc các quan viên sắc mục địa phương cùng nhân dân tu sửa chùa.
Sang thời Nguyễn, chùa cũng được trùng tu nhiều lần vào các triều vua Minh Mệnh (1820-1840), Thành Thái (1889-1907). Tháng 11 năm Canh Thìn (1940), tô tượng Phật chùa càng thêm trang nghiêm. Năm 2002, dựng lại dãy nhà ngang bên phải làm nơi tiếp khách; năm 2005, tu bổ nhà Tổ, dựng dãy nhà ngang bên trái để thờ mẫu. Hiện nay chùa gồm các hạng mục chính: Tam quan, khu thờ chính, hai dãy nhà ngang (để tiếp khách và thờ Mẫu), nhà Tổ, khu mộ Tháp.
Tam quan trổ ba cửa, trên mỗi cửa là bốn mái lợp ngói ống, chính giữa mái cửa chính đắp hình bánh xe pháp bên trong là hình chữ Vạn.
Khu kiến trúc thờ hình chữ Đinh, tường hồi bít đốc. Tiền đường gồm 5 gian, chồng diêm hai tầng mái, khoảng cổ diêm có bốn chữ Linh Xá cổ tự. Hai cột hiên ở hai bên gian giữa làm bằng đá, trên khắc đôi câu đối chữ Hán, phiên âm:
Phạn vũ trùng tân quang Phật thổ,
Thiền môn nhất nhật tịnh trần tâm.
Tạm dịch:
Chùa chiền mới thêm ngời đất Phật,
Cửa thiền bước tới lắng lòng trần.
Phía bên trong khu thờ chính, vì đỡ mái làm kiểu thượng giá chiêng, hạ kẻ chuyền, mặt bằng hai hàng chân. Trang trí trên kiến trúc được tập trung chủ yếu trên các cốn nách, đầu kẻ, đầu xà, với hình thức chạm nổi các chủ đề như hình tứ linh, rồng lá…mang phong cách nghệ thuật triều Nguyễn.
Thượng điện là một nếp nhà được kết nối với gian chính giữ của Tiền đường, gồm bốn gian, năm bộ vì kèo. Nơi cao nhất trên Thượng điện đặt bộ tượng Tam Thế, kế đó là bộ tượng Di Đà Tam Tôn. Hàng tượng thứ ba là tượng Quan Âm Chuẩn Đề. Hàng tượng thứ tư là tượng Ngọc Hoàng. Hàng thứ Năm là tòa Cửu long. Phía sát tường hậu của Thượng điện là tượng Đức Ông, đức Thánh Hiền. Ngoài Tiền đường, hai bên đặt tượng hai vị Hộ Pháp. Các pho tượng phần lớn đều mang phong cách điêu khắc tượng thời Nguyễn, tuy không có nét đặc biệt song đều khá thanh thoát.
Nhà Tổ ở phía sau khu thờ chính, gồm một nếp nhà năm gian hai dĩ, được xây dựng theo lối tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta, có sáu bộ vì kết cấu theo kiểu thượng rường hạ ket. Nhà Mẫu ở bên trái phía sau chùa, tương tự nhà Tổ, gian giữa thờ Tam Tòa Thánh Mẫu, gian phải thờ Đức thánh Trần, gian trái thờ Mẫu Sơn Trang.
Nhà hậu Phật nằm ở phía sau, ốp sát tường hậu của tòa Thượng điện, gồm một nếp ba gian hai nhỏ, trong đặt ban thờ đức Địa Tạng.
Chùa Linh Xá đến nay qua nhiều lần trùng tu, bổ sung các hạng mục mới song đến nay về cơ bản vẫn giữ được những nét căn bản của một ngôi chùa Việt truyền thống. Khu vực quan trọng nhất của chùa là Tiền đường, Thượng điện vẫn bảo lưu được nhiều nét về kiến trúc và điêu khắc thời Nguyễn, thế kỷ XIX. Ngoài kiến trúc, hệ thống tượng pháp, chùa còn lưu giữ được khá nhiều cổ vật khác trong đó có 13 bia đá. Thông qua các văn bia này có thể khai thác được nhiều thông tin quan trọng liên quan đến đời sống tín ngưỡng của nhân dân địa phương qua các thời kỳ, có giá trị cao về mặt tư liệu.
Chùa Linh Xá đã được Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội xếp hạng là di tích lịch sử - Văn hóa năm 2007.
https://chonthieng.com/dia-diem/chua-linh-xa-thanh-tri-ha-noi/
