Thư viện chùa Bửu Đà

Thư viện chùa Bửu Đà

Share

website: chuabuuda.org

Photos from Thư viện chùa Bửu Đà's post 19/03/2024

Hạnh phúc là mục đích sống của con người… nhưng hạnh phúc ở đâu, và làm thế nào để có hạnh phúc là một ẩn số.

Chính Bát chánh đạo không phải là lời triết lý cao siêu mà rất giản dị và thực tế, chỉ ra những quan điểm sống sai lầm, nó là nguyên nhân tạo thành những đau khổ, chỉ cần điều chỉnh sửa sai quan điểm sống, chắc chắn chúng ta sẽ có an vui hạnh phúc trong cuộc sống này.

Trích Lời nói đầu sách

Bát Chánh Đạo – Lối sống mang lại hạnh phúc

Tác giả: Thích Hạnh Bình
NXB Hồng Đức

Photos from Thư viện chùa Bửu Đà's post 07/02/2024

Ðức Phật Thích-Ca, sau khi thành đạo dưới cội cây bồ đề, liền nghĩ đến việc đem giáo lý của Ngài vừa chứng được, ra truyền bá cho chúng sinh. Nhưng giáo lý của Ngài là giáo lý cao siêu, thâm diệu, còn chúng sinh phần đông căn cơ còn thấp kém, khó có thể giác ngộ nhanh chóng như Ngài được.

Quan sát căn cơ năm người bạn đồng tu với Ngài trước kia là nhóm ông Kiều Trần Như, có thể khai ngộ được với pháp Tứ diệu đế, đức Phật đi đến Lộc Uyển là nơi họ đang tu hành để nói pháp Tứ diệu đế.

Sau khi nghe Phật thuyết pháp Tứ diệu đế, thành kiến mê lầm tan vỡ, trí huệ siêu thoát xuất hiện, năm vị này được ngộ đạo, chứng nhập quả vị A-la-hán. Ðó là năm vị đệ tử đầu tiên của đức Phật Thích-Ca.

Từ đây về sau, Tứ diệu đế là giáo lý căn bản về Tiệm giáo (phương pháp tu chứng từ từ) và đã giác ngộ cho không biết bao nhiêu đệ tử của Phật.

II. TỨ DIỆU ÐẾ GỒM NHỮNG GÌ?

Tứ diệu đế, là: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Ðạo đế.

1. Khổ đế (Dukkha). Khổ đế là chân lý chắc thật, trình bày rõ ràng cho chúng ta thấy tất cả những nỗi đau trên thế gian này mà mỗi chúng sinh đều phải chịu, như Sống là khổ, Ðau là khổ, Già là khổ, Chết là khổ v.v… Những nỗi khổ dẫy đầy trên thế gian, bao vây chúng ta, chìm đắm chúng ta như nước biển. Do đó, đức Phật thường ví cõi đời là một bể khổ mênh mông.

"Thoát sinh ra thì đà khóc chóe,
Trần có vui sao chẳng cười khì."
(Nguyễn Công Trứ, Chữ Nhàn)

2. Tập đế (Sameda Dukkha). Tập đế là chân lý chắc thật, trình bày nguyên nhân của bể khổ trần gian, là lý do vì đâu có những nỗi khổ ấy. Khổ đế như là bản kê hiện trạng của chứng bệnh; còn Tập đế như là bản nói rõ nguyên nhân của chứng bệnh, lý do vì sao có bệnh.

3. Diệt đế (Nirodha Dukkha). Diệt đế là chân lý chắc thật, trình bày rõ ràng hoàn cảnh quả vị an lành, tốt đẹp mà chúng sinh sẽ đạt đến khi đã diệt trừ được những nỗi khổ và những nguyên nhân của đau khổ. Diệt đế như là một bản cam đoan của lương y nói rõ sau khi người bệnh lành thì sẽ ăn ngon, ngủ yên như thế nào, thân thể sẽ tráng kiện, tâm hồn khoan khoái như thế nào.

4. Ðạo đế (Nirodha Gamadukkha). Ðạo đế là những phương pháp đúng đắn, chắc thật để diệt trừ đau khổ. Ðó là chân lý chỉ rõ con đường quyết định đi đến cảnh giới Niết-bàn. Nói một cách giản dị, đó là những phương pháp tu hành để diệt khổ và được vui.

Ðạo đế cũng như cái toa thuốc mà vị lương y đã kê ra để người bịnh mua và những lời chỉ dẫn mà bịnh nhân cần phải y theo để lành bệnh.

Khổ và Tập đế là nhân quả trong thế gian, Diệt và Đạo đế là nhân quả vượt ngoài thế gian .

Lời người đọc

📖Sách có sẵn tại Thư viện Chùa Bửu Đà.

17/01/2024

PHẬT THÀNH ĐẠO (08/12 Âm lịch)
"Bốn chín ngày đêm nhập định thiền
Kiết già phu tọa cạnh bờ thiêng
Thân tâm khế hợp điều hơi thở
Ý tứ hài hoà quán pháp duyên
Hàng phục ma binh tiêu sạch chướng
Mẫn khai đạo lực giải tan phiền
Sao mai một sớm ngời soi chiếu
Phật Tổ an yên đắc đạo huyền."

Năm 623 trước Công nguyên, tại vườn Lâm Tì Ni gần thành Ca Tì La Vệ (hiện nay là vùng biên giới giữa Nepal và Ấn Độ), Đức Phật Thích Ca đã đản sinh có tên là Tất Đạt Đa, là một vị Thái tử con vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma Da đang trị vì một vương quốc nhỏ của bộ tộc Thích Ca.

Khi Thái tử thấy lâu đài, cung điện không còn là nơi ở thích hợp nữa. Lòng Ngài nặng trĩu vì tình thương chúng sinh đang chìm đắm trong bể khổ, Thái tử càng thêm quyết tâm xuất gia cầu đạo, đi tìm con đường cứu khổ cho muôn loài. Năm Thái tử tròn 19 tuổi, Ngài tạm biệt phụ vương, ngai vàng, vợ con, từ bỏ cuộc sống đầy đủ và hạnh phúc của một vị vương giả. Chân không, đầu trần, Ngài bình thản bước đi giữa nắng nóng cũng như trong sương đêm lạnh giá. Ngài không nơi ở cố định. Khi thì ngồi dưới bóng cây, khi thì nằm nghỉ qua đêm trong một hang đá, tất cả mọi năng lực và ý chí của Ngài đều hướng tới lí tưởng cao cả tìm ra chân lí tối hậu, lí lẽ của sống và chết, ý nghĩa của nhân sinh, của cuộc đời, con đường dẫn tới giải thoát và cõi Niết bàn.

Sáu năm tu khổ hạnh không có kết quả, Ngài quyết ngồi thiền dưới cội Bồ đề với lời thề nguyện: “Nếu ta ngồi đây mà không tìm ra đạo lí nhiệm mầu, không tìm ra lẽ huyền vi của vũ trụ vạn pháp thì dù thịt nát, xương tan, ta quyết không rời bỏ chỗ này.”

Sau 49 ngày đêm ngồi tĩnh tọa dưới cội Bồ đề chuyên sâu vào thiền quán, tu tập tâm li dục, li ác pháp, Ngài đã chiến thắng nội chướng lẫn ngoại ma, đến canh một Ngài chứng Túc mạng minh, canh hai Ngài chứng được Thiên nhãn minh. Đến canh ba, Ngài quán chiếu sâu thẳm của vô thỉ vô minh, thấu tột cội nguồn các pháp, tâm Ngài hoàn toàn giải thoát khỏi Dục lậu (ô nhiễm của dục vọng), Hữu lậu (ô nhiễm sự luyến ái của đời sống) và Vô minh lậu (ô nhiễm của vô minh), dứt hẳn sanh tử luân hồi, khổ đau vạn kiếp. Đạt đến đó Ngài chứng được Lậu tận minh.

Đêm mồng 8 tháng Chạp năm 584 trước Công nguyên, một cơn mưa vần vũ trút xuống. Khi cơn mưa và sấm sét dần tạnh, nhìn sao mai mọc cũng là lúc Ngài hoàn toàn chứng được Tam minh, thành tựu Chính đẳng Chính giác và thành Phật với danh hiệu Thích Ca Mâu Ni.

Đức Phật đã thành đạo dưới cội Bồ đề đến nay đã hơn 25 thế kỉ, nhưng câu chuyện tìm đạo và tu hành của Ngài vẫn luôn là bài học lớn cho hàng đệ tử Phật.

Photos from Thư viện chùa Bửu Đà's post 17/01/2024

Phật giáo nhìn đời sống từ 2 bình diện: bản môn (tuyệt đối) và tích môn (tương đối). Từ bình diện tương đối thì ta thấy vạn vật đều có sinh có diệt, có khởi đầu và có kết thúc. Song nhìn từ bình diện tuyệt đối thì vòng sinh diệt của vạn vật cũng như những con sóng trong đại dương, con sóng hình thành giữa biển, dập vào bờ rồi tan mất, nhưng đại dương thì vẫn toàn vẹn từ đầu đến cuối, tức là không có sinh và không có diệt. Đời người cũng vậy, trước khi mình sinh ra thì đã có cha và mẹ, sau khi mình chết đi thì vẫn còn con cái, thậm chí không có con cái thì thân xác mình vẫn còn tro bụi, tro bụi lại thành dưỡng chất nuôi cây, nghĩa là ta không thể nào diệt 100% được.

"Không sinh không diệt đừng sợ hãi" của Thiền sư Thích Nhất Hạnh chỉ cho ta cách nhìn thế giới này từ bình diện bản môn, như thế thì sẽ không sợ hãi cái chết nữa, vì không có cái chết tuyệt đối.

Photos from Thư viện chùa Bửu Đà's post 15/01/2024

🍀 ĐƯỜNG XƯA MÂY TRẮNG

Là một câu chuyện vô cùng lý thú về cuộc đời của Bụt được kể lại dưới ngòi bút hùng hồn đầy chất thơ của tác giả. Với văn phong nhẹ nhàng giản dị, với lối kể chuyện sinh động lôi cuốn, tác giả đã đưa chúng ta trở về tắm mình trong dòng sông cách đây gần 2.600 năm, để được hiểu và gần gũi với một bậc giác ngộ mà cuộc đời của Ngài tỏa rạng nếp sống đầy tuệ giác và từ bi.

Trong Đường Xưa Mây Trắng chúng ta sẽ thấy có đầy đủ những giáo lý Phật giáo căn bản như :Tứ Diệu Đế, Thập nhị nhân duyên, Tứ vô lượng tâm, Bát Chánh Đạo, Vô ngã, Vô thường, Tính Không của Vạn Pháp, Nguyên lý Tương duyên Tương tức,…

Lời người đọc.

Mời xem 𝗧𝗵𝗲𝗼 𝗚𝗼́𝘁 𝗖𝗵𝗮̂𝗻 𝗕𝘂̣𝘁 - Tác giả: Hoà Thượng -Thiền Sư Thích Nhất Hạnh, tại Thư viện Chùa Bửu Đà.

Photos from Thư viện chùa Bửu Đà's post 09/01/2024

PHẬT HỌC PHỔ THÔNG

Đây là bộ sách giáo lý Phật học căn bản do Cố Hòa thượng Thích Thiện Hoa chủ trương biên soạn hoàn chỉnh, hệ thống hóa từ thấp đến cao... làm "Kim chỉ nam" trên bước đường nghiên cứu, tu học cho những người con Phật xuất gia và tại gia.

Bằng phương pháp khoa học, diễn đạt lời văn bình dị, dễ hiểu thể hiện tính diệu dụng, kết hợp những giáo lý cơ bản của nhà Phật.

Bộ sách hàm chứa cả giáo lý Ngũ Thừa, nhằm mở rộng thiện duyên cho các tầng lớp nhân sinh hữu duyên dễ cảm nhận, lĩnh hội... từng bước tiến bộ trong quá trình tu tập đạt kết quả an vui trong Chánh pháp.

Bộ sách gồm 3 phần, 12 khóa luận quan trọng tiêu biểu cốt yếu của giáo lí Phật pháp được gói gọn trong hơn 1.300 trang sách giúp Phật tử dễ dàng cảm thụ và ứng dụng.

Mời tìm đọc tại Thư Viện Chùa Bửu Đà.

Photos from Thư viện chùa Bửu Đà's post 06/01/2024

Nghiệp là động lực, nguyên nhân đưa chúng ta vào vòng sanh tử luân hồi. Nghiệp tiếng Phạn là k**a, nghĩa là động tác dấy khởi từ ý khẩu thân được lặp đi lặp lại nhiều lần thành thói quen, khi thành thói quen thì nó có sức mạnh chi phối dẫn dắt con người theo nó.

Nghiệp là việc làm của chính mình, mình làm chủ những hành động tạo tác và chính y phải thừa nhận hậu quả mà nó đưa tới. Trong kinh, Đức Phật đã dạy: “Chúng sanh làm chủ tạo nghiệp và thừa kế nghiệp mà chính mình đã tạo, không ai khác ngoài mình.” Có những loại nghiệp như:

– Tập quán nghiệp là những nghiệp tạo tác trong hiện tại do tập quán kết thành.

– Tích lũy nghiệp là những nghiệp tạo tác trong nhiều đời chất chứa lại.

– Cực trọng nghiệp là những nghiệp quan trọng có năng lực tác động mãnh liệt hơn các nghiệp khác.

– Cận tử nghiệp là nghiệp lực của những người trước khi chết, nghiệp lực này chi phối rất nhiều ở đời sau.

Và việc hiểu rõ về nghiệp sẽ giúp chúng ta hiểu rõ và hiểu sâu hơn. Khi hiểu được về "Nghiệp" chúng ta sẽ có nhiều góc nhìn mới để nhìn nhận thế giới này. Sống an lạc và dần dần chuyển hoá mọi đau khổ, niềm đau

🌻 Mời bạn ghé Thư viện chùa Bửu Đà để đọc "Tổng quan về Nghiệp" - thầy Tuệ Sỹ

Photos from Thư viện chùa Bửu Đà's post 30/12/2023

Trong bài kinh đầu tiên Chuyển Pháp Luân, Đức Phật đã trình bày Khổ. Nguyên nhân của nó là do vô minh chấp ngã, là vì ái, ái là nguồn gốc của mọi ràng buộc. Vì ái là nguyên nhân của luân hồi, Phật chỉ ra trong Tập đế và Diệt đế rằng ái dứt thì luân hồi dứt, ái diệt là Niết Bàn. Niết Bàn là sự vắng mặt của Vô minh. Sau bài giảng này, bốn vị tu sĩ kia là các ông Bà-sa-ba (Vappa), Bạt-đề (Bhaddiya), Ma-ha-nam (Mahanama) và Át-bệ (Assaji) vẫn chưa chứng quả. Ðức Phật liền lưu lại đây và giảng tiếp Kinh Vô ngã tướng, để giúp cho bốn vị tu sĩ còn lại được bước vào dòng Thánh.

Kinh Vô Ngã Tướng bổ túc cho Kinh Chuyển Pháp Luân, vạch rõ đường lối phá bỏ sự cố chấp bám vào thân tâm năm uẩn này, lấy đó là cái ta, cái tự ngã, vốn chẳng có thật và là một tà kiến cần phải quét sạch khỏi tâm thanh tịnh. Sau khi được thuyết bài kinh này, chẳng bao lâu sau đó cả năm vị tỳ kheo đều chứng A-la-hán. Kinh Vô ngã tướng chính là bản kinh thứ nhì trong Tam tạng kinh điển.

…………………………………..

Sắc, là vô ngã……

Thọ là vô ngã…….

Tưởng là vô ngã…….

Các hành là vô ngã……..

Thức là vô ngã………

Thọ… Tưởng… Các hành…

Thức là thường hay vô thường?

…………….

– Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái nầy là của tôi, cái nầy là tôi, cái nầy là tự ngã của tôi?”

Do vậy, phàm sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí huệ như sau: “Cái nầy không phải của tôi, cái nầy không phải là tôi, cái nầy không phải là tự ngã của tôi.”

Phàm thọ gì…

Phàm tưởng gì…

Phàm các hành gì…

Phàm thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả thức cần phải như thật quán với chánh trí huệ như sau: “Cái nầy không phải của tôi, cái nầy không phải là tôi, cái nầy không phải là tự ngã của tôi.”

…………………………..

Lời người đọc.

Ðại Tạng Kinh Việt Nam: Tương Ưng Bộ Kinh,Quyển 1, Tập III. Thiên Uẩn - Chương 1. Tương Ưng Uẩn, VII, Năm Vi (Vô ngã tưởng) trang 694-696.

Photos from Thư viện chùa Bửu Đà's post 26/12/2023

”Tâm đi trước các Pháp,

Tâm chủ, duy tâm tác,

Nếu bằng tâm nhơ đục,
Nói năng hoặc hành vi,
Khổ sẽ theo người như,
Bánh xe chân bò giật”.

Trích Phẩm Song Đối (YAMAKA VAGGA), Tích Trưởng lão Hộ Nhãn (Cakkhupāla). Kệ Pháp Cú này được thuyết tại thành Sāvatthī (Xá Vệ). Nói về Trưởng lão Cakkhupāla (Đại đức Hộ (Mù) Nhãn).

………………………

“Tâm đi trước các pháp,
Tâm chủ, duy tâm tác.
Nếu bằng tâm trong sạch,
Nói năng hoặc hành vi.
Phúc lạc sẽ theo người,
Như bóng theo hình thật”.

Trích Phẩm Song Đối (YAMAKA VAGGA)-Tích Cậu Kim Hoàn. Kệ Pháp Cú thứ nhì cũng được thuyết tại thành Sāvatthī, nhưng đề cập đến cậu Maṭṭhakuṇḍali (Kim Hoàn).
……………………………

Các câu chuyện xảy ra trong hoàn cảnh xã hội ở Ấn Độ cách đây hơn 25 thế kỷ. Mỗi một bài kệ, mỗi một duyên sự là một đề tài tu tập, là một hướng đi mới cho mỗi người con Phật trên con đường tu học để tiến đến đạo quả giải thoát, mà còn làm nổi bật hơn nữa những lợi ích thực tiễn tuyệt vời của những câu Kệ Phật ngôn như là những khuôn vàng thước ngọc, kim chỉ nam cho chúng ta ứng dụng vào đời sống tu tập hiện tại.

Lời Người đọc.

CHÚ GIẢI KINH PHÁP CÚ - Quyển 1:
I.Phẩm Song Đối (YAMAKA VAGGA)

- 20 bài kệ: Pháp cú 01-20
- 14 tích truyện

II. Phẩm Chuyên Niệm (APPAMADA VAGGA)
- 12 bài kệ: Pháp cú 21-30
- 9 tích truyện

Tác Giả: Buddhaghosa
Dịch giả: Trưởng lão Pháp Minh

Photos from Thư viện chùa Bửu Đà's post 21/12/2023

"Tất cả chúng ta đều bắt đầu cuộc hành trình.

Hành trình vào tâm linh

Cuộc hành trình để khám phá và thám hiểm xem ta là ai? Ta là gì?

Bước đầu tiên thật khó khăn. Trong những ngày đầu tiên hành thiền chúng ta thường
giao động
buồn ngủ
chán nản
lười biếng
hoài nghi
và còn có lúc cảm thấy ân hận tại sao ta lại đi hành thiền.”

Để hiểu rõ hơn về điều đó mời bạn ghé Thư viện chùa Bửu Đà để đọc và tìm câu trả lời cho chính mình qua cuốn sách "Sống trong hiện tại" - H.E.LIM

Photos from Thư viện chùa Bửu Đà's post 19/12/2023

Một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ, cũng do lòng bi thiết cứu thế, hoằng pháp độ sinh, đã mất bao công gian khổ tu tập. Khi mới thành Phật, Ngài tự nghĩ rằng: “Tất cả chúng sinh bị trần cấu che tối, say mê tài sắc, danh vọng, ăn ngon, ngủ kỹ, tham dục, sân si, lòng dạ đen tối, không có trí tuệ, vì thế Ta có ở đời cũng chỉ luống công! Nên Ta muốn vào Niết Bàn là một sự an vui hơn”.
Ông Vua cõi Trời Phạm Thiên thưa rằng:

– Kính bạch Đức Thế Tôn, ngày nay biển pháp đã đầy, cờ Pháp đã dựng, thời đã tới, những chúng sinh có thể độ được, con xem số đó cũng khá đông nhiều. Vậy kính mong Ngài thi ân tế độ hoằng pháp lợi sinh.

……………….

*Nhất thiết hành vô thường.
Sinh giả giai thị khổ!
Ngũ ấm không vô tướng.
Vô hữu ngã, ngã sở.
Nghĩa là:
Hết thảy đều vô thường,
Sinh ra tất phải khổ!
Năm ấm không có tướng.
Ta và của đều không.

…………………..

*Thường giả giai tận.
Cao giả tất trụy?
Hợp hội hữu ly
Sinh giả hữu tử.
Nghĩa là:
Thường rồi có hết,
Cao thì phải rơi,
Hợp rồi có tan,
Sinh thì có tử.
Trich Kinh Hiền Ngu
Phẩm Thứ Nhất PHẠM THIÊN THỈNH PHÁP

Kinh Hiền Ngu có bốn mươi sáu (46) truyện do chính Đức Phật kể lại về tiền thân của Ngài, thỉnh thoảng vẫn có những đoạn nói về hàng môn nhân đệ tử. Qua Kinh này chúng ta thấy Đức Phật -Ngài hành Bồ-tát đạo trong vô lượng kiếp, trong mỗi kiếp Ngài hiện thân ở mỗi hoàn cảnh khác nhau, có khi làm vua chúa, thương nhân cho đến hạng cùng đinh trong xã hội. Thậm chí có những kiếp Ngài là trâu, nai, vượn... nhưng kiếp nào Ngài cũng một lòng cầu Pháp. Có những kiếp Ngài bố thí châu báu, thành quách... cho đến cả thân mạng chỉ vì một câu kinh bài kệ. Qua đó chúng ta thấy tâm cầu Pháp của Ngài thật vô lượng, cảm động cả trời đất. Đọc Kinh này khiến chúng ta không khỏi bùi ngùi lệ rơi và chúng ta hiểu rõ hơn tại sao đến hôm nay chúng ta vẫn còn là ... chúng sanh. Điểm đặc biệt là những gì Kinh này kể lại hiện nay vẫn còn dấu tích tại Nepal và Ấn Độ ví dụ: câu truyện "Thái Tử Ma Ha Tát Đỏa Đem Thân Cho Cọp Ăn" vị trí nơi này hiện nay cách Thủ Đô nước Nepal là Kathmandu khoảng 70 cây số.

Lời người đọc.

Kinh Hiền Ngu - (Trọn bộ 9 quyển)
Hán dịch: Sa Môn Tuệ Giác
Việt dịch: Thích Trung Quán

===> Sách đang có tại Thư viện, bạn đọc cần tham khảo xin liên hệ Thư viện chùa Bửu Đà.

Photos from Thư viện chùa Bửu Đà's post 13/12/2023

KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN

Là bài Pháp đầu tiên Ðức Phật thuyết giảng cho năm anh em Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển sau khi Ngài đã đắc đạo.

Tôi được nghe rằng:

Một thời Thế Tôn

Trú ở vườn Nai,

Gần Ba-la-nại,

Bấy giờ Thế Tôn

Gọi năm tỳ-khưu

Đến dạy thế này:

Có hai thái cực

Người tu nên tránh,

Một là khoái lạc

Say đắm ngũ dục;

Hai là khổ hạnh

Ép xác hành thân.

Hai con đường này

Đưa đến hậu quả

Hủy hoại thân tâm.



Con đường Như Lai

Đã tìm ra được

Là đường Trung đạo:

Tránh hai cực đoan,

Đem đến trí tuệ,

Giải thoát, an vui;

Có tám chi phần:

Nhận thức chân chính,

Tư duy chân chính,

Ngôn ngữ chân chính,

Hành động chân chính,

Sinh kế chân chính,

Chuyên cần chân chính,

Chú ý chân chính,

Định tâm chân chính.

Chính Trung đạo này

Như Lai đã đi,

Đạt được trí tuệ,

Giải thoát, an lạc.



Này các tỳ-khưu

Giáo đạo là gì?

Chính là con đường

Đối diện khổ đau

Mà nhận thức được

Nguyên nhân sinh khổ,

Vì muốn thoát khổ

Tìm ra nguyên nhân

Diệt trừ khổ đau.

Do vậy nhận thức

Là điểm khởi đầu

Phát khởi tư duy,

Ươm mầm trí tuệ,

Soi sáng tất cả:

Ngôn từ, hành động,

Sinh kế, chuyên cần,

Đều hợp chính đạo,

Giúp cho hành giả

Xa lánh ràng buộc,

Giải thoát, an vui.



Này các tỳ-khưu

Có bốn Sự Thật

Người tu phải thấy:

Sự thật về khổ,

Nguyên nhân sinh khổ,

Sự thật hết khổ,

Con đường thoát khổ.

Bốn Sự Thật ấy

Mầu nhiệm vô cùng

Gọi là Tứ Diệu Đế.



Này các tỳ-khưu

Sự Thật thứ nhất

Là hiện tượng khổ:

Sinh, già, bệnh, chết,

Buồn giận, ghen tức,

Lo lắng, sợ hãi,

Thất vọng, khổ não,

Chia cách người thân,

Chung đụng kẻ ghét,

Tham lam bám víu

Năm uẩn là khổ.



Sự Thật thứ hai

Nguyên nhân sinh khổ:

Vì tâm mê muội,

Không thấy, không biết,

Bản chất thân tâm,

Cội người sự sống,

Nên bị ngọn lửa,

Tham đắm, giận hờn,

Ghen tức, sầu não,

Lo lắng, sợ hãi,

Thất vọng, buồn chán,

Đốt cháy hành hạ.



Sự Thật thứ ba

Chấm dứt khổ đau:

Nhờ có tuệ giác

Thấy rõ, biết rõ,

Sự Thật bản thân,

Và về cuộc đời,

Sầu não tan biến,

Phát sinh hỷ lạc.



Sự Thật thứ tư

Con đường thoát khổ:

Gồm tám chi phần,

Như Lai đã dạy

Nhớ nghĩ thực hành,

Trong mọi thời gian;

Và bốn Sự Thật

Cần phải thấu hiểu,

Siêng năng thực hành,

Sẽ sớm đạt được

Niết-bàn, giải thoát.



Thế Tôn thuyết giảng

Bài pháp đầu tiên

Sự Thật nhiệm mầu,

Năm vị tỳ-khưu

Nghe Phật dạy xong,

Tâm trí bừng sáng,

Nếm được hương vị

Giải thoát, an lạc.

Hoan hỷ tiếp nhận,

Kính cẩn vâng giữ,

Nối truyền xưng tụng.

Kinh Chuyển Pháp Luân

Phẩm Chuyển Pháp Luân có ba phần chính, bao gồm Trung Đạo, Tứ diệu đế, và Bát chánh đạo.

Tìm hiểu về kinh sách đem lại rất nhiều lợi lạc cho chúng ta trong đời sống hàng ngày, vừa tăng thêm hiểu biết, rèn luyện tư duy, vừa được gần những bậc Thiện tri thức thông qua kinh sách.

Lời người đọc.

_(( ))_ _(( ))_ _(( ))_

Sách tham khảo: Đại tạng Kinh Việt Nam - Kinh Tương Ưng Bộ II - Tập IV. Thiên Sáu Xứ - Chương 10. Tương Ưng Không Thuyết.

Want your business to be the top-listed Government Service in Ho Chi Minh City?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Telephone

Address


419/11 Cách Mạng Tháng 8, Phường 13, Quận 10
Ho Chi Minh City
70000

Opening Hours

Monday 06:00 - 20:00
Tuesday 06:00 - 20:00
Wednesday 06:00 - 20:00
Thursday 08:00 - 17:00
Friday 06:00 - 20:00
Saturday 06:00 - 20:00
Sunday 06:00 - 20:00