Lời Phật Dạy Trong Kinh Nguyên Thủy

Lời Phật Dạy Trong Kinh Nguyên Thủy

Share

Chia sẻ Giáo Pháp Nguyên Thuỷ từ Kinh Tạng Pāḷi – lời dạy chân thật của Đức Phật hơn 2.500 năm trước.

Không mê tín, không tín điều, chỉ có trí tuệ để suy xét và thực hành trong đời sống. Những điều làm cho chúng ta bất tịnh không phải là sự ăn thịt (ăn mặn), mà là lòng oán hận, không tiết độ, ngang ngạnh, mê tín, gian xảo, tật đố, kiêu căng, xu hướng theo kẻ bất chánh.

-Trích: Les paroles du Bouddha -

08/06/2026

Khi Sự Thật Bị Che Lấp Bởi Lời Vu Khống

Một thời, Đức Phật và Tăng đoàn được toàn thể dân chúng kính trọng, cúng dường rộng rãi. Chính điều này đã làm cho một số nhóm ngoại đạo ganh tỵ vì mất đi lợi lộc phe phái.

Họ xúi giục nữ du sĩ Sundarī thường xuyên xuất hiện gần Jetavana để tạo dư luận. Sau đó, chính họ sát hại cô rồi giấu xác trong khu vực gần tu viện, vu cáo rằng các đệ tử Đức Phật đã làm điều ấy.

Tin đồn lan khắp thành Sāvatthī. Nhiều người mắng nhiếc, sỉ nhục các vị Tỳ-kheo bằng những lời cay nghiệt. Khi các vị trình bày sự việc, Đức Phật chỉ dạy:

“Tiếng đồn này sẽ không tồn tại lâu đâu, chỉ bảy ngày thôi.”

Ngài còn dạy các Tỳ-kheo đáp lại bằng một bài kệ nói về nghiệp quả như vầy:

Ai nói lời không thật,
Phải đi đến địa ngục;
Ai có làm lại nói:
“Việc ấy tôi không làm”;
Cả hai sau khi chết,
Đều đồng một quả báo;
Là những người hạ liệt,
Do các nghiệp hạ liệt,
Ở trong đời sống sau.

Đúng như lời Đức Phật, sau bảy ngày sự thật được phơi bày. Dân chúng hiểu rằng Tăng đoàn không liên quan đến vụ việc, và những lời vu khống tự nhiên tan biến.

Cuối cùng, Đức Phật nhắc nhở:

Người không biết chế ngự,
Dùng lời đâm người khác,
Như voi vào chiến trận,
Bị bắn bằng các tên.
Nghe những lời thô ác,
Được người khác nói ra,
Tỳ-kheo hãy nhẫn chịu,
Với tâm không sân hận.

Bài học từ kinh Sundarī:

- Sự thật có thể bị che phủ một thời gian, nhưng khó mà bị che phủ mãi mãi.

- Khi bị hiểu lầm hoặc vu khống, nóng giận thường không giải quyết được gì.

- Danh dự chân thật được bảo vệ bằng giới hạnh và thời gian.

- Lời nói có thể làm tổn thương người khác, nhưng người biết tu tập học cách không để tâm mình bị tổn thương theo.

- Đôi khi điều cần làm không phải là tranh cãi để thắng, mà là sống đúng để sự thật tự lên tiếng.

Ud4.8 Kinh Sundarī (Sundarīsutta)
https://wikidhamma.com/Ud4.8_Kinh_Sundarī_(Sundarīsutta)

07/06/2026

Ngay Cả Đức Vua Trời (Đế-Thích) Còn Muốn Tạo Phước Bố Thí

Một thời, Trưởng lão Mahākassapa an trú trong thiền định suốt bảy ngày tại hang Pippali. Sau khi xuất định, ngài ôm bát vào thành Rājagaha khất thực.

Lúc ấy, khoảng năm trăm vị chư thiên muốn cúng dường vật thực cho ngài, nhưng Trưởng lão Mahākassapa đều từ chối. Ngài tiếp tục đi khất thực theo đúng hạnh của một vị Tỳ-kheo sống nhờ khất thực, không tìm kiếm sự ưu đãi đặc biệt.

Thiên chủ Sakka (Đế Thích) thấy vậy liền biến thành một người thợ dệt, còn thiên hậu Sujā biến thành vợ của người thợ dệt ấy. Khi Trưởng lão Mahākassapa đến trước cửa, Sakka cung kính đón tiếp, nhận bát và cúng dường những món ăn thù thắng.

Nhận thấy vật thực ấy không phải do người bình thường chuẩn bị, Trưởng lão Mahākassapa quán xét và biết đó chính là Thiên chủ Sakka. Ngài liền nhắc nhở Sakka không nên làm như thế nữa. Tuy nhiên, Sakka thưa rằng chư thiên cũng cần tạo phước và mong có cơ hội gieo duyên lành với các bậc Thánh đệ tử.

Sau khi cúng dường xong, Sakka bay lên giữa hư không và hoan hỷ thốt lên ba lần:

“Ôi, bố thí! Bố thí tối thượng đã được đặt đúng chỗ nơi Kassapa!”

Đức Thế Tôn nghe được lời cảm hứng ấy bằng thiên nhĩ và nhân sự việc này đã tuyên thuyết rằng:

Vị Tỳ-kheo khất thực,
Tự mang gánh phần mình;
Không sống nhờ người khác;
Chư Thiên đều kính phục,
Bậc Như Thật an tịnh,
Thường hằng có chánh niệm.

Ý nghĩa cốt lõi:

Ngay cả Thiên chủ Sakka, vua của các Chư Thiên, cũng xem việc cúng dường đến một vị Thánh đệ tử như Trưởng lão Mahākassapa là một điều đại phước.

Đồng thời, bài kinh nhắc nhở rằng công đức của sự bố thí không chỉ nằm ở vật phẩm được cho, mà còn tùy thuộc vào ruộng phước nơi người được cúng dường. Khi tâm thanh tịnh gặp ruộng phước thanh tịnh, phước báu trở nên đặc biệt thù thắng.

Ud3.7 Kinh Thiên Chủ Sakka Cúng Dường
https://wikidhamma.com/Ud3.7_Kinh_Thiên_Chủ_Sakka_Cúng_Dường_(Sakkudānasutta)

06/06/2026

Còn Lệ Thuộc Vào Người Khác Là Còn Khổ

Bà Visākhā, nữ đại thí chủ trong giáo pháp của Đức Phật, có một công việc liên quan đến vua Pasenadi xứ Kosala. Tuy nhiên, sự việc không được giải quyết theo như mong muốn của bà. Với tâm không như ý, bà đến đảnh lễ Đức Thế Tôn và trình bày sự việc.

Nhân duyên ấy, Đức Phật đã thốt lên lời cảm hứng:

“Mọi lệ thuộc là khổ,
Mọi tự chủ là vui;
Điều gì phải chung đụng,
Thường đưa đến não hại;
Vì các sự ràng buộc,
Thật khó được vượt qua.”

- Khi niềm vui, thành công hay quyền lợi của mình còn tùy thuộc vào người khác, ta dễ sinh thất vọng và khổ đau.

- Không để hạnh phúc của mình bị quyết định bởi hoàn cảnh hay người khác là nền tảng của an lạc.

- Những sự ràng buộc về lợi ích, sở hữu, danh vọng và các mối quan hệ thế tục thường là nguyên nhân khiến tâm bị dao động.

“Khổ đau sinh khởi từ sự lệ thuộc. An lạc sinh khởi từ nội tâm. Càng ít bị trói buộc bởi tham ái cùng các điều kiện bên ngoài, tâm càng được tự do và bình an.”

Ud2.9 Kinh Visākhā
https://wikidhamma.com/Ud2.9_Kinh_Visākhā_(Visākhāsutta)

30/05/2026

Happy Vesak Day

"Không làm mọi điều ác,
Thành tựu các điều lành;
Làm thanh tịnh tâm mình,
Là lời chư Phật dạy."

- Dhp 183

26/05/2026

Giai Đoạn Của Một Đời Người (Kiếp Người) Trải Qua Như Thế Nào? Bản Chất Thân - Tâm (Tức Danh - Sắc) Này, Ra Sao?

Giai Đoạn Của Một Đời Người

Thập niên (mười năm) non yếu, mười năm vui chơi, mười năm sắc đẹp, mười năm sức mạnh, mười năm trí tuệ, mười năm suy giảm, mười năm thân đổ về phía trước, mười năm cong vẹo, mười năm mê muội, và mười năm nằm liệt.

1. Trong các thập niên ấy, mười năm đầu của người sống một trăm tuổi gọi là thập niên non yếu; vì khi ấy người ấy là đứa trẻ yếu đuối và hiếu động.

2. Mười năm tiếp theo gọi là thập niên vui chơi; vì khi ấy người ấy thích thú vui đùa.

3. Mười năm tiếp theo gọi là thập niên sắc đẹp; vì khi ấy sắc diện của người ấy đạt đến sự sung mãn.

4. Mười năm tiếp theo gọi là thập niên sức mạnh; vì khi ấy sức mạnh và cường lực của người ấy đạt đến sự sung mãn.

5. Mười năm tiếp theo gọi là thập niên trí tuệ; vì khi ấy trí tuệ của người ấy được an lập vững chắc. Người ta nói rằng ngay cả người vốn trí yếu, trong thời kỳ ấy cũng phát sanh chút ít trí tuệ.

6. Mười năm tiếp theo gọi là thập niên suy giảm; vì khi ấy niềm vui chơi, sắc đẹp, sức mạnh và trí tuệ của người ấy suy giảm.

7. Mười năm tiếp theo gọi là thập niên thân đổ về phía trước; vì khi ấy thân thể của người ấy đổ chúi ra phía trước.

8. Mười năm tiếp theo gọi là thập niên cong vẹo; vì khi ấy thân thể của người ấy cong như đầu lưỡi cày.

9. Mười năm tiếp theo gọi là thập niên mê muội. Vì khi ấy người ấy trở nên mê muội, làm gì rồi cũng quên.

10. Mười năm tiếp theo gọi là thập niên nằm liệt; vì người sống đến một trăm tuổi phần nhiều chỉ nằm mà thôi.

Thấy Rõ Bản Chất Thân - Tâm

Danh-sắc này trước khi sanh khởi thì không có một khối tụ hay tích lũy nào của pháp chưa sanh; khi đang sanh khởi cũng không đến từ một khối tụ hay tích lũy nào; khi đang diệt cũng không đi về phương nào hay hướng nào; và sau khi đã diệt cũng không có sự tồn đọng nơi nào như một khối tụ, tích lũy hay kho chứa.

Cũng như khi cây đàn được gảy lên, âm thanh phát sanh không có sự tích chứa nào trước khi phát sanh; khi phát sanh cũng không đến từ nơi tích chứa nào; khi diệt đi cũng không đi về phương nào; và sau khi diệt cũng không tồn tại tích tụ ở đâu cả. Trái lại, do nương cây đàn, dây đàn và nỗ lực thích hợp của người gảy đàn mà âm thanh từ chỗ không có được sanh khởi, rồi sau khi sanh liền diệt mất.

Cũng vậy, tất cả các sắc pháp và vô sắc pháp đều từ chỗ không có mà sanh khởi, rồi sau khi sanh liền hoại diệt.

Vism 20. Phân tích Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh (Trình bày Tuệ quán sát)
Biên tập Dhana Pālaka

24/05/2026

12 Duyên Khởi Ngăn Chặn Các Tà Kiến (Quan Điểm Sai Lầm) Như Thế Nào? Mỗi Mắt Xích Có Hiện Tướng Ra Sao?

12 Duyên Khởi Ngăn Chặn Các Tà Kiến

- Ở đây, câu “do vô minh làm duyên nên có hành” là để ngăn chặn quan điểm về một tác giả tạo tác.

- Câu “do hành làm duyên nên có thức” là để ngăn chặn quan điểm về tự ngã (linh hồn) di chuyển từ đời này sang đời khác.

- Câu “do thức làm duyên nên có danh-sắc” là để ngăn chặn tưởng tri đặc cứng, bằng cách chỉ ra sự sai biệt của các pháp vốn bị tưởng lầm là “ngã”.

- Câu “do danh-sắc làm duyên nên có sáu xứ” v.v... là để ngăn chặn quan điểm rằng “ngã thấy” ... “ngã biết, ngã xúc chạm, ngã cảm thọ, ngã tham ái, ngã chấp thủ, ngã hiện hữu, ngã sanh, ngã già, ngã chết.”

Vì vậy, cần hiểu hữu luân này theo phương diện ngăn chặn tà kiến đúng theo từng trường hợp.

Hiện Tướng Của Mỗi Mắt Xích

Ở đây, vì không thấy các pháp theo tự tướng và cộng tướng nên:

- Vô minh giống như người mù.

- Các hành do vô minh làm duyên giống như người mù vấp ngã.

- Thức do hành làm duyên giống như kẻ đã vấp té ngã.

- Danh-sắc do thức làm duyên giống như khối u hiện ra nơi kẻ đã té.

- Sáu xứ do danh-sắc làm duyên giống như các mụt nhọt sinh từ khối u.

- Xúc do sáu xứ làm duyên giống như sự va chạm vào khối u và mụt nhọt.

- Thọ do xúc làm duyên giống như nỗi đau do va chạm.

- Ái do thọ làm duyên giống như sự mong cầu phương thuốc đối trị đau đớn.

- Thủ do ái làm duyên giống như nắm lấy thứ không thích hợp vì mong được chữa trị.

- Hữu do thủ làm duyên giống như việc bôi đắp thứ không thích hợp ấy.

- Sanh do hữu làm duyên giống như khối u biến dạng vì được bôi đắp thứ không thích hợp.

- Già chết do sanh làm duyên giống như khối u vỡ ra do biến chứng.

- Hoặc nữa, vì vô minh che lấp chúng sanh bằng trạng thái không thực hành đúng và thực hành sai, giống như màng che phủ mắt.

- Kẻ phàm nhân bị che lấp ấy tự quấn mình bằng các hành dẫn đến tái hữu, như con tằm quấn kén quanh mình.

- Thức bị các hành nắm giữ tìm được chỗ đứng trong các cõi, như thái tử được vị đại thần nâng đỡ mà lên ngôi.

- Do tạo dựng tướng tái sanh, thức trong lúc tái sanh làm phát sanh nhiều loại danh-sắc như nhà ảo thuật tạo ra trò huyễn hóa.

- Sáu xứ nương trên danh-sắc mà đạt đến tăng trưởng và phát triển như bụi cây mọc trên vùng đất tốt.

- Do sự va chạm của các xứ mà xúc sanh khởi như lửa phát sanh do cọ xát hai thanh củi.

- Đối với kẻ bị xúc chạm bởi xúc thì thọ hiện khởi như cảm giác nóng rát nơi người bị lửa chạm.

- Đối với người đang cảm thọ thì ái tăng trưởng như cơn khát tăng thêm nơi người uống nước mặn.

- Kẻ khát ái ấy mong cầu các hữu như người khát mong cầu nước uống.

- Đó là thủ; do thủ mà nắm lấy hữu như cá vì tham mồi mà mắc câu.

- Khi có hữu thì có sanh, như khi có hột giống thì có mầm cây.

- Kẻ đã sanh tất nhiên phải già chết như cây đã mọc lên tất nhiên phải ngã đổ.

Vì vậy, cần hiểu hữu luân này qua các ví dụ như thế đúng như thích hợp.

Vism 17. Phân Tích Nền Tảng Của Tuệ (Phần Trình Bày Hữu Luân)
Biên tập Dhana Pālaka

22/05/2026

Có Thể Xác Định Sự Sanh Khởi Đầu Tiên Của Phiền Não Không? Có Thể Nêu Ra Thứ Lớp Sanh Khởi Không? Sự Chấp Thủ Nào Có Biểu Hiện Rõ Nhất?

Trong vòng luân hồi vô thủy, vì không thể xác định sự sanh khởi đầu tiên của phiền não, nên không nói đến thứ lớp sanh khởi theo nghĩa tuyệt đối.

Nhưng theo phương diện tương đối, trong một đời (kiếp) sống, thường trước hết là chấp ngã, rồi sanh khởi thường kiến hay đoạn kiến. Sau đó, người chấp “ngã này là thường còn” thì sanh giới cấm thủ nhằm thanh tịnh tự ngã; còn người chấp “ngã bị đoạn diệt” thì không màng đời sau và sanh dục thủ. Như vậy, trong một đời sống, thứ lớp sanh khởi là: trước tiên ngã luận thủ, rồi đến kiến thủ, giới cấm thủ và dục thủ.

Lại nữa, do phần lớn chúng sanh say đắm dục lạc nên dục thủ hiển hiện rõ ràng hơn các loại khác.

Người có dục thủ, vì muốn đạt được dục lạc, thường bận tâm đến điềm lành, nghi thức cát tường v.v..., đó chính là tà kiến của họ.

Vism 17. Phân Tích Nền Tảng Của Tuệ (Phần Trình Bày Duyên Khởi)
Biên tập Dhana Pālaka

21/05/2026

Nói Rằng, Không Có Tự Ngã (Hay Linh Hồn) Chuyển Dịch Từ Chỗ Này Đến Chỗ Kia? Vậy, "Cái Gì" Đi Tái Sanh, Nó Là Một Hay Khác? Tiến Trình Ấy Có Nhân Duyên Hay Chỉ Là Ngẫu Nhiên?

- Không có một tự ngã nào chuyển dịch từ đây sang đó, và cũng không thể hiện hữu nếu không có nhân. Vì vậy, chỉ riêng danh sắc pháp khi đã nhận đủ duyên rồi sanh khởi thì được gọi là đi đến đời sống khác, không phải một chúng sanh hay linh hồn nào đi đến.

- Cũng không có sự chuyển dịch từ đời sống quá khứ đến đây.

- Cũng không có sự hiện khởi nơi đây, nếu không có nhân từ đó.

- Điều này sẽ được làm sáng tỏ qua tiến trình tử và tái sanh nơi loài người.

Thật vậy, trong đời sống trước, đối với người sắp chết do tuổi thọ tự nhiên (hết tuổi thọ) hay do tai nạn, không chịu nổi sự tụ hội của các cảm thọ cận tử như những khí cụ cắt đứt mọi chi phần, tiểu chi phần và khớp nối của thân thể; khi thân xác dần khô héo như tàu lá thốt nốt xanh bị phơi dưới nắng, các quyền như nhãn quyền v.v... đã diệt, chỉ còn tồn tại nơi sắc ý vật cùng thân quyền, ý quyền và mạng quyền trong sát-na cuối cùng; thức nương nơi sắc ý vật còn sót lại trong sát-na ấy vận hành dựa vào một trong các nghiệp gọi là hành hội đủ duyên còn dư lại, thuộc loại trọng nghiệp, thường nghiệp, cận tử nghiệp hoặc tích lũy nghiệp; hay dựa vào đối tượng gọi là nghiệp tướng hay thú tướng do nghiệp ấy hiện khởi.

Khi thức ấy vận hành như vậy, do ái và vô minh chưa đoạn trừ, nên ái hướng đến đối tượng ấy vốn bị vô minh che lấp các nguy hại, còn các hành đồng sanh thì thúc đẩy.

Dòng tâm thức ấy, do ái dẫn dắt theo dòng tương tục và do các hành thúc đẩy, giống như người bám vào dây buộc nơi cây ở bờ bên này để vượt qua con mương; nó từ bỏ chỗ nương trước và vận hành nơi chỗ nương mới do nghiệp sanh khởi, hoặc có tham thích hoặc không tham thích, chỉ do các duyên, như đối tượng v.v...

Ở đây, sự rời khỏi trạng thái trước được gọi là tử.

Phần sau được gọi là tái sanh, vì nối liền với đời sống khác.

Do đó cần hiểu rằng: không có cái gì từ đời trước đi sang đây, cũng không có sự hiện khởi nếu không có các nhân như nghiệp, hành, ái và đối tượng.

Có thể lấy tiếng vang,
Đem ra làm ví dụ;
Dòng tương tục liên hoàn,
Không phải một hay khác.

Ở đây, đối với việc thức này không đi từ đời trước đến đây, nhưng vẫn sanh khởi do nhân thuộc đời quá khứ, thì các pháp như tiếng vang, ngọn đèn, dấu in và hình ảnh phản chiếu có thể được dùng làm ví dụ.

Ví như tiếng vang, ánh đèn, dấu ấn và bóng hình, tuy do âm thanh v.v... làm nhân nhưng không từ nơi kia đi đến; thức này cũng vậy.

Ở đây, vì sự liên tục của dòng tương tục nên không có hoàn toàn đồng nhất cũng không hoàn toàn sai khác.

Nếu trong dòng tương tục mà hoàn toàn là một, thì sữa không thể trở thành sữa chua. Nếu hoàn toàn khác biệt, thì sữa chua cũng không thể nương nơi sữa mà có.

Nguyên tắc này áp dụng cho tất cả các pháp do nhân và duyên sanh. Nếu không như vậy thì mọi quy ước thế gian đều bị phá bỏ, điều ấy là không hợp lý. Do đó, ở đây không nên chấp nhận hoàn toàn đồng nhất hay hoàn toàn sai khác.

Vism 17. Phân Tích Nền Tảng Của Tuệ (Phần Trình Bày Duyên Khởi)
Biên tập Dhana Pālaka

20/05/2026

Đức Phật Thuyết Pháp Diệt Khổ Có Gì Khác Với Ngoại Đạo? Sự Phân Định & Công Năng Của Trí Đối Với Các Thánh Đế Như Thế Nào? Các Thánh Đế Có Sự Đồng Loại Và Dị Loại Ra Sao?

1. Đức Phật Thuyết Pháp Diệt Khổ Có Gì Khác Với Ngoại Đạo

Vì khổ chỉ đoạn diệt khi tập đoạn diệt, nên khi thuyết giảng về sự đoạn diệt của khổ, đức Thế Tôn đã giảng bằng chính sự đoạn diệt của tập.

Vì chư Như Lai hành xử như sư tử.

Khi đoạn diệt khổ và giảng về sự đoạn diệt của khổ, Ngài nhắm vào nguyên nhân, không nhắm vào kết quả.

Còn các ngoại đạo thì hành xử như chó.

Khi đoạn diệt khổ và giảng về sự đoạn diệt của khổ, họ lại nhắm vào kết quả bằng cách giảng dạy các pháp khổ hạnh ép xác v.v..., chứ không nhắm vào nguyên nhân.

Như vậy, cần hiểu mục đích của việc giảng giải sự đoạn diệt của khổ bằng phương diện đoạn diệt của tập.

2. Sự Phân Định & Công Năng Của Trí Đối Với Các Thánh Đế

Về phương diện công năng của trí, cũng cần hiểu sự phân định về trí đối với các Thánh đế.

Vì trí về Thánh đế có hai loại: trí tùy giác và trí thể nhập.

Trong đó, trí tùy giác là trí thế gian, vận hành nơi diệt đế và đạo đế qua sự nghe học v.v...

Còn trí thể nhập là trí siêu thế, lấy diệt đế làm đối tượng và thể nhập bốn Thánh đế theo công năng của chúng.

Như đã dạy: “Này các Tỳ-kheo, ai thấy khổ, người ấy cũng thấy tập khổ, thấy sự đoạn diệt của khổ, và thấy con đường đưa đến đoạn diệt khổ” (saṃ. ni. 5.1100). Toàn bộ đoạn ấy cần được hiểu ở đây.

Còn công năng của trí ấy sẽ được trình bày trong phần Thanh tịnh tri kiến.

Đối với trí thế gian này, trí về khổ đoạn trừ thân kiến đang khởi lên do bị các phiền não hiện hành chi phối.

- Trí về tập đoạn trừ đoạn kiến.

- Trí về diệt đoạn trừ thường kiến.

- Trí về đạo đoạn trừ tà kiến cho rằng không có hành động tạo nghiệp.

- Hoặc trí về khổ đoạn trừ sự nhận thức sai lầm nơi quả, tức tưởng rằng các uẩn là thường, lạc, ngã và tịnh, dù thật ra chúng không có các tính chất ấy.

- Trí về tập đoạn trừ nhận thức sai lầm nơi nhân, tức cho rằng thế gian vận hành do thần linh, tự tính, thời gian v.v..., là chấp cái không phải nhân làm nhân.

- Trí về diệt đoạn trừ nhận thức sai lầm nơi diệt, tức chấp vô sắc giới, thế giới hay các tháp miếu v.v... là giải thoát.

- Trí về đạo đoạn trừ nhận thức sai lầm nơi phương tiện, tức chấp các con đường không thanh tịnh như hưởng dục và ép xác là con đường thanh tịnh.

3. Đồng Loại Và Dị Loại

Các đế là dị loại vì được xác định bởi đặc tướng riêng.

Hai đế đầu đồng loại với nhau vì sâu xa khó thấu đạt, thuộc hiệp thế và còn lậu hoặc.

Nhưng chúng dị loại vì một bên là quả, một bên là nhân; một bên cần được biến tri, một bên cần được đoạn trừ.

Hai đế sau cũng đồng loại với nhau vì sâu xa khó thấu đạt, thuộc siêu thế và không còn lậu hoặc.

Nhưng chúng dị loại vì khác nhau giữa đối tượng và chủ thể nhận thức; một bên cần chứng ngộ, một bên cần tu tập.

Đế thứ nhất và thứ ba đồng loại với nhau vì được chỉ định là quả.

Nhưng dị loại vì một bên là hữu vi, một bên là vô vi.

Đế thứ hai và thứ tư đồng loại với nhau vì được chỉ định là nhân.

Nhưng dị loại vì một bên hoàn toàn bất thiện, một bên hoàn toàn thiện.

Đế thứ nhất và thứ tư đồng loại với nhau vì đều là hữu vi.

Nhưng dị loại vì một bên thuộc hiệp thế, một bên thuộc siêu thế.

Đế thứ hai và thứ ba đồng loại với nhau vì không thuộc hữu học cũng không thuộc vô học.

Nhưng dị loại vì một bên có đối tượng, một bên không có đối tượng.

Như vậy, bằng những phương diện và phương pháp này, người có trí cần hiểu rõ tính đồng loại và dị loại của các Thánh đế.

Vism 16. Phân Tích Các Quyền Và Đế
Biên tập Dhana Pālaka

Want your business to be the top-listed Government Service in Ho Chi Minh City?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Telephone

Address


Ho Chi Minh City