26/05/2026
Nước nào khai thác than nhiều nhất Đông Nam Á? Sản lượng than đá của nước này chiếm gần 1/10 toàn cầu. Theo bạn, đây là Việt Nam, Myanmar hay Indonesia?
Công ty Cổ phần Kinh doanh than Miền Bắc - Vinacomin
26/05/2026
Nước nào khai thác than nhiều nhất Đông Nam Á? Sản lượng than đá của nước này chiếm gần 1/10 toàn cầu. Theo bạn, đây là Việt Nam, Myanmar hay Indonesia?
26/05/2026
MỖI NGÀY MỘT LỜI BÁC HỒ DẠY
“Học với hành phải đi đôi. Học mà không hành thì học vô ích.
Hành mà không học thì hành không trôi chảy”.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến việc huấn luyện học tập, tại Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn luyện và học tập vào tháng 5 năm 1950, Người đến dự và nói về mối quan hệ giữa học và hành. Theo Người, học phải luôn gắn bó hữu cơ, không tách rời với hành, học để ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống vốn đa dạng và phong phú. Học mà không hành, không áp dụng vào thực tế khác nào chiếc hòm đựng đầy sách, hành mà không học thì hành không trôi chảy. Muốn thực hành tốt đòi hỏi người học phải được trang bị những tri thức, kiến thức. Quan điểm của Người đã trở thành bài học sâu sắc có tác dụng kêu gọi mọi người đem việc gắn bó với thực tiễn nước nhà, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tỏ quốc. Học đi đôi với hành cũng là nguyên lý giáo dục cơ bản của Đảng và Nhà nước ta; phê phán lối học suông, học cốt lấy chữ nghĩa, lấy mảnh bừng, lối học kinh viện, không nhằm mục đích phục vụ thực tiễn.
Thấm nhuần nguyên lý: “ Học đi đôi với hành” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta chủ trương nâng cao chất lượng dạy và học trong các hệ thống bậc học, cấp học, chung tay xây dựng một xã hội học tập, xem học tập như một nhu cầu tất yếu của cuộc sống và có thể học ở mọi lúc, mọi nơi, học bằng nhiều cách. Học không chỉ học văn hóa mà còn phải học các kiến thức khác để làm việc, để sáng tạo, để sống tốt hơn, Một nền giáo dục mà “cả nước là một xã hội học tâp” sẽ là dộng lực thúc đẩy mọi người có trách nhiệm học tập, học tập để không bị lạc hậu và theo kịp bước tiến của khoa học, công nghệ, thời đại, để có điều kiện phụng sự Tổ quốc, phụng sự Nhân dân và phát triển bản thân. Công tác huấn luyện, giáo dục đào tạo trong quân đội luôn đã được cụ thể hóa trong ba quan điểm, 8 nguyên tắc, 6 mối kết hợp trong huấn luyện, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, sẵn sàng chiến đấu trong toàn quân, đáp ứng kịp thời phương hướng xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.
ST.
26/05/2026
Bảo vệ sức khỏe trong thời tiết nắng nóng
Các chuyên gia khí tượng cho rằng, trong tháng 5, nắng nóng có xu hướng gia tăng ở hầu khắp các khu vực trên cả nước. Riêng số ngày nắng nóng có khả năng xuất hiện nhiều hơn so với trung bình nhiều năm tập trung ở khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ (các tỉnh, thành phố từ Thanh Hóa-Huế). Nắng nóng có thể gây tình trạng mất nước đối với cơ thể người khi tiếp xúc lâu với nền nhiệt độ cao, nếu không được bù kịp thời sẽ dẫn tới giảm khối lượng tuần hoàn dẫn tới trụy tim mạch, rối loạn điện giải nặng có thể gây tử vong... Để phòng tránh nắng nóng, các chuyên gia y tế khuyến cáo, người dân hạn chế ra ngoài trời khi trời nắng nóng trong khoảng thời gian từ 10h đến 16h, nếu buộc phải ra ngoài cần mặc quần áo bảo hộ, đội mũ, nón, kính và khẩu trang để tránh ánh nắng trực tiếp. Người dân không làm việc quá lâu ngoài trời nắng hoặc trong môi trường nóng bức, tránh các hoạt động thể lực quá sức….
26/05/2026
Những cách tiết kiệm điện hiệu quả trong ngày nắng nóng
Bước vào cao điểm nắng nóng, nhu cầu sử dụng điện tăng mạnh. Để kiểm soát và tiết kiệm điện, người dân cần sử dụng các thiết bị có dán nhãn tiết kiệm năng lượng, thường xuyên vệ sinh bảo dưỡng thiết bị, rút phích cắm khi không sử dụng…, nhờ đó giảm chi phí tiền điện hằng tháng và cũng góp phần bảo vệ môi trường.
22/05/2026
🛑🆘 AI ĐANG Ở CAO BẰNG VÀ QUẢNG NINH CHÚ Ý
22/05/2026
Từ 01/7, chia sẻ tin sai sự thật trên mạng xã hội bị phạt đến 50 triệu đồng
Chính phủ ban hành Nghị định số 174/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, giao dịch điện tử và công nghệ thông tin. Trong đó, đáng chú ý là các quy định xử phạt đối với hành vi vi phạm về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội.
Nghị định gồm 8 chương, 117 điều và sẽ có hiệu lực thi hành từ 1/7.
Liên quan vi phạm về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội, Nghị định quy định mức phạt tiền từ 20 - 30 triệu đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để thực hiện một trong các hành vi sau:
Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân.
Cung cấp, chia sẻ thông tin cổ súy cho tệ nạn xã hội, mại dâm, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy; phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Cung cấp, chia sẻ thông tin miêu tả tỉ mỉ hành động chém, giết, tai nạn, kinh dị, rùng rợn.
Cung cấp, chia sẻ các tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm mà không được sự đồng ý của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc chưa được phép lưu hành hoặc đã có quyết định cấm lưu hành hoặc tịch thu.
Quảng cáo, tuyên truyền, chia sẻ thông tin về hàng hóa, dịch vụ bị cấm.
Cung cấp, chia sẻ hình ảnh bản đồ Việt Nam nhưng không thể hiện hoặc thể hiện không đúng chủ quyền quốc gia.
Cung cấp, chia sẻ đường dẫn đến thông tin trên mạng có nội dung bị cấm
Lợi dụng mạng xã hội để sản xuất nội dung dưới hình thức phóng sự, điều tra, phỏng vấn báo chí.
Các cơ quan báo chí không thực hiện thông báo khi thiết lập tài khoản, trang cộng đồng, kênh nội dung, nhóm cộng đồng trên mạng xã hội trong và ngoài nước theo quy định.
Chủ tài khoản, chủ kênh nội dung, chủ trang cộng đồng, người quản trị nhóm cộng đồng trên mạng xã hội không thực hiện ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin vi phạm pháp luật, thông tin ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác, thông tin ảnh hưởng đến trẻ em đăng tải trên tài khoản, trang cộng đồng, nhóm cộng đồng hoặc kênh nội dung của mình khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
Cũng theo Nghị định 174, mức phạt 30 - 50 triệu đồng được áp dụng với một trong các hành vi sau:
Cung cấp, chia sẻ thông tin xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật Nhà nước, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Cung cấp, chia sẻ thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế - xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan Nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Về biện pháp khắc phục hậu quả, Chính phủ quy định chủ thể vi phạm buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn hoặc thông tin vi phạm pháp luật do thực hiện hành vi vi phạm.
Với những vi phạm bị phạt 30-50 triệu đồng, quy định nêu rõ biện pháp khắc phục là buộc khóa tài khoản, trang cộng đồng, nhóm cộng đồng hoặc kênh nội dung do thực hiện hành vi vi phạm.
Nguồn: Bảo Thắng vươn mình.
19/05/2026
Chính thức: Tăng lương cơ sở lên 2.530.000 đồng/tháng từ 01/7/2026 Chính phủ ban hành Nghị định số 161/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 quy định mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Theo đó, mức lương cơ sở sẽ tăng lên 2.530.000 đồng/tháng k...
19/05/2026
Những điều cần lưu ý về tạm hoãn xuất cảnh do nợ thuế
Để giúp người nộp thuế hiểu đúng quy định, chủ động thực hiện nghĩa vụ thuế, cập nhật kịp thời các thông báo từ Cơ quan Thuế và tránh những phát sinh không đáng có khi làm thủ tục xuất cảnh, Cục Thuế đã thông tin rõ hơn về các trường hợp bị tạm hoãn xuất cảnh và quy trình thông báo cũng như những lưu ý quan trọng người nộp thuế cần biết.
(TTXVN)
19/05/2026
Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi đường cho cách mạng Việt Nam
"Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Nhân dân ta giành thắng lợi”
Nguồn gốc và sự hình thành Tư tưởng Hồ Chí Minh: Sự kết tinh tinh hoa văn hóa dân tộc và trí tuệ nhân loại
Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là một hệ thống lý thuyết giáo điều, khô cứng mà là một thực thể sống động, được hình thành từ sự chắt lọc, kết tinh và nâng tầm những giá trị cao đẹp nhất của nhân loại. Đó là sự hòa quyện giữa truyền thống yêu nước nồng nàn, ý chí tự lực tự cường của dân tộc Việt Nam với tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây, mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lênin. Cụ thể là:
Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Từ chủ nghĩa yêu nước, Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, tiếp thu bản chất khoa học và cách mạng của học thuyết này. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người đã vận dụng và phát triển sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin để giải quyết thành công những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đây là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận giúp Người tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, đưa ra những dự báo thiên tài và vạch ra con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc. “Chủ nghĩa Mác - Lênin là cái kim chỉ nam cho hành động, chứ không phải là kinh thánh... Đối với chúng ta, chủ nghĩa Mác - Lênin không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, mà còn là cái gương soi cho chúng ta thấy rõ đường đi”[2]
Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự kế thừa các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống, ý chí độc lập, tự cường, đoàn kết nhân ái, khoan dung, tinh thần cộng đồng, lạc quan, yêu đời, cần cù, thông minh, sáng tạo… của dân tộc Việt Nam được Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng và phát triển. Tư tưởng của Người là sự kết tinh những tinh hoa văn hoá, tinh thần, trí tuệ, đạo đức Việt Nam. Vì vậy, Đảng ta khẳng định: “Dân tộc ta, Nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, Người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, non sông đất nước ta”[3].
Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của việc tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. Trong suốt cuộc đời, đặc biệt là trong quá trình đi tìm con đường cứu nước, Hồ Chí Minh luôn luôn tìm tòi, học hỏi, tiếp thu có chọn lọc, có phê phán các quan điểm, các trào lưu tư tưởng phương Đông và phương Tây và trên thế giới, vận dụng vào thực tiễn Việt Nam, phát triển, trở thành tư tưởng của mình. Người đã tiếp thu có chọn lọc những yếu tố tích cực của Nho giáo (về tu thân, chính tâm), Phật giáo (về lòng từ bi, bác ái), Lão giáo (về sự hài hòa với tự nhiên) và tư tưởng dân chủ tư sản Pháp, Mỹ.
Thứ tư, những nhân tố chủ quan thuộc về phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh. Đó là khả năng tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo cùng với sự nhận xét, phê phán tinh tường, sáng suốt trong việc nghiên cứu và tìm hiểu. Đó là sự khổ công học tập nhằm chiếm lĩnh vốn tri thức của nhân loại, kinh nghiệm đấu tranh của nhân dân thế giới trong phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân quốc tế. Đồng thời, trong quá trình đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã trải qua cuộc sống của người công nhân lao động thực sự, luôn hoà mình với đời sống của giai cấp cần lao. Đó là những yếu tố chủ quan then chốt, quyết định bước chuyển từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, để Người trở thành một chiến sỹ nhiệt thành, thương yêu những người cùng khổ, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của đồng bào.
Tất cả những yếu tố đó cùng với những năng lực bẩm sinh, những phẩm chất cao quý trên giúp Hồ Chí Minh tiếp nhận có chọn lọc, chuyển hoá và phát triển tinh hoa dân tộc và thời đại thành tư tưởng đặc sắc của mình - Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Quan điểm Độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội - Sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong lịch sử cách mạng Việt Nam
Nội dung cốt lõi, xuyên suốt nhất của Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là luận điểm: “Độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Đây là quy luật phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.
Theo Người, độc lập dân tộc là tiền đề, là điều kiện tiên quyết để xây dựng chủ nghĩa xã hội; và ngược lại, chủ nghĩa xã hội là cơ sở vững chắc nhất để giữ vững độc lập dân tộc và mang lại tự do, hạnh phúc thực sự cho Nhân dân. Người khẳng định: “Nếu nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”[5]. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói về chủ nghĩa xã hội một cách sâu sắc và khoa học, nhưng lại giản dị, có sức cảm hóa rất lớn đối với Nhân dân. Với câu hỏi chủ nghĩa xã hội là gì, Người trả lời rất sáng tỏ: “xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”[6]. Luận đề tổng quát đó được Người cụ thể hóa thêm: “Chủ nghĩa xã hội nghĩa là tất cả mọi người các dân tộc ngày càng ấm no, con cháu chúng ta ngày càng sung sướng”[7]. “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu nước mạnh”[8]. Như vậy, chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh là một xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Là xã hội mà ở đó con người được phát triển toàn diện, không còn cảnh người bóc lột người, ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Đây chính là động lực mạnh mẽ nhất để quy tụ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Để thực hiện được mục tiêu cao cả đó, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng. Người khẳng định: “Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”[9]. Đảng phải là đạo đức, là văn minh, phải luôn gắn bó mật thiết với Nhân dân và chịu sự giám sát của Nhân dân. Song hành với đó là việc xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân và vì dân - nơi quyền lực thuộc về Nhân dân và mọi hoạt động của bộ máy nhà nước đều phải hướng tới lợi ích của Nhân dân.
Giá trị thời đại và sức sống mãnh liệt của Tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới của cách mạng Việt Nam
Bước vào kỷ nguyên toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, có những luận điệu hoài nghi về sự phù hợp của Tư tưởng Hồ Chí Minh với cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, thực tiễn gần 40 năm đổi mới đã chứng minh rằng: Càng khó khăn, thách thức, chúng ta càng thấy rõ giá trị trường tồn và sức soi rọi của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong lĩnh vực kinh tế, tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; về vai trò của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đặc biệt là việc chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân vẫn còn nguyên giá trị. Người từng nói: “Làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người khá giàu thì giàu thêm”. Đây chính là mục tiêu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang theo đuổi.
Trong đối ngoại, phương châm “Dĩ bất biến ứng vạn biến” và tư tưởng “làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù chuốc oán với một ai” đã trở thành nền tảng của đường lối đối ngoại “ngoại giao cây tre” mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định. Nhờ vận dụng sáng tạo những chỉ dẫn của Người, Việt Nam đã từ một quốc gia bị bao vây, cấm vận trở thành một đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, ngày càng nâng cao vị thế và uy tín trên trường quốc tế.
Đặc biệt, trong bối cảnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đang diễn ra quyết liệt hiện nay, tư tưởng của Người về đạo đức cách mạng - “Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư” đã trở thành vũ khí sắc bén để làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không chỉ là một phong trào, mà đã trở thành nhu cầu tự thân, là thước đo phẩm giá của mỗi người cán bộ cách mạng.
Ngọn đuốc soi đường thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV và mục tiêu đến năm 2045
Năm 2026 là năm bản lề thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XIV - một dấu mốc quan trọng mở ra giai đoạn phát triển mới của đất nước. Việc khẳng định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động tiếp tục được Đảng ta nhấn mạnh như một nguyên tắc sống còn.
Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là ngọn đuốc soi đường để chúng ta giải quyết những mâu thuẫn, nút thắt trong quá trình phát triển. Đó là việc xử lý hài hòa giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa phát triển lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện công bằng xã hội. Người đã dạy: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”, và ngày nay, chúng ta đang nỗ lực xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm động lực nội sinh cho sự phát triển của đất nước.
Để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta cần:
Kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hòng xuyên tạc, phủ nhận giá trị của Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Vận dụng sáng tạo, linh hoạt các nguyên lý của Tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của thời đại số, kinh tế tri thức.
Thực hiện nêu gương: Cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải thực sự là tấm gương sáng về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng những hành động thiết thực, hiệu quả.
Nhìn lại chặng đường lịch sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam, chúng ta càng thêm tự hào và vững tin vào con đường mà Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của cách mạng Việt Nam, mà còn là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn, thắp sáng niềm tin và khát vọng phát triển đất nước trong thời đại mới. Dưới ánh sáng tư tưởng của Người, dân tộc Việt Nam nhất định sẽ thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng và sự tiến bộ của nhân loại.
19/05/2026
THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Nhân kỷ niệm 136 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh 19/5/1890-19/5/2026, xin trân trọng giới thiệu khái quát thân thế và sự nghiệp cách mạng của Người.
1. Thân thế và thuở thiếu thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước khi ra đi tìm đường cứu nước
Ngày 19/5/1890: Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, lớn lên đi học lấy tên là Nguyễn Tất Thành, hoạt động cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc) sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, tại làng Hoàng Trù, xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, nay thuộc xã Kim Liên, tỉnh Nghệ An. Thân phụ là Nguyễn Sinh Sắc, thân mẫu là Hoàng Thị Loan. Từ lúc sinh ra đến 5 tuổi, Nguyễn Sinh Cung sống trong sự chăm sóc đầy tình thương yêu của gia đình, đặc biệt là ông bà ngoại.
Năm 1895: Nguyễn Sinh Cung theo gia đình vào sống ở Huế.
Đầu năm 1901: Sau khi thân mẫu qua đời, Người theo cha trở về Nghệ An, rồi lấy tên là Nguyễn Tất Thành, tích cực học chữ Hán và còn theo cha đi một số nơi, học thêm nhiều điều.
Năm 1906: Nguyễn Tất Thành theo cha vào Huế, thời gian đầu học trường Pháp - Việt, sau học trường Quốc học Huế.
Tháng 6/1909: Nguyễn Tất Thành theo cha vào Bình Định.
Tháng 8/1910: Người vào Phan Thiết, Bình Thuận làm giáo viên trường Dục Thanh.
Tháng 02/1911: Nguyễn Tất Thành vào Sài Gòn.
2. Quá trình hoạt động cách mạng
2.1. Giai đoạn1911 - 1920
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nho yêu nước, ở một làng quê giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng; chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, Người đã sớm hun đúc ý chí và khát vọng cháy bỏng giành độc lập tự do cho dân, cho nước.
Ngày 5/6/1911: Với tên gọi mới là Văn Ba, Người đã lên tàu Amiran Latusơ Tơrêvin, rời bến cảng Nhà Rồng đi Mác xây (Pháp).
Từ năm 1912 -1917: Nguyễn Tất Thành đi qua một số nước châu Phi, châu Mỹ. Giữa năm 1913, Người đến nước Anh, tham gia nhiều hoạt động.
Cuối năm 1917: Người trở lại nước Pháp.
Đầu năm 1919: Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng Xã hội Pháp.
Tháng 6/1919: Nguyễn Ái Quốc thay mặt Hội những người yêu nước Việt Nam tại Pháp gửi bản yêu sách gồm 08 điểm tới Hội nghị các nước đế quốc họp ở Véc-xây (Pháp), đòi chính phủ các nước họp Hội nghị phải thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam.
Tháng 7/1920: Nguyễn Ái Quốc đọc được Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa.
Tháng 12/1920: Nguyễn Ái Quốc tham gia Đại hội Đảng Xã hội Pháp. Tại đây Người đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế III và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành người Cộng sản đầu tiên của Việt Nam.
2.2. Giai đoạn 1921 - 1930
Từ năm 1921 đến tháng 6/1923: Nguyễn Ái Quốc tham gia nhiều hoạt động: thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa; dự Đại hội lần thứ I và lần thứ II của Đảng Cộng sản Pháp; sinh hoạt trong Câu lạc bộ Phôbua; làm Chủ nhiệm kiêm chủ bút Báo Người cùng khổ...
Ngày 13/6/1923: Người rời nước Pháp đi Đức và đến thành phố Xanhpêtécbua (Liên Xô) ngày 30/6/1923.
Từ tháng 7/1923 đến tháng 10/1924: Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt động trong phong trào cộng sản quốc tế, bổ sung và phát triển lý luận về cách mạng thuộc địa. Người hoạt động trong Quốc tế Nông dân; tham dự Đại hội II Quốc tế Công hội đỏ, Đại hội Quốc tế Cộng sản Thanh niên; tiếp tục viết nhiều sách báo tuyên truyền cách mạng, hoàn thành tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp; học tập tại trường Đại học phương Đông; tham gia Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản và được chỉ định là cán bộ Ban phương Đông Quốc tế Cộng sản.
Tháng 11/1924: Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô về Quảng Châu (Trung Quốc).
Tháng 6/1925: Người thành lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, trực tiếp mở các lớp huấn luyện cán bộ, ra Báo Thanh niên (1925), tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam, chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc được tập hợp và in thành tác phẩm Đường Cách mệnh, được xuất bản vào năm 1927.
Mùa hè năm 1927: Nguyễn Ái Quốc rời Trung Quốc đi Liên Xô, sau đó đi Đức (tháng 11/1927) rồi bí mật sang Pháp, đến nước Bỉ dự cuộc họp của Đại hội đồng liên đoàn chống đế quốc (tháng 12/1927), rồi quay lại Đức, đi Thụy Sỹ, sang Italia.
Tháng 7/1928: Nguyễn Ái Quốc tới Xiêm (Thái Lan), rồi trở lại Trung Quốc vào cuối năm 1929.
Từ ngày 06/1 đến ngày 07/2/1930: Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc)
2.3. Giai đoạn 1930 - 1945
Từ năm 1930 đến năm 1941: Tuy hoạt động ở nước ngoài nhưng Nguyễn Ái Quốc vẫn chỉ đạo sát sao phong trào cách mạng trong nước.
Tháng 6/1931: Người bị nhà cầm quyền Anh bắt giam ở Hồng Kông.
Cuối năm 1932: Người được trả tự do, sau đó đến Liên Xô học tại trường Quốc tế Lênin.
Tháng 10/1938: Người rời Liên Xô đến Diên An (Trung Quốc) làm việc tại Bộ chỉ huy Bát lộ quân, sau đó bắt liên lạc với tổ chức Đảng, chuẩn bị về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam.
Ngày 28/1/1941: Sau hơn 30 năm xa Tổ quốc, Nguyễn Ái Quốc trở về nước (tại cột mốc 108 thuộc xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng).
Từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941: Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tại Khuổi Nặm (Pắc Bó, Cao Bằng). Hội nghị đã xác định đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc, chỉ đạo thành lập Mặt trận Việt Minh, sáng lập Báo Việt Nam Độc lập, tổ chức lực lượng vũ trang giải phóng, xây dựng căn cứ địa cách mạng.
Tháng 8/1942: Lấy tên là Hồ Chí Minh, Người đại diện cho Mặt trận Việt Minh và Phân hội Việt Nam thuộc Hiệp hội Quốc tế chống xâm lược sang Trung Quốc bắt liên lạc với Đồng minh, cùng phối hợp hành động chống phát xít trên chiến trường Thái Bình Dương. Người bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam trong các nhà lao của tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Trong thời gian bị giam giữ, Người viết cuốn Nhật ký trong tù.
Tháng 9/1943: Người được thả tự do.
Tháng 9/1944: Hồ Chí Minh trở về căn cứ Cao Bằng.
Tháng 12/1944: Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tháng 5/1945: Hồ Chí Minh từ Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang). Tại đây theo đề nghị của Người, Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc dân đã họp quyết định Tổng khởi nghĩa. Đại hội Quốc dân đã bầu ra Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.
Tháng 8/1945: Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi.
Ngày 02/9/1945: Tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Người đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).
2.4. Giai đoạn 1945 - 1954
Từ năm 1945-1946: Người cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, đối phó với thù trong, giặc ngoài, đưa cách mạng Việt Nam vượt qua tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”; tổ chức Tổng tuyển cử trong cả nước, bầu Quốc hội và thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Việt Nam. Quốc hội khóa I (1946) đã bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ngày 02/03/1946: Chính phủ Liên hiệp kháng chiến được thành lập do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.
Ngày 03/11/1946: Chủ tịch Hồ Chí Minh được Quốc hội giao nhiệm vụ thành lập Chính phủ mới do Người làm Chủ tịch nước kiêm Thủ tướng Chính phủ (từ tháng 11/1946 - đến tháng 9/1955) và kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.
Năm 1951: Đại hội lần thứ II của Đảng, Người được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, mà đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, đưa miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
2.5. Giai đoạn 1954 - 1969
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết. Quân Pháp rút về nước, miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng. Theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, sau 2 năm sẽ tổ chức Tổng tuyển cử thống nhất nước Việt Nam. Nhưng đế quốc Mỹ với ý đồ xâm lược Việt Nam từ lâu, đã lợi dụng cơ hội, gạt Pháp ra, nhảy vào tổ chức, chỉ huy ngụy quyền, ngụy quân tay sai, viện trợ kinh tế quân sự, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, chia cắt lâu dài nước ta. Cả dân tộc ta lại bước vào cuộc chiến đấu chống xâm lược mới. Trước bối cảnh đó, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục lãnh đạo nhân dân thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Tháng 10 /1956: Tại Hội nghị Trung ương Đảng mở rộng lần thứ X (khóa II), Chủ tịch Hồ Chí Minh được cử giữ chức Chủ tịch Đảng.
Năm 1960: Tại Đại hội lần thứ III của Đảng, Người được bầu lại làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Quốc hội khóa II, khóa III bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cùng với Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đường lối đúng đắn, lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và công cuộc cải tạo, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc thắng lợi; đặt nền móng và không ngừng vun đắp tình hữu nghị giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc trên thế giới, giữa Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) với các Đảng Cộng sản và phong trào công nhân quốc tế.
Ngày 02/9/1969: Chủ tịch Hồ Chí Minh trút hơi thở cuối cùng. Sự ra đi của Người là tổn thất vô cùng lớn lao. Đồng bào và chiến sĩ cả nước ta thương nhớ Người khôn xiết. Sự ra đi của Người để lại muôn vàn tình thương yêu cho toàn Đảng, toàn dân tộc Việt Nam và tình đoàn kết thân ái với nhân dân tiến bộ trên thế giới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, dân tộc ta, nhân dân ta và vì hòa bình, tiến bộ xã hội trên thế giới. Người đã trải qua một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi là tấm gương sáng ngời cho lớp lớp thế hệ người Việt Nam học tập và noi theo.
Tên tuổi và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ còn mãi với non sông đất nước, sống mãi trong lòng mỗi chúng ta.