Gà nòi - Nơi bảo tồn giá trị

Gà nòi - Nơi bảo tồn giá trị

Share

Nơi chia sẻ kinh nghiệm

- Nơi sưu tầm
- Nơi chia sẻ kinh nghiệm
- Nơi Giao lưu về thú chơi dân gian chọi gà Việt Nam
- Nơi lưu trữ dữ liệu về kinh nghiệm chọn, nuôi, huấn luyện gà nòi
- Nơi thỏa mãn niềm đam mê
- ...

Kết nối với chúng tôi qua kênh youtube: Review King Of Chickens
Link liên kết: https://www.youtube.com/channel/UCypVSM6zzZ-CahDAv5JX3Ag

Photos 22/08/2016

NGHỆ THUẬT NUÔI & HUẤN LUYỆN LUYỆN GÀ CHỌI ĐÒN

Nghệ thuật chăn nuôi & huấn luyện gà chọi
Sau đây là những kinh nghiệm được đúc kết từ nhiều năm nuôi & luyện gà chiến:
Từ một con gà mộc, để trở thành một con gà có, đủ thể chất chinh chiến (vừa rắn chắc về cơ bắp, vừa dẻo dai về sức bền & phải có lực bật tức thời), đòi hỏi người chơi phải công phu lắm, Biết kế thừa những kinh nghiệm cổ truyền, kết hợp với những sáng tạo khoa học tiên tiến cùng sự chịu khó đến đam mê ngón nghề, người chơi mới thành công được:

A) 3 NỘI DUNG CHÍNH VỀ VIỆC NUÔI GÀ CHỌI: 1 Ăn, 2 Vần, 3 Om.
1) CHẾ ĐỘ ĂN:
Gà chọi là giống gia cầm, thức ăn chủ yếu là ngũ cốc. Kinh nghiệm cho thấy, muốn cho cơ bắp gà rắn chắc nên cho gà ăn thóc tẻ là chính, ngoài ra điểm phụ thêm một ít “mồi & rau, quả khác.
Cách cho ăn : Mỗi ngày cho gà ăn 2 bữa thóc: Sáng từ 6h - 7h, chiều 17h - 18h tuỳ theo mùa đông hay mùa hè; Buổi trưa khoảng 12h - 13h cho ăn phụ thêm ít mồi & rau quả tươi cho đủ chất.
Lượng thức ăn: Mỗi bữa không được cho gà ăn no hết dung tích diều, cho ăn như vậy gà vừa béo vừa lười, không chịu hoạt động lùng sục tìm ăn, mất hết bản năng sinh tồn trong thiên nhiên, hại vô cùng. Vậy lượng ăn mỗi bữa chỉ khoảng 1/2 đến 2/3 dung tích diều, sao cho sau khi ăn xong bữa, không quá 4h đồng hồ, tức là khoảng 10h -11h trưa trong diều không được còn một hạt thóc nào là vừa; với lượng ăn sáng này, đến 12h - 13h trưa, gà đói, bắt đầu sục bới tìm ăn, chủ gà cho ăn bổ sung mồi & rau hoặc quả) cho đỡ đói, chờ bữa ăn chiều. “Mồi” là thức ăn dầu đạm (protein), ít mỡ (lipit) & đủ chất khoáng. Dưới đây là một số loại mồi hay dùng:

a) Thịt nạc (thịt chó, thịt bò, đùi cóc đã làm sạch).
b) Trạch, tôm, tép, hay cá nục tươi cắt nhỏ, rửa sạch các loại mồi ở trên nên thay đổi xen kẽ nhau cho gà ăn rất tốt.
c) Thức ăn chuyên dùng cho gà chọi sản xuất (Chiken Gola, Chiken Win, Chiken King).

Các loại mồi đặc biệt:

a) Tắc kè, thảo long, thạch sùng, hải mã ngâm rượu, thỉnh thoảng cho ăn điểm thêm, rất bổ.
b) Cua đồng băm nhỏ ăn ít chắc gà, ăn nhiều rạc gà.
c) Thịt bò băm nhỏ trộn với bột Mã Tiền, ủ thối lên dòi, mỗi ngày 1 gà chiến chỉ cần cho ăn 1 đến 2 con, gà rất sung, tuy vậy không nên ăn nhiều rất nóng.
Chú ý: Mã Tiền là độc dược, để bảo đảm an toàn, khi ủ mồi phải làm xa chỗ người & vật sinh sống. Nhớ mỗi tuần vào lúc mát trời, nên cho gà ăn thêm 2 lần Tỏi, 1 lần ớt (1 quả) tránh dịch toi & làm gà không quáng mắt.

2) PHƯƠNG PHÁP VẦN :
Vần vỗ gà chọi là cách thức tập luyện để chuyển biến 1 gà “mộc” thành 1 gà chiến. Có 3 hình thức vần gà:

a) Gà vần với gà: 2 gà cuốn chân, bịt hoặc thả mỏ ”quần thảo” với nhau, gọi là vần hơi hay vần đòn.
b) Gà vần tập với người: gọi là tập bộ, trong đó có hình thức tập ”quay thóc”.
c) 2 gà chạy lồng có người theo dõi đếm vòng. (các hình thức vần sẽ được trình bầy chi tiết ở phần sau).
Cường độ vần gà: Nguyên lý chung là vần gà theo mức độ hao tổn năng lượng từ thấp đến cao; từ hình thức đơn giản đến phức tạp. Khi đạt đến điểm đỉnh (MAX) của phong độ, ta phải cho tập với cường độ hạ dần, sao cho đúng ngày ra trường có thể lực hoàn chỉnh. Vậy 1con gà “mộc” muốn ra trường thi đấu được, cần vần theo “cung bậc” nào? Bảng vần sau đây đã được quy chuẩn: một gà mộc, nguyên lông lá, được xoa om qua chè tươi, chạy lồng & thuốc men khoảng 1 tuần, rồi nghỉ 2 ngày bắt đầu vào vần.
Công thức chung cho gà chọi đòn:
Vần 1 hồ đòn kỳ 1 (15 đến 20 phút) số ngày nghỉ là 8 ngày, Vần 1 hồ hơi (30 đến 40 phút) nghỉ 7 ngày.
Vần 2 hồ đòn kỳ 2 (17 đến 25 phút) nghỉ 14 đến 20 ngày, vần 2 hồ hơi (30 đến 40 phút) nghỉ 10 ngày.
Vần 3 hoặc 4 hồ đòn kỳ 3 (17 đến 25 phút ) nghỉ 21 đến 28 ngày bắn chân 5 phút, 3 ngày sau vần 4 hồ hơi (30 đến 40 phút) nghỉ 10 ngày bắn chân 5 phút, 4 ngày sau bắn chân 10 phút nghỉ 7 ngày cho ra trường.
Sau kỳ vần 3: kỳ bắn chân này đặc biệt quan trọng người chơi phải quan sát kỹ (SỨC BẬT khi giao chân - ĐỘ CHÍ CHỢP BÉN MỎ khi vào díu - ĐỘ CĂNG XIẾT khi tung chân đá - quan trọng hơn cả là THẦN KHÍ của “Chiến Kê“ thể hiện qua sắc đỏ & hơi thở trong khi bắn chân).
Muốn cho gà an toàn khi bắn chân, phải tìm gà “phu” bịt mỏ, cuốn chân to, đứng cho gà chiến “bắn”. Nên bắn chân hoặc vần gà những kỳ cuối vào lúc nào? Các hình thức vần gà đều nên chọn lúc thời tiết đẹp, lý tưởng nhất là ngoài trời có nắng nhẹ, khô ráo, nhiệt độ không quá nóng, lạnh. Ngược lại, không bắn chân hoặc vần gà vào ngày nắng to, nhiệt độ ngoài trời cao hoặc lúc gió mùa mưa rét, sẽ hỏng gà.
Thường sáng dậy, trước khi cho gà ăn, hãy cho gà chạy lồng, chia số vòng chạy lồng làm 2 hoặc 3 đợt, giữa mỗi đợt chạy, gà được phun nước chè để kích thích sự hưng phấn tự nhiên trong luyện tập. Sau khi chạy lồng, phun nước chè, xoa khô, cho dùng thuốc & ăn sáng rồi mới được “vào nghệ”.
VÀO NGHỆ là công đoạn không thề thiếu được trong “trình” nuôi gà chọi: Gà có săn chắc, sức chịu đòn cao & công lực phát ra nặng hay không, tuỳ thuộc chủ yếu vào việc làm này.
Vào nghệ như thế nào?: nghệ củ (nghệ nấu thuốc) nghệ này trong Miền Nam mới có nghệ được nấu với phèn chua, muối và các vị thuốc đặc biệt dành cho gà. Nghệ được mài hoặc đánh cho ngấu & sánh là được.
Lấy bàn chải hoặc cọ quét bôi nước nghệ gần khắp cơ thể gà, tập trung ở những vùng hay bị đòn đánh tới như: ĐẦU, MẶT, CẦN CỔ, VAI, LƯNG, CÁNH, HỐC NÁCH, HÔNG SƯỜN, NGỰC & những vùng hay sinh mỡ như: gầm bụng, đít gà.
Chú ý: Đùi vào nghệ nhạt hơn, phần khoeo gối càng vào loãng hơn nữa, tránh bị cứng gà.
RA NGHỆ Sau 6h đồng hồ vào nghệ, ta phải từng bước ra nghệ phun nước chè, xoa đều bớt nghệ lần 1, 4h đồng hồ sau lại phun nước chè, xoa đều ra bớt nghệ lần 2.
Tiếp đó bước vào tập “quay thóc” rồi ra nghệ lần 3 bằng cách om nước chè tươi đun sôi & phun tắm xoa khô bằng nước sôi để nguội hoặc rượu.
QUAY THÓC là cách tập bộ gà bằng việc cầm gáo thóc nhử gà đang đói chạy xoay tròn tại chỗ. Tổng số vòng chạy lồng & quay thóc khoảng 110 vòng/ngày. Ví dụ: hôm nay chạy lồng 70 vòng, thì số vòng quay thóc là 110 - 70 = 40 vòng; chủ gà điều khiển cho gà tập quay tại chỗ 10 vòng thuận chiều kim đồng hồ & 10 vòng ngược chiều kim đồng hồ cứ làm thế cho đủ 40 vòng.
Chú ý: Riêng ngày cuối của kỳ tập, để chờ vần lại, tổng số vòng tập giảm xuống còn 80 vòng để tránh mỏi. Ví dụ: ngày cuối của các kỳ tập, thường số vòng chạy lồng là 50 vòng, vậy số vòng quay thóc là 80 - 50 = 30 vòng. Một số lưu ý khi dùng thuốc: Nguyên tắc cơ bản khi dùng thuốc là biết phối hợp điều hoà tính HÀN & tính NHIỆT của các loại thuốc; biết lựa chọn thời tiết, thời khắc thích hợp để dùng thuốc không bị phản tác dụng, lại có hiệu quả cao. Ví dụ: Buổi trưa hè, nhiệt độ ngày đang cao 35- 36 độ C mà dùng các loại thuốc có tính nhiệt như Hải Cẩu Hoàn hay STRICHNIN, không những chẳng lợi mà còn có thể làm mất gân hoặc dạc gà. Ngược lại, trời lạnh, nhiệt độ ngày thấp 8 - 10 độ C, đừng uống SÂM tính hàn cao, hại gà. Khi dùng thuốc có tính NHIỆT cao như: Hải Cẩu Hoàn, STRICHNIN, Hổ Cốt, Nghệ v..v... phải cho ăn kèm theo cà chua mát, tránh táo bón. Mũi tiêm bắp (B12 hoặc B12 - 5500 MEXOCO) phải cách ngày ra trường ít nhất trước 7 ngày.
Những gà “mình thịt ” còn béo, các buổi sáng mát trời đều trong nuốt NGHỆ, ngoài vào nghệ liên tục cho đến khi ráo gà mới dừng “nuốt” nghệ. Khi gà đã đỏ khoẻ, nên thay mũi tiêm bắp B12 bằng việc uống 1 viên 3B, đỡ tiêm hại gà.
CÁC ĐỘNG TÁC TẬP BỘ Có tác dụng hỗ trợ, bổ sung & nhấn mạnh vào các động tác vận động trong thi đấu; tuy vậy luyện tập phải nhịp nhàng, các động tác càng tự nhiên càng tốt.
6 động tác tập bộ như sau: lắc cần cổ sang 2 bên, sau trước; giật nhẹ cánh xuống để gà tự giật trở lại; vuốt cánh treo gà lên & thả xuống nhẹ nhàng; ấn gà “đi tấn” gối sát đất (rất mỏi, làm ít); cánh tay chắn ngang diều, tay kia đập nhẹ vào lưng vào hông cho gà tập trường đẩy.
Tập quay tại chỗ: để dọc cánh tay khoác vào cần, vai gà, quay tay từ từ cho gà tự xoay theo; kéo hàm mỏ dưới, bật tay mỏ ngậm trở lại, tập vậy rất khoẻ hàm mỏ.
“QUẦN SƯƠNG” & “DÃI NẮNG” là hình thức rèn khổ luyện cho gà, chinh chiến trong hoàn cảnh thời tiết khắc nghiệt nắng nóng hoặc mưa lạnh; không ngần ngại khi sương xuống dày kín vào trời ĐÔNG lạnh, vẫn vần tập đều, càng không được sợ nắng nóng vì gà đã được phơi nắng hàng ngày.
Cách phơi nắng: buổi trưa có nắng phải phơi gà trên nền đất ẩm hoặc cỏ mát (nếu là nền xi măng, phải trải bao tải dầy, ẩm nước).
Thời gian phơi 1h nắng/ngày, trong lồng phơi phải có cóng nước. Chú ý: nếu nắng nóng 34 - 35 độ C trở lên, phải cho gà uống 1 lát SÂM khi phơi nắng.
3) OM CHƯỜM:
Om chườm gà chọi là việc làm cần thiết không thể thiếu, nhờ đó làm gà săn chắc, sức bền chịu tăng lên & ra đòn nặng hơn so với gà không được om.
Các công việc cần làm hàng ngày: sáng vào nghệ, trưa phun nước chè ra nghệ lần 1, chiều phun nước chè ra nghệ lần 2, trước bữa ăn chiều om nóng ra nghệ lần thứ 3, rồi tắm xoa khô & mắc màn cho gà ngủ.
Nồi om: gà sau khi vần, đá về nồi nước om gồm nghệ nguyên củ hoặc cau khô, ngải cứu & ít muối, nồi om này không để quá 4 ngày phải thay nước mới.
Nồi om mới tiếp theo vẫn vậy, chỉ thay ngải cứu bằng lá chè tươi, lá ỏi, không để quá 5 ngày lại thay nước mới, nguyên liệu không đổi.
Thao tác om: mỗi lần om nóng khoảng 10 đến 15 phút, nồi om đun sôi, bắc ra ngoài, om chườm theo thao tác (10 tay om) như sau:
- Tay 1 ( T1): Nhúng khăn om, vắt khô, chấm tảng, mặt, vuốt xuôi cần cổ xuống sống lưng, âu vai, cánh gà; chuyển nếp khăn lấy hơi nóng chấm 2 quả táo & day ngực gà; dở khăn om mặt trong cánh bên trái, rồi nắm khăn đấm vào gầm bụng, đít gà cuối cùng mở khăn còn ấm xoa mông, hông, đùi & gập nhẹ quản bàn ngón chân trái gà.
- Tay 2: Thao tác như T1, nhưng làm bên cánh & chân phải gà.
- Tay 3 - T4 làm lại như T1 - T2 lúc này nước đã nguội, tiếp tục om theo thao tác sau:
- Tay 5: nhúng khăn nóng, vắt khô, chỉ om cần mặt cổ gà, dở khăn lăn cổ, om âu vai, vuốt sống lưng. Nhúng khăn nóng lần nữa, vắt khô, vỗ đít, om ngực, vuốt phía trong cánh trái, om hông đùi chân trái.
- Tay 6: nhúng khăn 2 lần om như T5, nhưng làm với cánh & chân phải gà.
- Tay 7 - T 8, T 9 - T 10 làm lại như T5 - T6.
* NỒI OM CỔ TRUYỀN:
Là nồi om có 2 lớp: lớp ngoài gọi là nồi thành (gồm nghệ củ, chè tươi, lá ỏi, ngải cứu).
Lớp trong gọi là nồi quách (gồm vỏ cây gạo, rễ si, lá tre tước nhỏ, cắt ngắn, nghệ giã nhuyễn & ít muối).
Các thao tác T1,2,3,4,5,6 dùng nước om nồi Quách. Các thao tác T7,8,9,10 dùng nước om nồi Thành.
Chú ý: sau khi om, nhớ lấy khăn khô lau kỹ, dùng tay masage thư giãn toàn thân gà rồi cho thuốc, ăn chiều & mắc màn, ngủ bồ.

CÁC ĐIỀU CẦN THIẾT KHÁC, ĐỂ CÓ ĐƯỢC 1 GÀ CHIẾN :

1) Chuồng gà chiến: Kích thước: dài 2m , rộng 0,8m, cao 1,3m (chưa kể mái).
2) Trong chuồng có bàn đậu ăn, gáo uống dài 20cm, rộng 12cm máng trong chuồng cho gà uống.
Khoảng giữa chuồng có 2 cầu cao 10cm, cách 2 đầu hồi 70cm để gà trèo qua trèo lại dẻo gân vô cùng.
Chọn hướng Đông Nam hoặc Tây Nam để lấy nắng & gió lành. Nền chuồng đất thịt nện, cao ráo, có rãnh thoát nước xung quanh. Mái chống mưa nắng & tránh bức xạ mặt trời.

3) Muốn gà đá vần về chóng tan đòn, mau khoẻ, hãy dùng phương thuốc Gia Truyền phương thuốc gồm các vị sau:
Ma hoàng 2 đồng cân.
Nhĩ hương 2 đồng cân
Thủ ô 5 đồng cân
Mộc qua 5 đồng cân
Thiên niên kiện 3 đ-c
Xương truật 2 đ - c
Địa liền 3 đ- c
Mộc dược 2 đ-c
Quế tần 3 đ-c
Huyết đằng 5 đ-c
Bách bộ 5 đ-c
Đỗ trọng 2 đ-c
Cẩu tich 4 đ-c
Lai quy 5 đ-c
Quế thông 3 đ-c
Xuyên sơn giáp 5 đ-c
Huyết giác 5 đ-c
Cam thảo 5 đ-c
Quế chi 3 đ-c
Khương hoạt 5 đ-c
Hồng hoa 1 đ-c
Quy vĩ 2 đ-c
Phong kỷ 5 đ-c.

Thuốc sao khô tán nhỏ, ¼ hoàn với mật ong uống sau khi đá, vần về (chỉ uống tối đa 4 - 5 ngày, mỗi ngày 1 hoàn bằng 1 đốt ngón tay) ; ¾ lượng thuốc còn lại ngâm rượu xoa vào vết đòn chóng tan, xoa vào chân đùi chóng hết mỏi.

Những chú ý cuối cùng: kỳ vần cuối trước khi ra trường thi đấu, phải vần trong điều kiện thời tiết tốt & chọn đối thủ thích hợp để giành thế thuận lợi cho “chiến kê” sắp ra trường.
Những ngày nghỉ sau kỳ vần cuối (hoặc kỳ bắn chân), phải thật để ý đến điều kiện ngoại cảnh, thời tiết quanh nơi thả gà.
Tránh gà chiến bị nắng nóng hoặc giá lạnh, đặc biệt đêm ngủ phải chọn nơi khô ấm, nhưng thoáng đãng, không muỗi mòng & nếu đêm mưa, không để hắt dột vào gà.
Trước ngày thi đấu 2 ngày, nghỉ vào nghệ, chỉ phun nước chè 3 lần & cuối ngày tắm sạch bằng nước ấm rồi lau khô cho ngủ sớm.

C) LUẬN VỀ SẮC MẠNG - TƯƠNG SINH TƯƠNG KHẮC 4 MÙA:

(phần này độc giả có thể tham khảo chi tiết ở bài trước)

D) CÁCH CHỌN GÀ ĐÁ THEO ĐÒN LỐI:

1) Chọn gà thế công: Chân đánh gẫy, ra dọc mau như “chớp giật”, biết mượn mỏ quăng theo, rất quí. Nếu không ra dọc, phải biết cườm cuốn 2 mang đá mé chật hoặc đấm giữ.
2) Chọn gà thế thủ:
a- Gà cưa cần 2 mang đá mé “suya”; nhỡ đà chui sâu thông vỉa hoặc thông cống, mọc lên đánh sốc nách hay rút gáy dữ.
b- Gà dựng kiệt 2 mang, biết tát dọc mau, đè mé đá chật được. Đối thủ thả đầu ba, phải biết búng tảng hoặc trầm đấm.
c- Gà đi dưới, hoặc vỉa 2 mang mọc lên đá xốc nách dữ, hoặc chui thông cống, đội ngược đối thủ lên đá rút gáy xoè gà.
Không chơi gà thậm thụt ra bắt hầu thật thà dễ thua.
TÓM LẠI: Gà đi trên phải biết triệt đầu dưới. Ngược lại, gà đi dưới phải cực kỳ kín đáo, hình thể phải liền bộ hơi ngóc lên là chí bắn liền, rồi lại ẩn sâu núp kỹ mới chơi được.

*************************************************

Để trang https://www.facebook.com/ganoinoibaotongiatri ngày một hoàn thiện, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các Sư kê. Mọi bài viết bổ sung, các sư kê có thể gửi về trang để quản trị viên có thể biên tập lên trang, chia sẻ cho các anh/ em có chung niềm đam mê ngày một có kiến thức sâu & rộng hơn của thú chơi Chọi gà (thú chơi dân gian của người Việt).
Và các Sư kê cũng đừng quên:
- Like trang để luôn được cập nhật bài viết mới;
- Chia sẻ với các anh/ em có chung niềm đam mê;
- Sưu tầm bài viết hữu ích gửi về Biên tập.
Chúc các sư kê luôn có những chiến kê tốt để phục vụ cho các kì lễ Hội làng Việt.
Trân trọng!

Photos from Gà nòi - Nơi bảo tồn giá trị's post 18/08/2016

PHÉP XEM MẠNG GÀ THEO KINH KÊ

Mọi người đều biết rằng kết quả thi đấu ngày nay hầu như phụ thuộc vào bổn bang và chế độ nuôi dưỡng. Nhưng một khi bổn bang và chế độ nuôi dưỡng là như nhau, mà điều này vốn là xu hướng chung, thì màu mạng chính là yếu tố tạo nên sự khác biệt. Chẳng hạn, ba mươi năm trước, chỉ một số ít sư kê ở Philippines sở hữu gà đá Mỹ nòi xịn, ngày nay thì hầu hết sư kê đều có thể tiếp cận những dòng gà danh tiếng này, bởi có rất nhiều trại gà cạnh tranh lẫn nhau để cung cấp gà đá chất lượng cho thị trường. Bổn bang tuy cực kỳ quan trọng nhưng nếu ai cũng có thì không thể lấy đó làm lợi thế. Các phương pháp biệt dưỡng và ốp cũng vậy, đa phần những sư kê nghiêm túc đều coi trọng và nắm vững cách thực hiện những công đoạn này. Bởi vậy, việc thành bại đôi khi lại do những yếu tố rất nhỏ quyết định. Chúng ta có thể coi phép xem màu mạng là một trong những yếu tố như vậy.
Phép này vốn được lưu truyền trong dân gian. Một điều chắc chắn là nó đã xuất hiện từ rất lâu vì gắn liền với một học thuyết cổ xưa: “thuyết Ngũ Hành”. Ngày nay, vẫn còn rất nhiều sư kê tin tưởng và áp dụng phép này vào các trận đá gà. Nó bao gồm nhiều yếu tố vốn không thể “định lượng”, điều dẫn đến khó khăn trong việc phân tích và đối chiếu. Bởi vậy mà có nhiều biến thể hay còn gọi là “môn phái” màu mạng khác nhau ra đời, mỗi “môn phái” lại sử dụng một tập hợp các yếu tố khác nhau. Trong phạm vi bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu phép xem màu mạng theo Kê kinh, một trong những tài liệu xưa nhất về chủ đề gà chọi xuất hiện cách nay hơn một thế kỷ.
Về nguồn gốc của Kê kinh, chúng ta không có thông tin nào khác ngoài mấy chữ “sách gà Phạm Công”. Tất cả những gì mà chúng ta biết ngày nay đều qua bản dịch nôm Kê kinh diễn nghĩa dạng thơ lục bát của Giao-hòa, lão-nhiêu Nguyễn Phụng Lãm. Bài được đăng trên báo Nông-cổ mín-đàm vào năm 1902. Điều dẫn đến suy đoán rằng sách được viết bằng chữ Hán hoặc Hán-Nôm. Bảo bản dịch là Kê kinh cũng được mà bảo không phải cũng được bởi chúng ta chỉ thấy ý chứ không hề thấy hình. Có quan điểm cho rằng tác giả Kê kinh là Tả Quân Lê Văn Duyệt (1763-1832). Tương truyền, Đức Ngài rất ham mê môn chọi gà và nuôi đến hàng ngàn chiến kê để nghiên cứu các phép xem tướng, xem vảy và đặc biệt là màu mạng gà. Tựu trung, nội dung của phép xem màu mạng này bao gồm bốn phần:
* Phân tích sắc lông chiến kê cùng với hành tương ứng.
* Sinh khắc của màu lông.
* Sinh khắc theo mùa (tứ thời sinh khắc).
* Sinh khắc theo ngày (nhật thần sinh khắc).

XEM TƯỚNG GÀ - ĐOÁN MẠNG GÀ CHỌI QUA MẦU LÔNG & MẦU CHÂN

Xem tướng gà - Chọi gà hay Đá gà là một trò chơi dân gian phổ biến ở Việt Nam. Trò chơi này đã xuất hiện ở Việt Nam từ thời nhà Lý, do những quân sĩ của Lý Thường Kiệt đem về sau những cuộc chinh phạt Chiêm Thành.

Ở Việt Nam mỗi địa phương đều có giống gà nòi nổi tiếng. Miền Bắc có gà Thổ Hà (Bắc Giang), Đồ Sơn (Hải Phòng), Nghi Tàm, Nghĩa Đô, Vân Hồ (Hà Nội). Miền Nam có gà Chợ Lách (Bến Tre), Cao Lãnh (Đồng Tháp), Châu Đốc (An Giang), Bà Điểm, Gà tre đá cựa một số bắt nguồn từ Hố Nai (Đồng Nai), Tân Biên (Biên Hòa) ... Tuy nhiên ở miền Nam chủ yếu đá gà cựa. Đá gà cựa là một hình thức sát phạt, người ta thường mua cựa sắt tra vào chân gà hoặc chuốt cựa gà thật bén. Chơi gà cựa thiên về ăn thua, không chiêm ngưỡng được tài nghệ của gà. Ở miền Trung chơi đá gà đòn, thế và chỉ đá gà con (không đá gà kiến, gà pha, ga ri ...).
Có nhiều tranh cãi và ngộ nhận về việc so sánh "khập khiễng" khi chọn màu hợp cách giữa màu lông ở trên thân mình gà và màu vảy ở quản gà khi xem tướng gà. Câu hỏi thường được dân chơi gà chọi đặt ra là "Thế nào mới là hợp cách?". Những người mới tập tễnh chơi gà chọi thì lại càng rối trí hơn về các tên gọi màu sắc lông khác nhau giữa gà đòn và gà cựa, giữa các địa phương gọi tên màu lông khác nhau. Do đó nếu xem lại trong Văn chương truyền khẩu chúng ta có một số câu ca dao đúng và một số câu ca dao sai do hiểu lầm hay không dựa trên cơ sở của Ngũ Hành mà ra.

Thí dụ:
"Gà ô chân trắng mẹ mắng cũng mua.
Gà trắng chân chì mua chi thứ ấy"

Câu ca dao trên hoàn toàn đúng vì dựa vào căn bản của Ngũ Hành.

Còn trong thí dụ dưới:
"Xám chân vàng cả làng mất váy"

Câu này tuy không hoàn toàn sai nhưng màu lông gà Xám được nhận xét 1 cách phổ quát tức là bao gồm cả Xám khô, Xám hồng (trong Nam gọi là Xám Điều hay Xám son), Xám sắt. Sự nhận xét này không dựa vào căn bản Ngũ Hành một cách xác thực mà chỉ dựa vào kinh nghiệm của một vài cá nhân, sự kiện xảy ra nên không có tính thuyết phục.

Bài viết tham khảo này hy vọng làm sáng tỏ phần nào cách phối trí giữa màu lông và màu chân gà để định nghĩa cho sự hợp cách trong môn chơi gà chọi. Theo định nghĩa thông thường ta có 5 sắc lông : Ô, Xám, Điều (Tía), Nhạn và Vàng (gà Cú và và Chuối cũng được xếp trong hạng này). Ngày nay khi xét đến sắc lông rất có nhiều phức tạp do những màu sắc mới được pha cản và cho ra những cái tên như Khét, Sữa, Bướm, vv ... Vậy làm thế nào để xác định cho đúng màu lông của con gà để định vị theo Phong thủy Ngũ hành cho nó?

I. LUẬN VỀ SẮC MẠNG CHIA THEO NGŨ HÀNH

Xám – Mộc, Ô – Thủy, Nhạn – Kim, Tía – Hỏa, Ó Vàng – Thổ, Ngũ Sắc không theo mạng nào cả.
Sắc mạng ăn thua nhau: Tía > Nhạn > Xám > Ó Vàng > Ô (lưu ý, dấu > để chỉ ăn, thắng)
Xuân (tháng 1 – 2 – 3)
Xám: Vượng,
Ó vàng: Tử
Tía: Tướng
Nhạn: Tù
Ô: Hưu

Hạ (tháng 4 – 5 – 6)
Xám: Hưu,
Ó vàng: Tướng
Tía: Vượng
Nhạn: Tử
Ô: Tù

Thu (tháng 7 – 8 – 9)
Xám: Tử
Ó vàng: Hưu
Tía: Tù
Nhạn: Vượng
Ô: Tướng

Đông (tháng 10 –112 – 12)
Xám: Tướng,
Ó vàng: Tù
Tía: Tử
Nhạn: Hưu
Ô: Vượng

* Tương sinh: nghĩa là hỗ trợ, giúp đỡ, kim --> thủy, thủy --> mộc, mộc --> hỏa, hỏa --> thổ, thổ --> kim, đi giáp một vòng, các hành sinh lẫn nhau.
* Tương khắc: là cản trở, khắc chế, kim > mộc, mộc >thổ, thổ > thủy, thủy > hỏa, hỏa > kim, các hành khắc lẫn nhau, không hành nào là vô địch.
* Tương hòa: là bình hòa, không hỗ trợ hoặc cản trở, kim ~ kim, mộc ~ mộc, thủy ~ thủy, hỏa ~ hỏa, thổ ~ thổ.
* Tương thừa: hàm ý “thừa thế lấn áp”, chẳng hạn “mộc khắc thổ”, nếu mộc quá mạnh hoặc thổ quá suy thì gọi là “mộc thừa thổ”.
* Tương vũ: hàm ý “khinh nhờn”, chẳng hạn “thủy khắc hỏa”, nếu hỏa quá mạnh hoặc thủy quá suy thì gọi là “hỏa vũ thủy”.

Sinh khắc của màu lông

* Nhạn: ăn ó vàng, xám – thua ô, điều.
* Xám: ăn ô, ó vàng – thua điều, nhạn
* Ô: ăn nhạn, điều – thua xám, ó vàng
* Điều: ăn xám, nhạn – thua ó vàng, ô
* Ó: vàng ăn điều, ô – thua nhạn, xám

* Luận “thắng - thua” thì quan hệ tương - khắc rất dễ hiểu, ví như “ta khắc địch” = ta thắng, địch thua, “địch khắc ta” = địch thắng, ta thua (khắc xuất ăn khắc nhập). Nhưng khi bàn về quan hệ tương-sinh thì biết ai thắng, ai thua? Về bản chất thì quan hệ tương-sinh là quan hệ hỗ trợ, giúp đỡ chứ không phải là quan hệ đối kháng. Tuy nhiên, khi áp dụng vào đá gà thì phải có ăn thua. Căn cứ theo ngũ hành luận thì sinh xuất bị thiệt, mất công lực, sinh nhập được lợi, tăng công lực --> sinh nhập ăn sinh xuất. Ví như “ta sinh địch” = ta thua, địch thắng, “địch sinh ta” = địch thua, ta thắng.

* Kê kinh không nói rõ thắng-thua trong quan hệ tương - sinh như thế nào nhưng ở phần nhật thần sinh-khắc, “sinh nhập” luôn thu được lợi thế trong khi “sinh xuất” bị liệt vào vận hạn. Chẳng hạn, ngày mộc thì gà tía mạnh nhất bởi mộc sinh hỏa, ngày thủy thì gà nhạn (kim) bị rơi vào ngày kỵ. Như vậy, chúng ta có thể mạnh dạn suy luận rằng “sinh nhập ăn sinh xuất”, điều này cũng thuận với ngũ hành luận. Phải nêu rõ như vậy bởi có tồn tại quan điểm trái ngược “sinh xuất ăn sinh nhập”, ví như ta sinh địch = ta thắng, địch thua, địch sinh ta = địch thắng, ta thua.

Tứ thời sinh khắc

* Tứ thời sinh khắc là quan hệ vượng-suy của các hành theo mùa.
* Xuân, hạ, thu, đông: bốn mùa tuần hoàn, hoán chuyển. Cuối mỗi mùa đều có một giai đoạn nhập thổ (tứ quý). Hành đại diện của các mùa: xuân - mộc, hạ - hỏa, thu - kim, đông - thủy, tứ quý - thổ.
* Quan hệ của màu gà theo mùa. Chẳng hạn, gà xám cực thịnh (vượng) vào mùa đông, mạnh (tướng) và mùa đông, ổn định (hưu) vào mùa hạ, sa sút (tù) vào tứ quý và bại (tử) vào mùa thu.
* Quan hệ của mùa theo màu gà. Chẳng hạn, vào mùa đông, gà ô cực thịnh (vượng), gà xám mạnh (tướng), gà nhạn ổn định (hưu), gà ó vàng sa sút (tù) và gà điều bại (tử).

II. PHÂN ĐỊNH MẦU LÔNG & MẦU MẮT THEO PHONG THỦY NGŨ HÀNH

A, Phân định mầu lông theo phong thủy ngũ hành:

Muốn phân định màu lông 1 cách chính xác chúng ta phải nhìn vào lông mã và lông bờm cổ của gà để xác định chứ không dựa trên lông ở thân hay đuôi gà. Đó chỉ là màu lông phụ để gọi cho dễ nhận diện con gà mà thôi. Thí dụ con gà có lông ức, lông đùi, lông cánh, lông đuôi màu đen nhưng lông mã và lông bờm cổ màu đỏ thì ta gọi là con gà Ô Tía hay Tía chứ không gọi nó là gà Ô được. Tuy chữ Ô đọc trước chữ Tía nhưng Ô không phải là màu lông chính mà là lông Tía là màu chủ đạo để định màu trong Phong Thủy Ngũ hành.

1. Gà Ô - mạng Thuỷ: đây là con gà có lông mã và bờm cổ màu đen, bất luận là mã kim hay mã tre hay mã lại. Con gà Ô hợp cách theo thứ tự các màu vảy sau đây: màu trắng, kế đến là đen và sau cùng là màu xanh hay màu chì (màu chì còn được gọi là màu da đá do màu đen pha với trắng hay xanh mà ra).
Những màu sau đây được xem là không hợp cách: đó là màu mây ráng đỏ do màu chân vàng pha màu đỏ bên trên vảy như màu mây. Thứ đến là màu chân vàng.
Ô Mã lại hợp cách chân đen.

2. Gà Xám - mạng Mộc: đây là con gà có lông mã và bờm cổ có màu xám khô, xám bẩn hay xám mã lại. Con gà Xám có màu lông này sẽ hợp các màu chân sau đây: màu chân đen, màu chân xanh, chì và sau cùng là màu chân vàng mây có pha ráng đỏ.
Những màu chân sau đây được xem là không hợp cách : đó là màu chân vàng và màu chân trắng. Trong câu ca dao ở trên "Xám chân vàng cả làng mất váy" ý muốn nói đến Xám tuyền mạng mộc. Còn những màu lông xám khác như Xám hồng hay Xám son thì màu chân vàng lại được xem là hợp cách vì màu lông chủ đạo của xám hồng là màu đỏ (tía) chứ không là xám nữa nên sự hợp cách thay đổi theo Ngũ Hành, vì trong trường hợp này lông Xám chỉ là tên gọi để nhận diện mà thôi. Riêng màu lông Xám sắt tức là gà Xám có lông mã và lông bờm cổ màu đen. Nếu lông mã và bờm cổ chỉ pha lẫn ít lông đen thì được gọi là Xám bẩn. Gà Xám bẩn chính là mạng Mộc nên rất kỵ màu chân trắng. Nhưng nếu gà Xám có mã và bờm cổ đen hoàn toàn thì đây là Xám Sắt chính hiệu hay gọi cho đúng màu lông là Xám Ô thì chân trằng lại đúng mạng và hợp cách.
Xám sắt (Xám Ô) hợp cách chân Xanh.

3. Gà Điều - mạng Hoả : đây là con gà có màu chiếm đại đa số trong các màu lông của gà chọi. Gà điều có lông mã và bờm cổ màu đỏ rực hay màu đỏ mật. Có nơi như ngoài Bắc hay miền Trung thì gọi đây là gà Tía. Còn trong miền Nam thì thường gọi là lông điều, riêng dân chơi gà cựa còn tuỳ theo màu lông cánh, đuôi, ức mà gọi con gà những cái tên nghe rất lạ là Khét, Que, ... như đã nói đến ở trên những màu lông này chỉ là phụ và giúp nhận diện màu lông con gà dễ dàng hơn mà thôi. Nếu những con gà khét, que này có mã và bờm cổ màu đỏ thì vẫn là gà mang mạng Hoả. Những màu chân sau đây được xem là hợp cách: chân xanh, chì, chân vàng mây có ráng đỏ và sau cùng là chân vàng.
Những màu chân được xem là không hợp cách: chân trắng và chân đen.
Gà Điều hợp cách chân xanh.

4. Gà Vàng - mạng Thổ : con gà có lông vàng ít được chuộng vì hay bị nhầm lẫn cho là màu lông gà Tam hoàng, gà tàu là loại gà thịt. Tuy nhiên có những loại màu lông khác cũng được xếp hạng là gà mạng Thổ đó là gà cú, gà bịp là tiếng ngoài Bắc gọi gà lông ó mã lại, gà có màu lông chuối trắng hay chuối vàng. Gà mạng Thổ thì hợp với các màu chân sau: chân vàng có ráng mây đỏ, chân vàng và chân trắng.
Những màu chân sau đây được xem không hợp cách với con gà mang mạng Thổ: đó là màu chân đen và chân xanh hay chì.
Con gà mạng Thổ không hợp cách.
Khi xét màu lông vàng thổ và màu lông điều đỏ thì nhiều người hay lẫn lộn và gọi một cách "vô thưởng vô phạt" là Tía đỏ hay Tía vàng - nghe buồn cười và sai lạc hoàn toàn về màu sắc. Đã là Tía thì dĩ nhiên là đỏ và không phải là màu vàng.
Khi xét màu lông mà không xét kỹ là đỏ hay vàng, cứ cho là lông màu Tía tràn phát rạ thì dễ xảy ra sự nhầm lẫn, chẳng hạn như chân trắng thì hợp với con gà mạng Thổ lông vàng, trong khi con gà Tía mạng Hoả thì lại không hợp cách với màu chân trắng.

5. Gà Nhạn - mạng Kim: gà nhạn là gà có màu mã kim và lông bờm cổ màu trắng. Một điều lý thú là rất ít khi thấy gà nhạn lông mã mái. những con gà có màu lông bướm, khét sữa, vv ... nhưng nếu lông mã và bờm cổ màu vàng như gà chuối đều được xem là gà có mạng Thổ. Gà Nhạn hợp cách với màu chân như sau: chân vàng, chân trắng và chân đen.
Những màu chân được xem là không hợp cách: chân xanh và chân vàng mây có ráng đỏ.
Nhạn hợp cách chân vàng.

Phương pháp xét màu cho hợp cách ở trên ở trên đều dựa trên căn bản của Ngũ hành tương sinh và tương khắc. Ở đây chúng ta chỉ đưa ra những cách ghép màu sắc cho hợp với phương pháp của Ngũ hành để thấy sự hài hoà theo lẽ tự nhiên. Sự hợp cách này không có nghĩa tuyệt đối và cũng không có nghĩa sẽ mang lại kết quả thực tiễn là sẽ mang về chiến thắng hay chiến bại khi đem gà ra sới. Những yếu tố về màu sắc như màu lông, màu vảy ở chân, màu mỏ và màu mắt đều là do yếu tố di truyền từ những con gà gốc (gà nọc) đã được truyền xuống cho các thế hệ sau qua việc phối giống. Ngoài việc phối giống cho hợp cách về màu lông và màu vảy ở chân, người nuôi gà chọi phải hiểu biết và ứng dụng những yếu tố khác quan trọng hơn trong di truyền học đó là cách chọn gà về đòn lối, thế đá, thể lực và hình trạng để mang lại kết quả khả tín và cho ra những chiến kê xuất sắc hơn.

B, Phân định mầu mắt theo phong thủy ngũ hành:

Mạng gà được xác định dựa vào viền màu xung quanh con ngươi. Về cơ bản có các màu sau đây: viền vàng, gạch=mạng thổ, viền đen = mạng thủy, viền trắng = mạng kim và viền xanh = mạng mộc; viền đỏ=mạng hỏa không tồn tại trên thực tế.

Áp dụng ngũ hành tương sinh & tương khắc:
Gà “trắng” ăn gà “đen” & gà “xanh”, thua gà “vàng”
Gà “xanh” ăn gà “vàng” & gà “đen”, thua gà “trắng”
Gà “đen” ăn gà “xanh”, thua gà “trắng” và gà “vàng”
Gà “vàng” ăn gà “trắng” & gà “đen”, thua gà “xanh”

Lưu ý: theo phép xem mạng màu mắt thì “sinh xuất” ăn “sinh nhập”! Chẳng hạn, “kim sinh thủy” --> kim ăn thủy (gà “trắng” ăn gà “đen”) (theo lý luận thông thường thì “sinh xuất” bị mất lực nên thua “sinh nhập” được bổ lực).

Đa phần gà đá ngoài trường đều mạng mộc (70 - 80%), mạng kim (5 - 10%), mạng thổ (5 - 10%), mạng thủy (5%). Các sách tướng gà thường cho gà mắt đen (mạng thủy) là yếu, nhát; có lẽ vì vậy mà người ta ít mang gà đi đá. Bởi mạng thổ chiếm đa số nên đem gà mạng kim đi đá dễ ăn độ. Mạng thổ để dành đá với gà dữ ngoài trường (thường là mạng kim). Giả sử có con gà mạng hỏa thì nó sẽ hốt xác hết những con gà dữ mạng kim & mạng mộc ngoài trường!

Ngoài viền mắt, một đặc điểm quan trọng nữa của phép xem mạng này là nặng tính thực tiễn. Mạng thổ và mạng thủy dễ đoán, trong khi mạng kim và mạng mộc khó đoán hơn; nếu viền trắng tinh thì có thể mạnh dạn đoán là “mạng kim” nhưng đa phần đều phớt xanh, khó đoán, người ta gọi nôm na là “xanh lên trắng”. Phải đem đá thử mới biết chắc; chẳng hạn đá với gà “xanh” nếu thắng gọn trong một, hai chân thì đó là gà “trắng”, nếu đá dằng dai thì cùng là mạng mộc, gà “xanh”.

Có nhiều con gà “mạng ẩn” tức màu mạng không thể hiện ra ngoài, chẳng hạn viền mắt xanh hoặc thậm chí vàng nhưng lại là mạng kim. Cách tốt nhất vẫn là đem đá thử độ nhỏ trong xóm; một khi biết chắc mạng gà rồi thì mới đá độ lớn.

Một số đặc điểm hỗ trợ việc đoán mạng:
- Mạng kim thường có đuôi lau (lông đuôi trắng như bông lau).
- Gà chân vàng với những bớt đen ở chân (không phải móng đen hay cựa đen) thì hầu như là mạng kim.
- Gà chân trắng với những bớt xanh ở chân thì hầu như là mạng mộc.
- Gà chân xanh và không có đuôi lau thì chắc chắn không phải mạng kim.
Trường hợp gà cùng mạng thì lúc đó phải xem đến màu chân. Màu chân cũng tuân theo ngũ hành sinh khắc (liệt kê ở trên). Chẳng hạn, hai con gà mắt trắng thì con chân vàng sẽ ăn con chân trắng, nhưng khá chật vật vì dù sao cũng là anh em, chỉ trên cơ chút đỉnh. Nếu cùng màu chân thì sau cùng mới xem đến màu lông. Ngày, giờ và vảy không quan trọng đối với gà cựa.

Đoán màu lông:
- Nếu con gà màu vàng hoặc khét thì dù lông cánh thế nào cũng là gà vàng hoặc khét.
- Nếu màu ô hoặc điều thì nếu cuối lông cánh nó màu đỏ thì là điều, còn nếu màu đen thì là ô.
- Gà điều chân xanh thì thành gà xanh và thuộc hành mộc như là gà xám nhưng dưới cơ gà xám.
- Gà xám bông trên cơ gà xám tuyền nhưng chỉ trên cơ chút đỉnh vì cơ bản nó vẫn là gà xám (ví dụ như gà vàng hay khét bông cũng đừng nên đụng gà xám vì về cơ bản chúng vẫn là vàng và khét).

III. SINH KHẮC THEO MÙA (TỨ THỜI SINH KHẮC)

Sắc mạng - tương sinh tương khắc 4 mùa không phải là yếu tố quyết định sự thắng bại của một trận gà.
Người xưa đã dạy: “Nhất KHOẺ, nhị TÀI, tam BỀN, tứ LỐI ”, như vậy các bậc tiền nhân đã đánh giá, sắp xếp rõ ràng các yếu tố để so sánh sự hơn kém giữa 2 chiến kê trên đấu trường.
Tuy vậy, là người ham mê muốn đi sâu vào “Nghệ thuật đấu gà chọi”, ta không thể bỏ qua Sắc mạng - tương sinh tương khắc 4 mùa là những điều đã được chiêm nghiệm nhiều đời mà người xưa đã đúc kết thành.
Nội dung như sau: Sắc mạng gà được chia theo Ngũ hành; còn Thiên canh Sinh Khắc dựa vào 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Gà Bạch Nhạn(sắc lông trắng) mạng KIM
Gà XÁM (sắc lông ghi xám) mạng MỘC
Gà BỊP (sắc lông nâu vàng) mạng THỔ
Gà Ô (sắc lông đen) mạng THUỶ
Gà TÍA (sắc lông đỏ như Mận, như Lửa) mạng HOẢ.
KIM khắc MỘC, MỘC khắc THỔ, THỔ khắc THUỶ, THUỶ khắc HOẢ, HOẢ khắc KIM.
Chiều ngược lại Khắc là Sinh đó là vòng Sinh - Khắc trong thuyết ngũ hành. Ngoài vòng Sinh - Khắc nêu trên, Ngũ Hành Tinh Tú còn có quan hệ Sinh - Khắc khác: KIM khắc THỔ, THỔ khắc HOẢ, HOẢ khắc MỘC, MỘC khắc THUỶ, THUỶ khắc KIM. Khi sự Thần Bí của Sắc Mạng theo Ngũ Hành, sự Vượng Hưu của gà chọi theo 4 mùa, con người ta chưa lý giải nổi, chỉ thâu nhận được qua kinh nghiệm nhiều đời, thì người SƯ KÊ phải luôn nhắc nhở mọi TRÒ nhớ câu “Nhất KHOẺ, Nhị TÀI..” là điều quyết định cao nhất đến thắng bại của đấu gà.

IV. SINH KHẮC THEO NGÀY (NHẬT THẦN SINH KHẮC)

* Nhật thần sinh khắc là quan hệ sinh-khắc của màu gà đối với hành của ngày.
* Hành của thập thiên can:
Giáp, Ất = mộc
Bính, Đinh = hỏa
Canh, Tân = kim
Nhâm, Quí = thủy
Mậu, Kỷ = thổ
* Tra nhật thần (lịch vạn niên: http://www.thoigian.com.vn): chẳng hạn ngày Ất Mão, theo bảng trên Ấ = mộc suy ra ngày Ất Mão hành mộc.
* Ngày kỵ: nếu rơi vào “vận tam lâm” thì không mang gà đi đá; “vận tam lâm” bao gồm các trường hợp sau: gà khắc ngày, ngày khắc gà, gà sinh xuất ngày (mất công lực). Chẳng hạn, ngày Nhâm Thìn hành thủy, các gà ó vàng, nhạn, và điều kỵ ngày, không đá được.
Thổ, kim, hoả, vận tam lâm
Nhựt thần là thủy khắc thâm ba chàng
* Ngày tốt: bình hòa hoặc sinh nhập; chẳng hạn, ngày Ất Mão hành mộc, gà xám và gà điều tốt ngày, đem đá được; nhưng gà điều mạnh hơn vì được tiếp thêm công lực (mộc sinh hỏa).
Ngày nào thuộc mộc tía no
* Một ví dụ về tầm quan trọng của nhật thần: bình thường thì ô ăn tía (thủy khắc hỏa) nhưng vào ngày hỏa thì "hỏa vũ thủy", tía ăn ngược lại ô!
Tía thuộc mạng hoả là thường,
Ô thủy gặp (ngày) hoả phải nhường anh va
* Ngày âm lịch bao gồm 2 yếu tố: thiên can và địa chi. Thiên can có hành của thiên can, địa chi có hành của địa chi. Khi thiên can kết hợp với địa chi thì chúng ta có một yếu tố thứ 3 là nạp âm, nạp âm cũng có hành riêng. Kê kinh lấy hành của thiên can để tính nhật thần cho gà (mà bỏ qua địa chi và nạp âm), chẳng hạn ngày Giáp Thìn, tra bảng trên: Giáp = mộc suy ra ngày Giáp Thìn hành mộc. Bởi mộc sinh hỏa nên đem gà tía đi đá là lợi nhất, kế đó là gà xám.
* Nhiều cách xem mạng gà khác dựa vào nạp âm. Nạp âm là kết hợp của can chi theo bảng Lục thập hoa giáp. Bảng này có nguồn gốc cổ xưa và người ta vẫn thường áp dụng vào việc bói toán, xem tuổi cho người. Chẳng hạn, ngày Giáp Thìn hành hỏa nhưng là “phú đăng hỏa” (lửa đèn). Có vài ba loại hành hỏa và các hành khác như kim, mộc, thủy, thổ cũng vậy. Dẫu Kê kinh không sử dụng nạp âm trong tính toán nhật thần nhưng cũng xin liệt kê ra đây để tránh nhầm lẫn!
* Một trong những khác biệt của bản Kê kinh diễn nghĩa đăng trên báo Nông cổ mín đàm (1902) với những bản Kê kinh lưu hành trong dân gian (và được các sách gà ngày nay đăng lại) là phần nói về “nhật thần sinh khắc”. Bản đăng trên báo hơi lủng củng, và có đôi chỗ mâu thuẫn về “ngũ hành luận” nhưng vẫn truyền tải được nội dung chính; trong khi các bản “chỉnh lý” lưu hành trong dân gian hầu như cắt bỏ phần này và thay bằng vài ba câu đơn giản, tuy đúng nhưng lại không đầy đủ.

Want your business to be the top-listed Government Service in Hanoi?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Telephone

Address


Đinh Tiên Hoàng, Hoàn Kiếm
Hanoi
100000