24/11/2024
CHUYỆN LƯU BỊ - PHẦN CUỐI
===========================================
VIII. KINH CHÂU – CHUYỆN CŨ MÀ MỚI
Khi Lưu Bị “mượn” Kinh Châu từ Tôn Quyền, đã giao hẹn rằng sẽ dùng Kinh Châu để phạt Tào, Tôn Quyền với sự ủng hộ của Lỗ Túc đã xuôi theo đề nghị này của Lưu Bị, tuy nhiên bản thân Tôn Quyền cũng chịu rất nhiều sức ép từ nội bộ Đông Ngô. Xưa nay đất đai đều là dùng xương máu mà đánh lấy về, làm gì có chuyện nói mượn là mượn? Áp lực đòi lại Kinh Châu từ các văn thần, sĩ tộc ngày càng lớn, càng đặt nặng lên đầu Tôn Quyền, đặc biệt là sau khi Lưu Bị đã chiếm được Thành Đô. Sự kiện này như một cái tát thẳng vào mặt Tôn Quyền khi mới cách đó 2 năm thôi, họ Tôn đã đề nghị họ Lưu cùng tây tiến, lấy đất Ích Châu đem chia nhau. Lúc đó Lưu Bị lấy cớ cùng là dòng dõi hoàng thất, không nỡ đánh Lưu Chương, nên Tôn Quyền cũng tạm bãi binh, vậy mà bây giờ Lưu Bị âm thầm nuốt trọn, biến Tôn Quyền thành trò cười trong mắt quần thần… Từ năm 212, khi Lưu Bị mới tiến vào Xuyên, Tôn Quyền đã biết tất có điều gian trá, vội cho người mang mật thư sang Kinh Châu xui em gái mang theo Lưu Thiện (aka A Đẩu), con trai Lưu Bị bỏ trốn về Giang Đông – ý Tôn Quyền muốn giữ con trai Lưu Bị làm con tin để mặc cả sau này, nhưng rất đen là Triệu Vân đã xuất hiện ngáng đường và mang con trai Lưu Bị trở về. Đến năm 214, khi Lưu Bị đã vào Thành Đô, và thông qua những thái độ cứng rắn của Quan Vũ, Tôn Quyền biết rằng phía họ Lưu không hề có ý trả đất nên đã quyết định dùng đến biện pháp mạnh: Nhân lúc các tướng giỏi như Hoàng Trung, Trương Phi và Triệu Vân đều đã theo Lưu Bị vào xuyên, Tôn Quyền cho Lỗ Túc và Lã Mông 2 vạn quân chia hai đường tiến đánh Kinh Châu.
Lã Mông chỉ trong thời gian ngắn đã nhanh chóng thu về ba quận Quế Dương, Trường Sa và Linh Lăng, Quan Vũ chỉ còn giữ được Nam Quận, Nghi Đô và Vũ Lăng. Lưu Bị ở Xuyên nghe tin Đông Ngô xâm lăng thì vội lệnh cho Quan Vũ xuất quân nghênh chiến thì Lỗ Túc đã nhanh chân hơn mang quân ra trấn giữ tại Ba Khâu (ngày nay là Nhạc Dương, Hồ Nam) để chặn viện binh của Quan Vũ. Lỗ Túc đã hoàn thành xuất sắc vai trò câu giờ cho Lã Mông hoàn toàn chiếm được ba quận. Quan Vũ bị chặn đường không tiến xuống phía nam được, Lưu Bị ở Ích châu được tin, vội mang 5 vạn quân ra thành Công An thuộc quận Vũ Lăng, sai Quan Vũ mang quân đi đánh Lã Mông và Lỗ Túc. Cùng lúc, Tôn Quyền cũng đích thân từ huyện Kinh tới Lục Khẩu và sai Lỗ Túc tiến đến Ích Dương. Nhưng sau đó Lỗ Túc lại cân nhắc tính khinh trọng của vấn đề và quyết định duy trì quan hệ liên minh giữa hai nhà mới là sự lựa chọn tốt nhất, vì vậy ông đã mời Quan Vũ cùng hội đàm, dù kết quả chả đi tới đâu, nhưng hai nhà Tôn – Lưu cũng tạm thời đình chiến. Năm 215, Lưu Bị được tin báo Tào Tháo chuẩn bị mang quân đánh Trương Lỗ ở Hán Trung, mà Hán Trung lại là cửa ngõ phía bắc Ích Châu, tình hình trở nên bất lợi và không thể dùng vũ lực đoạt lại các quận đã mất, Lưu Bị đành phải nhượng bộ Tôn Quyền, đề nghị chính thức công nhận chủ quyền 3 quận Linh Lăng, Quế Dương, Trường Sa cho Đông Ngô, xin đổi lấy Nam quận. Tôn Quyền chấp thuận giảng hòa, phân chia lại Kinh châu, hai bên lấy sông Tương Thủy làm ranh giới. Tôn Quyền tiếp tục công nhận phần nửa Nam quận và “chơi đẹp” trả lại quận Linh Lăng cho Quan Vũ; đổi lại Quan Vũ chính thức giao lại quận Trường Sa và Quế Dương cho Tôn Quyền (thật ra thì có còn giữ đâu mà giao). Như vậy địa bàn Kinh châu của Quan Vũ từ năm 215 chỉ gồm có các quận Vũ Lăng, Linh Lăng, Nghi Đô và nửa Nam quận bao gồm Giang Lăng.
Vấn đề Kinh Châu như một cái “vảy ngược” đối với cả hai bên Lưu Bị và Tôn Quyền, dù luôn mang cái tiếng là “mượn Kinh Châu để làm cơ sở chống Tào” nhưng thực chất trong hơn 10 năm, phía Lưu Bị hầu như không có chiến dịch quân sự nào chống lại Tào Tháo mà xuất phát từ Kinh Châu, thay vào đó, phía Tôn Quyền đã có ít nhất ba lần đánh nhau lớn với phe Tào ở Hoãn Thành, Hợp Phì và Nhu Tu. Đặc biệt trong trận Nhu Tu, trên bến Tiêu Diêu ngày đó, Trương Liêu xém chút nữa còn mượn luôn thủ cấp Tôn Quyền. Ăn hành ngập mồm mà không thấy phía Lưu Bị động tĩnh gì, cũng không đả động đến chuyện trả đất, đương nhiên Tôn Quyền cay như ăn ớt. Tuy nhiên Lỗ Túc nhân vật quan trọng số 2 của Đông Ngô khi đó lại tích cực theo đuổi chính sách hòa hoãn với Lưu Bị, rất nhiều lần Lỗ Túc đều … bàn ra khi Tôn Quyền nhắc đến chuyện đòi Kinh Châu, có thể vì đại cục mà cũng có thể vì nể Lỗ Túc mà Tôn Quyền đều phải xuôi theo, nhưng “người ta có thể tha thứ chứ không thể quên”, vấn đề Kinh Châu vẫn luôn canh cánh trong long Tôn Quyền. Năm 217, Lỗ Túc chết, Lã Mông lên thay, Lã Mông xuất thân võ tướng, trưởng thành qua chiến trận, khác hẳn với Lỗ Túc là dân có học và một điều quan trọng hơn cả: Lã Mông hoàn toàn là do Tôn Quyền cất nhắc, bồi dưỡng. So với Lỗ Túc, Lã Mông tuyệt đối dễ bảo và nghe lời hơn, xưa nay qua ngòi bút của La Quán Trung, chúng ta thường nhầm tưởng Lã Mông là kẻ nịnh bợ, tiểu nhân nhưng thực chất Lã Mông – đại đô đốc đời thứ 3 của Đông Ngô vốn là một tướng dạn dày kinh nghiệm và giỏi dùng binh, bản lĩnh của Lã Mông tuy không qua trường lớp nhưng Mông từng đi lên đại tướng từ lính trơn, cùng ăn cùng ngủ với binh sĩ, nên nếu nói theo ngôn ngữ hiện đại ngày nay là … có kinh nghiệm thực chiến. Lã Mông lên thay Lỗ Túc đánh dấu một sự thay đổi quan trọng trong chiến lược đối ngoại của Đông Ngô: Không còn ưu tiên bắc phạt nữa mà ưu tiên … tây chinh, nói cách khác là ưu tiên đánh Lưu Bị hơn Tào Tháo, tuy nhiên cái hay của Lã Mông là rất biết cách che giấu mục đích của mình. Trong hai năm nhậm chức đại đô đốc, Lã Mông chiều Quan Vũ hơn cả chiều vong, lúc nào xưng hô cũng một tiếng Quan Hầu, hai tiếng Quan Hầu, tự xưng mình là tiểu tướng, hội bàn, đàm phán toàn nhận phần thua thiệt về mình, đã thế khi Quan Vũ ra về lúc nào cũng có thêm hậu lễ. Lâu ngày Quan Vũ sinh ra coi thường “lũ chuột Đông Ngô” và lơ là phòng bị mặt đông, tập trung binh lực để bắc phạt, sẽ dẫn tới hậu quả rất lớn sau này.
IX. LƯU BỊ BÌNH HÁN TRUNG
Năm 217, nhân lúc Lưu Bị và Tôn Quyền đang giằng co nhau ở Kinh Châu, Tào Tháo phát binh đánh Trương Lỗ ở Hán Trung, trước sức mạnh tuyệt đối của Tào Tháo, Trương Lỗ nhanh chóng thua chạy. Tào Tháo vốn định xuôi nam sẵn đà tiến đánh luôn vào Thành Đô nhưng Lưu Bị khi nghe tin Tào Tháo đã vào Hán Trung thì vội vàng đình chiến với Tôn Quyền rồi gấp rút quay về Thành Đô chuẩn bị phòng thủ. Bản thân Tào Tháo cũng không ngờ rằng hai nhà Tôn – Lưu có thể nhanh chóng giảng hòa như vậy nên trù trừ không muốn xuôi nam, dù Tư Mã Ý lúc bấy giờ hết sức khuyên Tào Tháo nên sấn hỏa đả kiếp, nhân lúc Lưu Bị mới từ xa về, phải đánh gấp mới được, nhưng kết quả là Tào Tháo quyết định rút quân về bắc, để lại Hạ Hầu Uyên, Trương Cáp và Đỗ Tập trấn thủ Hán Trung. Tại sao Tào Tháo lại đột ngột bỏ dở việc đánh Thành Đô? Có lẽ là liên quan đến việc Tào Tháo xưng Ngụy Vương trong cùng năm đó, dù đã nắm thiên tử trong tay nhưng các thế lực ủng hộ nhà Hán vẫn âm thầm tồn tại và nghĩ cách loại bỏ ảnh hưởng của họ Tào, điều này làm cho Tào Tháo không thể vắng mặt khỏi Hứa Xương quá lâu được. Ngay sau khi nhận phong Ngụy Vương, gần như ngay lập tức Tào Tháo lại phát binh đánh Nhu Tu khẩu, khiến Tôn Quyền phải thân chinh mang quân chống giữ. Việc vội đi, vội về của Tào Tháo đã khiến cho Pháp Chính lưu ý, Pháp Chính khẳng định với Lưu Bị chắc chắn Tào Ngụy có vấn đề nội bộ, và chỉ ra ý nghĩa của việc đoạt Hán Trung: "Thượng, có thể thảo phạt 'quốc tặc' (chỉ Tào Tháo), tôn vinh Hán thất, chiếm lấy 2 châu Ung - Lương, mở rộng quốc thổ. Hạ, đoạt được địa bàn 'cốt lõi', phục vụ chiến lược lâu dài". Lưu Bị rất tán đồng quan điểm của Pháp Chính, giữa tháng 5 đến giữa tháng 6 năm 218, ông giao cho Gia Cát Lượng trấn giữ Thành Đô, tự mình cùng mưu sĩ Pháp Chính khởi 10 vạn quân đi đánh Hán Trung.
Tháng 9 năm 128, quân của Trần Thức và Hoàng Trung giao tranh với Từ Hoảng, Trương Cáp bất lợi, Lưu Bị điều động cánh quân của Triệu Vân đến chi viện. Quân Thục phá được ải Dương Bình. Tháng 11, Tào Tháo khởi đại quân tiến đến Trường An làm hậu viện, sẵn sàng nghênh chiến. Sang đầu năm 219, Lưu Bị thúc quân vượt qua sông Miện Thủy (một nhánh của sông Hán Thủy), đóng quân hạ trại tại núi Định Quân, Hoàng Trung được lệnh cầm một cánh quân mai phục ở phía sau núi này. Hạ Hầu Uyên thấy Lưu Bị tới đánh, nhân đêm tối, mang quân tới đánh doanh trại của Lưu Bị. Trong khi hai bên đang xô xát kịch liệt, Hoàng Trung từ trên cao thúc trống đánh xuống, khí thế rất mạnh, đánh vào sườn quân của Uyên. Hoàng Trung chém được Hạ Hầu Uyên và giết được thứ sử Ích châu của Tào Tháo là Triệu Ngung. 5000 quân Tào gần như bị tiêu diệt hoàn toàn.Tào Tháo được tin Hạ Hầu Uyên tử trận, thì hoảng sợ đứng không vững, vội đích thân mang đại quân từ Trường An qua hang Tà Cốc vào Xuyên để quyết chiến. Lưu Bị thấy Tào Tháo mất nguồn lương tại chỗ, phải vận nhiều lương từ xa đến, bèn phái binh đi cướp lương thảo. Sau khi Triệu Vân đánh bại quân Tào một trận bên sông Hán Thủy, Lưu Bị giữ thế phòng thủ không ra giao chiến. Qua hơn 1 tháng khiêu chiến không đánh được trận nào, quân Tào mệt mỏi. Lưu Bị lại sai người lọt vào hàng ngũ quân Tào làm nội ứng, phao tin đồn khiến quân Tào chán nản. Tháng 6 năm 219, mùa hè, trời mưa nhiều khiến quân Tào đông đảo càng mệt mỏi vì vận lương. Tướng hướng đạo bên Tào là Vương Bình bỏ trốn sang đầu hàng Lưu Bị. Tào Tháo liệu thế không thể thắng được Lưu Bị, đành hạ lệnh lui quân khỏi Hán Trung, để Trương Cáp và Tào Hồng chia nhau đóng đồn ở Trần Thương và Vũ Đô, sai Tào Chân yểm trợ cho Tào Hồng dần dần rút khỏi Vũ Đô. Sau khi Tào Tháo rút, Lưu Bị sai Mạnh Đạt và Lưu Phong làm tướng tấn công vào Phòng Lăng, Thượng Dung. Thái thú Thượng Dung là Thân Đam và em là Thân Nghi ở Tây Thành đầu hàng. Toàn bộ Ích châu cũ, gồm Tây Xuyên và Đông Xuyên, đã thuộc về Lưu Bị. Lấy được Hán Trung là một trong những chiến thắng trọng yếu của Thục Hán, giúp Thục hình thành cục diện "tam phân thiên hạ" với Ngô - Ngụy về sau. Năm Kiến An thứ 24 (219, Hán Hiến Đế), Lưu Bị tự lập làm Hán Trung Vương, phong Pháp Chính làm Thượng thư lệnh, kiêm Hộ quân tướng quân. Từ đây, phe Lưu Bị chính thức gọi là Thục, dù rằng chuyện xưng vương sớm muộn gì cũng xảy ra nhưng nhiều sử gia sau này cho rằng đây là một sai lầm chính trị của Lưu Bị: Việc Lưu Bị xưng vương, đưa Lưu Bị lên ngang hàng với Tào Tháo (Ngụy Vương) nhưng đồng thời lại “vô tình” hạ thấp địa vị của Tôn Quyền, khi giờ đây Tôn Quyền mới chỉ là … thứ sử Dương Châu, còn chưa được phong tước công. Hành động này vô tình đẩy Tôn Quyền ra xa và khiến liên minh Tôn Lưu trở nên mất cân bằng, và hậu quả của nó đã đến rất nhanh chóng.
X. MẤT KINH CHÂU – QUA ĐỜI Ở BẠCH ĐẾ THÀNH
Phần này liên quan nhiều đến Quan Vũ, có thể không nói, nhưng mà ảnh hưởng của nó lại quá to lớn về sau, nên buộc phải “bươi móc” lỗi lầm của Quan Nhị Ca ra mà phân tích vậy. Sau năm 219, tập đoàn Lưu Bị cuối cùng cũng đã có chỗ đứng ở Trung Nguyên, trên đời có hai cái số không thể né được, đến ngày đến giờ, tự nó sẽ đến với các bạn ấy là số làm vua và số … đi tù. Số làm vua thì các bạn thấy nhiều rồi đấy: Hạng Vũ kiêu dũng tuyệt luân, Hàn Tín dụng binh như thần vẫn không thể nào qua được thằng đầu đảng lưu manh chỉ vì nó có chân mạng thiên tử, hay như người có 7 anh em trong nhà đều chết đói, thuở nhỏ phải đi ăn xin, đi làm hòa thượng mà cuối cùng lại đuổi được người Mông Cổ ra khỏi Trung Nguyên, mở ra cơ nghiệp 300 năm huy hoàng cho nhà Minh, nếu đó không phải do số thì là do cái gì? Lưu Bị cũng thế, trôi dạt hơn nửa đời người, đi đến đâu cũng lưu lại tiếng thơm là nhân đức trượng nghĩa nhưng mảnh đất cắm dùi còn không có, hơn 50 tuổi mới có được mấy quận Kinh Châu để làm vốn, vậy mà chỉ trong 10 năm đã chiếm được một góc thiên hạ cùng xưng hùng với Tào Tháo … (còn số tù thì thôi, khỏi nói nhiều, chỉ cần dẫn câu này thôi, các bạn tự hiểu: Số tu thời phải đọc kinh, số tù đẹp cỡ Ngọc Trinh cũng tù, hehe). Quay lại với vấn đề của chúng ta, thời khắc nguy hiểm nhất không phải là thời khắc cận kề thất bại mà là thời khắc chuẩn bị thành công, năm 219, phe Thục liên tiếp thắng lợi, gần như ngay sau khi Lưu Bị xưng vương thì ở Giang Lăng, Quan Vũ mang quân Kinh Châu đi đánh Tương Dương – Phàn Thành. Thật ra Quan Vũ tiến hành chiến dịch lúc này thì không sai, quân Tào liên tục bị sa lầy ở Nhu Tu và sau đó là để mất Hán Trung trong cùng năm 219, tội gì không nhân lúc nó đang suy yếu mà đạp thêm một cái? Dự định của Quan Vũ là trước tiên hạ Tương Dương và Phàn Thành, sau đó sẽ ruổi dài theo quân Tào chiếm Nam Dương, tấn công vào Hứa Xương và Lạc Dương, đuổi quân Tào chạy lên phía bắc Tế Thủy. Lúc đó Phàn Thành do Tào Nhân trấn giữ, Tương Dương do Lã Thường đóng quân. Quan Vũ mang quân tới tấn công Phàn Thành và Tương Dương rất mạnh mẽ. Tào Nhân không mang quân ra ngoài đối địch, chỉ cố thủ trong thành. Tào Tháo lúc đó vừa thất bại ở Hán Trung rút đại quân về tới Trường An, nghe tin Phàn Thành bị uy hiếp nặng nề, vội sai Tả tướng quân Vu Cấm cùng Lập nghĩa tướng quân Bàng Đức mang 7 đạo quân đi cứu viện.
Quan Vũ mang quân tới đánh, Vu Cấm và Bàng Đức dựng trại đối địch, Vu Cấm không xem xét kỹ địa thế, dựng trại ở chỗ trũng. Tháng 8 năm đó, trời mưa lớn nhiều ngày, nước sông Hán Thủy dâng cao, tràn ra ngoài đê, khiến Phàn Thành bị nước lũ vây kín. Ngoài thành, 7 đạo quân của Vu Cấm người bị chết đuối, người bỏ chạy. Vu Cấm dẫn các tướng chạy lên nơi cao quan sát thế nước nhưng không có cách nào thoát ra được. Quan Vũ có chuẩn bị từ trước nên mang quân đi thuyền tới vây đánh. Vu Cấm và các tướng sĩ không thể chống cự được nên đều bị bắt. Riêng Bàng Đức nhất định không chịu hàng. Quan Vũ bèn sai mang Bàng Đức ra chém, còn Vu Cấm thì giải về giam ở thành Giang Lăng. Phàn Thành và Tương Dương bấy giờ vô cùng nguy cấp, nhiều chỗ trong thành bị nước sông làm sói lở. Có người khuyên Tào Nhân nên lấy thuyền chạy trốn. Trong lúc Tào Nhân do dự thì Thái thú Nhữ Nam là Mãn Sủng động viên Tào Nhân rằng nước lên nhanh sẽ rút nhanh và nếu bỏ Phàn Thành thì bờ nam Hoàng Hà sẽ mất theo. Tào Nhân nghe ra, lại tang mood, bèn cùng các tướng cùng ăn thề, cố sức liều chết chống trả. Tại thành Tương Dương, Lã Thường cũng cố sức cầm cự trước sức tấn công của Quan Vũ. Hai thành bị vây ngặt, hoàn toàn không liên lạc được với nhau nhưng vẫn kiên quyết không chịu hàng. Trong khi đó, các tướng Tào khác gồm thứ sử Kinh châu là Hồ Tu, thái thú Nam Hương là Trù Phương đều đầu hàng Quan Vũ.
Tào Tháo bấy giờ nghe tin 7 đạo quân của Vu Cấm bị tiêu diệt, hai thành bị cô lập và uy hiếp dữ dội, vô cùng hoảng sợ, bèn định dời đô khỏi Hứa Xương và mang Hán Hiến Đế chạy lên Nghiệp Thành ở phía bắc. Tuy nhiên Tư Mã Ý và Tưởng Tế can ngăn, cho rằng: Tôn Quyền và Lưu Bị ngoài mặt là thân nhau (anh vợ và em rể), nhưng bên trong không hòa thuận muốn thôn tính nhau và Tôn Quyền sẽ trở mặt đánh Quan Vũ; nếu dời đô sẽ làm lòng người dao động, tạo ra sự sụp đổ dây chuyền cho cả phương bắc, nhất định không được làm. Tào Tháo nghe ra tỉnh hết cả người, quyết định không thiên đô, sai Từ Hoảng mang quân đi cứu Phàn Thành.
Đúng lúc này thì bên Ngô tung độc chiêu: Tôn Quyền sai người dâng thư đến xin quy phục Tào Tháo, giúp họ Tào giáp công đánh Quan Vũ ở mặt đông. Nguyên nhân thì ngoài chỗ mâu thuẫn về thượng tầng cấu trúc giữa Lưu Bị - Tôn Quyền như đã phân tích ở trên, còn một nguyên nhân nữa là do thái độ của Quan Vũ đối với Tôn Quyền: Do thái độ nhún nhường liên tục của Lã Mông khiến cho Quan Vũ ngày càng tự phụ, coi thường Đông Ngô, thậm chí khi Tôn Quyền đề nghị hỏi cưới con gái Quan Vũ cho con trai mình thì Quan Vũ đáp lại bằng một câu nói xấc xược: Con ta là rồng là cọp, sao lại gả cho loài chó lợn? – Chính điều đó làm cho Tôn Quyền tức giận, quyết định phải đoạt lại Kinh Châu và “giũ sổ” Quan Vũ. Ngoài ra, quan hệ đối nội của Quan Vũ cũng không tốt chút nào, khi Lưu Bị vào Xuyên, đã để lại hai văn thần cho Quan Vũ là My Phương (em My Trúc) và Sĩ Nhân để giúp việc cho Quan Vũ, nhưng Vũ vốn tính giang hồ, không ưa bọn văn nhân nên trong quá trình làm việc thường xuyên coi thường hai người này, khiến họ ấm ức. Trong chiến dịch bắc phạt, Quan Vũ cũng có đề phòng Đông Ngô sẽ thừa cơ cắn trộm nên cũng để lại một số lượng lớn binh sĩ để giữ thành, đặc biệt là Giang Lăng và Công An, hai vị trí chiến lược ở ngay phía sau quân đội của mình.
Lã Mông nhân lúc Quan Vũ tiến lên phía bắc thì thử cải trang, tiến tới Lục Khẩu để dò xét tình hình thì phát hiện Vũ vẫn để lại lực lượng phòng thủ hùng hậu, khiến quân Ngô khó đạt được bước đột phá đáng kể. Mông bèn "tương kế tựu kế", học theo kế của Bạch Khởi năm xưa, bàn với Tôn Quyền đưa một nhân vật "không có tiếng tăm" lên thay mình, nhằm làm Quan Vũ lơi lỏng giới bị. Người được Lã Mông giới thiệu là Lục Tốn "tài cán hơn người, mà danh tiếng chưa vang xa, không khiến (Quan) Vũ cố kỵ". Liền sau đó, Lã Mông loan tin mình bị ốm nặng, phải về Sài Tang dưỡng bệnh, Lục Tốn được cử đến để “tạm quyền”. Khi Lục Tốn vừa tới Lục Khẩu (Hồ Bắc) liền gửi thư "ca ngợi" Quan Công - "Trận Phàn Thành khiến Vu Cấm đầu hàng, mọi người gần xa đều bái phục Quan tướng quân, có thể nói là lưu danh muôn đời. Dù là Tấn Văn Công hay Hàn Tín năm xưa cũng khó lòng so sánh với tướng quân. Nhưng Tào Tháo mười phần lợi hại, nhất định không cam chịu thất bại mà sẽ tăng binh ứng chiến. Mong tướng quân không nên khinh địch. Tốn chỉ là kẻ thư sinh, không có bản lĩnh nắm giữ trọng trách (ở Kinh Châu), cũng may gặp được 'láng giềng tốt' như Quan tướng quân, chỉ có vài ý kiến nhỏ, xin tướng quân chỉ giáo".Trúng phải "công tâm kế" của Lục Tốn, Quan Vũ cho rằng Lục Tốn bất quá chỉ ngồi đó tạm quyền, không dám manh động, bèn bắt đầu rút bớt quân đội từ miền Đông để điều lên bổ sung cho Phàn Thành. Lã Mông sau khi nhận được tin tức thì lập tức di chuyển tới bến Tầm Dương. Nhằm che mắt quân thám báo Kinh Châu mà Quan Vũ bố trí bên sông, ông cho lính di chuyển bằng thuyền buôn, bộ đội tinh nhuệ đều mặc áo trắng đóng giả làm thương nhân. Toàn bộ quân đội của Lã Mông đã vượt qua phòng tuyến tuần tra của Quan Vũ mà không gây ra bất kỳ sự chú ý nào. Đây chính là chiến dịch "bạch y độ giang" kinh điển đã ghi danh Lã Mông vào sử sách. Trong khi đó, Quan Vũ ở phía Bắc không hề hay biết về động thái của Đông Ngô, Lã Mông nhanh chóng đoạt được Nam quân, rồi sai Ngu Phiên đến thuyết hàng hai tướng Phó Sĩ Nhân và Mi Phương. Hai tướng này vốn bất mãn với Quan Vũ nên đồng ý, đầu hàng, dâng Giang Lăng và thành Công An cho Tôn Quyền. Lã Mông lại ra lệnh cho quân lính không được cướp đoạt và chém giết bách tính vô tội. Lúc đó có người đồng hương với Lã Mông (quận Nhữ Nam) ăn bớt vật tư, bị sĩ tốt phát hiện. Lã Mông không vì nể tình riêng, ra lệnh xử quyết người đó. Quân sĩ rất khâm phục ông. Ngoài ra, Lã Mông còn tìm cách lấy lòng dân chúng, thăm hỏi người già, tặng thuốc cho người bệnh,... Đối với tài sản của Quan công, Lã Mông cho phong bế lại và đưa lên Tôn Quyền, không cắt xén chút nào.
Tôn Quyền trước đó đề nghị Tào Tháo giữ kín ý định đánh úp Kinh châu của mình. Tào Tháo mang việc ra bàn bạc, nhiều người cho rằng nên giữ kín giúp Tôn Quyền. Riêng Đổng Chiêu không đồng tình. Ông cho rằng ngoài mặt nên hứa với Tôn Quyền giữ kín nhưng nên ngầm làm lộ thông tin, vì khi biết Tôn Quyền đánh lén, theo lẽ thường thì Quan Vũ sẽ mang quân về ngay, như vậy Phàn Thành được giải vây và Tào Ngụy được lợi ngồi nhìn Tôn Quyền và Quan Vũ giao tranh; nhưng Quan Vũ là người kiêu căng, sẽ không chịu rút ngay khỏi Phàn Thành đang bị ngập nước. Nếu trong thành không biết tin bên ngoài thì có thể thành sẽ vỡ về tay Quan Vũ. Vì vậy, Đổng Chiêu chủ trương làm lộ thông tin, báo cho Quan Vũ biết để Quan Vũ bị phân tán, mặt khác báo cho tướng sĩ trong Phàn Thành và Tương Dương biết để cố giữ thành vì Quan Vũ trước sau cũng phải về cứu hậu phương. Tào Tháo tán đồng phân tích của Đổng Chiêu, bèn lệnh cho Từ Hoảng (tướng được cử đi cứu viện Phàn Thành) sao chép thư của Tôn Quyền ra nhiều bản, không chỉ bắn sang trại Quan Vũ mà bắn cả vào trong Phàn Thành cho quân Tào biết. Quả nhiên Quan Vũ không tin vào thư đó, cho rằng Tào Tháo lắm mưu mô, phao tin sai để lung lạc mình, nên tiếp tục công hãm thành. Trong khi đó, quân của Tào Nhân trong thành được tin Quan Vũ sẽ bị đánh tập hậu, bỗng nhuệ khí tăng lên gấp bội, liều chết phòng thủ. Tháng 10 năm 219, Tào Tháo điều thêm 12 doanh quân đến trợ chiến cho Từ Hoảng, Hoảng quyết định ra quân để đánh Quan Vũ. Từ Hoảng vốn đồng hương người huyện Hà Đông với Quan Vũ, nên khi Quan Vũ còn phục vụ cho Tào Tháo hai người cũng có giao tình. Lúc đối trận, hai người đứng xa trò chuyện, được một lúc, Từ Hoảng bất thần xuống ngựa đọc lệnh "chém đầu Quan Vũ lĩnh thưởng" của Tào Tháo. Quan Vũ kinh ngạc không kịp chuẩn bị tinh thần chiến đấu, bị quân Tào đánh bại một trận, thua chạy. Từ Hoảng lại dùng kế dương đông kích tây, phao tin đánh đồn Vi Trủng nhưng kỳ thực đánh đồn Tứ Trủng. Quan Vũ mắc mưu nên bị thua to, đồn Tứ Trủng sắp vỡ, Vũ phải đích thân dẫn năm nghìn quân ra đánh, bị Từ Hoảng đánh lui. Hoảng đuổi theo phá tan quân Thục, binh sĩ bị rơi xuống sông Hán Thủy chết rất nhiều, Phàn Thành được giải vây. Tuy cánh quân 5.000 người bị thua trên bộ nhưng thủy quân của Quan Vũ vẫn chiếm cứ Miến Thủy, Từ Hoảng không có thuyền nên không thể giao tranh trên sông nước, đành lui quân về. Tương Dương vẫn bị vây hãm. Nhưng lúc này tin Giang Lăng thất thủ truyền tới, Quan Vũ phải lập tức bỏ vòng vây Tương Dương, dẫn binh quay về Giang Lăng, đi được nửa đường mới biết Giang Lăng và Công An đã mất. Quan Vũ phải chạy về Mạch Thành (phía đông nam đường từ Hồ Bắc tới Đương Dương). Tháng chạp năm 219, Tôn Quyền sai người dụ hàng Quan Vũ. Quan Vũ giả vờ đầu hàng, nhưng lại dẫn 10 kỵ quân chạy tới Lâm Thư nằm ở tây bắc Tương Dương thì bị tướng Ngô là Chu Nhiên và Phan Chương bắt mang về, sau đó bị Tôn Quyền hạ lệnh chém đầu. Từ đó Đông Ngô khống chế toàn bộ phía nam sông Trường Giang, gồm Kinh châu và Dương châu.
Sau khi chiếm các quận Nghi Đô, Nam Quận và Vũ Lăng từ tay Quan Vũ, Tôn Quyền chủ động xưng thần với Tào Tháo nên được Tào Tháo thừa nhận làm Châu mục Kinh châu. Bản thân Tôn Quyền lập lại Lưu Chương (vốn bị Lưu Bị an trí ở thành Công An) làm Ích châu mục, sai đóng ở Tỉ Quy để làm tiền đồn chống Lưu Bị. Như vậy Tôn Quyền không thừa nhận địa vị của Lưu Bị ở cả Ích châu lẫn Kinh châu như trước. Năm 220, Tào Tháo qua đời, cuối năm đó con là Tào Phi cướp ngôi Hán Hiến Đế lập ra nhà Ngụy. Tháng 4 năm 221, Lưu Bị cũng xưng đế, lập quốc hiệu là Hán để kế tục Hán Hiến Đế, rồi quyết định khởi binh đánh Đông Ngô. Có nhiều ý kiến thường nhìn nhận rằng Lưu Bị vì tình riêng mà đánh Ngô, là sai lầm không coi trọng đại cục. Nhưng các sử gia xem xét việc này có lý do chính đáng từ phía Lưu Bị. Lưu Bị có tình nghĩa với Quan Vũ phải báo thù, nhưng không chỉ vì một mình Quan Vũ mà khởi binh. Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng: sau khi Quan Vũ mất, Lưu Bị không truy phong danh hiệu cho Quan Vũ mà lo việc lên ngôi hoàng đế của mình trước (danh hiệu Tráng Mậu hầu của Quan Vũ mãi năm 260 Lưu Thiện mới truy phong); khi Quan Vũ chết (tháng chạp năm 219), Lưu Bị không khởi binh ngay mà 1 năm rưỡi sau, tới tháng 5 năm 221 mới thực hiện. Việc đánh Ngô có lý do chủ yếu ở phương châm đã định, vì lấy Kinh châu làm 1 bàn đạp tấn công trung nguyên đã nằm trong chiến lược Long Trung đối sách mà Gia Cát Lượng vạch ra, nên khi Kinh châu mất thì phải đoạt lại. Ngoài ra, xét về thực lực lúc đó, Tào Phi mạnh hơn Tôn Quyền, do đó Lưu Bị tự lượng thực lực của mình dễ đánh thắng Tôn Quyền hơn là đánh thắng Tào Phi.
Tôn Quyền thấy Lưu Bị tiến vào Kinh châu, vội sai Thái thú Nam quận là Gia Cát Cẩn đi giảng hòa. Gia Cát Cẩn biết Lưu Bị đang rất căm giận Tôn Quyền nên lấy danh nghĩa cá nhân viết thư phân tích với ý khuyên Lưu Bị xem Tào Phi làm đối thủ chính vì nợ nước với nhà Hán. Tuy nhiên, Lưu Bị không chấp nhận lời đề nghị của Gia Cát Cẩn, thúc quân tiếp tục đông tiến. Vì vậy chiến tranh giữa hai bên chính thức nổ ra. Lo sợ nguy cơ từ phía Tào Ngụy ở phía bắc khi giao tranh nổ ra với Lưu Bị, tháng 8 năm 221, Tôn Quyền vội vã sai sứ tới Lạc Dương gặp Tào Phi dâng biểu xưng thần, đồng thời trao trả Vu Cấm từng bị Quan Vũ bắt sống và giam cầm ở Giang Lăng cho Tào Phi. Tào Phi tiếp nhận đề nghị của Tôn Quyền, sai sứ đi Kiến Nghiệp, phong Tôn Quyền làm Ngô vương. Vì vậy Tôn Quyền tạm thời yên tâm mặt bắc để đối phó với Lưu Bị. Tháng 9 cùng năm hai tướng tiên phong Ngô Ban, Trần Thức đánh bại đạo quân Ngô của Lý Dị và Lưu A, chiếm huyện Vu và Tỉ Quy. Lục Tốn mang quân đóng ở Di Lăng, thận trọng giữ thế phòng ngự. Tháng 2 năm 222, sau khi ở Tỉ Quy nửa năm, Lưu Bị dự định tiến quân đến Di Lăng, Hào Đình. Hoàng Quyền can ông nên đề phòng quân Ngô thông thạo thủy chiến, do đó không nên khinh suất khiêu chiến mà Lưu Bị nên giữ hậu đội phía sau để Hoàng Quyền tự làm tiên phong giao tranh với quân Ngô trước. Lưu Bị bỏ qua lời đề nghị của Hoàng Quyền, lệnh cho Hoàng Quyền làm Trấn bắc tướng quân, thống lĩnh quân Giang Bắc đề phòng quân Tào Ngụy đánh xuống, còn tự mình đích thân chỉ huy đại quân xuôi dòng tiến đánh Di Lăng. Lục Tốn thấy quân Thục đang hăng hái, quyết định không đối đầu để tránh thương vong mà hạ lệnh cho tiền quân vứt bỏ Di Lăng, rút về Hào Đình củng cố phòng tuyến, tự mình đặt đại bản doanh ở Di Đạo phía nam Trường Giang cố thủ. Thấy quân Ngô rút lui, Lưu Bị bèn chiếm đóng Di Lăng, lập doanh trại. Sau đó ông chia quân làm 2 đường, cánh trái do Phùng Tập chỉ huy vòng qua Hào Đình của Đông Ngô và bày trận ở phía bắc Di Đạo; cánh phải do Ngô Ban chỉ huy vượt sông đánh vào trại chính của Đông Ngô ở Di Đạo.
Lục Tốn thấy Lưu Bị chia quân ra đánh trại chính thì cho quân tăng viện từ hậu phương ra lập thêm trại để kìm chân quân Thục. Ngô Ban tấn công vào trại nhiều ngày, quân Ngô vẫn kiên cường phòng thủ, quân Thục không hạ được. Lưu Bị hạ lệnh cho quân thủy lên bộ hạ trại. Giữa Tỉ Quy và Hào Đình cách nhau 700 dặm, Lưu Bị lập ra liên tiếp mấy chục doanh trại. Lập liên trại với khoảng cách xa như vậy là sai lầm của Lưu Bị, tối kỵ đối với nhà binh (à, cần làm rõ dặm ở đây là dặm Trung Quốc, không phải dặm Anh, nên 700 dặm chỉ chừng 14 km thôi). Tào Phi ở Lạc Dương nghe tin này cũng đoán Lưu Bị sẽ thất bại. Thấy Lưu Bị lập doanh trại cách nhau quá xa, quân Thục bị phân tán, các tướng Ngô đề nghị Lục Tốn lập tức phản kích. Lục Tốn không đồng tình, ông cho rằng quân Thục đang hăng hái chưa thể giao tranh, cần đợi khi quân Thục mệt mỏi, giảm nhuệ khí mới có thể đánh thắng. Hai bên giằng co nhau trong 4 tháng, từ tháng 2 đến tháng 6. Lưu Bị nhiều lần khiêu chiến nhưng quân Ngô không ra. Lâu ngày không hạ được Di Đạo và không xuyên qua được phòng tuyến của Lục Tốn, Lưu Bị lo lắng vì quân Thục đã vào sâu đất địch, tuy xuôi dòng sông Trường Giang nhưng phải vận chuyển lương thực đường xa rất tốn kém. Ông bèn hạ lệnh cho Ngô Ban siết chặt vòng vây ở thành Di Đạo, tự mình dẫn quân vượt bờ bắc, chia làm 2 cánh đánh vào hậu phương của Lục Tốn, lại cho 8000 binh sĩ mai phục để chờ quân Ngô ra. Các tướng Ngô thấy quân Thục ít, định ra tấn công ngay, nhưng Lục Tốn cho rằng đó chỉ là kế lừa của Lưu Bị nên một mực giữ thế thủ. Lưu Bị thấy quân Ngô không trúng kế, đành phải lệnh cho Ngô Ban trở về bờ nam. Các tướng Ngô vẫn coi thường Lục Tốn nhát gan không chịu ra quân, từ khi thấy ông dự liệu chính xác mới tỏ ra khâm phục.
Giữa mùa hè, cuối tháng 6 năm 222, vùng Hoa Trung có gió đông nam thổi mạnh, quân Thục xa nhà đã lâu, nhuệ khí giảm sút, trời hè nóng nực, quân sĩ cũng đau bệnh nhiều. Lục Tốn nhận định thời cơ để đánh bại quân Thục đã đến, bèn hạ lệnh cho Chu Nhiên theo đường thủy ngược dòng đánh lên vào đại bản doanh của Lưu Bị ở Hào Đình, trên thuyền dùng nhiều cỏ khô và củi lửa để đốt; Hàn Đương và Phan Chương đi đường vòng bên phải đến Trác Hương để chặn đường rút của đội tiên phong Thục Hán; Từ Thịnh và Tống Khiêm đi giải vây cho Di Đạo, sau đó sẽ cùng tiến vào đại trại quân Thục. Lưu Bị có 40 trại từ Khiếu Đình đến Tỉ Quy trải dài 700 dặm, Lục Tốn chủ trương chỉ tấn công vào 20 trại cách từng trại một để gây ra hỗn loạn cho quân Thục. Quân do thám của Thục Hán biết quân Ngô chuẩn bị tấn công, liền phi báo cho Lưu Bị. Lưu Bị được tin liền lệnh cho Phùng Tập, Trương Nam sẵn sàng nghênh chiến, và lệnh cho Ngô Ban bỏ đánh Di Đạo mà vượt sông lên phía bắc, chờ quân chủ lực của Đông Ngô xuất hiện thì đổ ra đánh. Tuy nhiên, Lục Tốn không điều quân như Lưu Bị dự liệu (bỏ qua đối đầu với Phùng Tập và Trương Nam ở tiền tuyến), mà cho quân đi đường thủy ngược dòng đánh vào đại trại quân Thục ở Hào Đình. Nửa đêm, quân Ngô áp sát trại Thục và nổi lửa tấn công. Mùa hè nóng nực, trại quân Thục nằm trong rừng nhiều cây nên lửa rất dễ bén. Các doanh trại quân Thục nhanh chóng bốc lửa và quân Thục trở nên hỗn loạn, giẫm đạt lên nhau. Các tướng trong doanh Lưu Bị thấy Đông Ngô đánh hỏa công thì biết chắc rằng đại sự đã hỏng, vội vàng hộ giá Lưu Bị chạy về phía tây, và báo cho các trại về hộ giá. Trương Nam và Phùng Tập nghe tin đại trại bị tấn công, phải bỏ mục tiêu đánh quân chủ lực của Lục Tốn mà rút về cứu. Khắp từ Hào Đình tới Di Lăng lửa bốc cháy. Lưu Bị chỉ biết vượt qua Di Lăng để lui về phòng thủ ở Tỉ Quy. Song lúc đó Hàn Đương và Phan Chương đã chiếm được Trác Hương, cắt đứt đường lui của quân Thục. Từ Thịnh, Tống Khiêm và Tôn Hoàn cũng từ Di Đạo tiến tới đuổi phía sau. Chu Nhiên chỉ huy thủy quân bỏ thuyền lên bộ cùng giáp công, quân Ngô 3 mặt cùng đánh, Lưu Bị và các tướng nhìn quanh chỉ còn mỗi thành Bạch Đế ở Vu huyện là còn có thể chạy về, bèn dốc sức hộ tống Lưu Bị chạy về hướng đó. Triệu Vân đóng quân ở Giang châu, được tin báo toàn quân đại bại, vội dẫn quân ra chi viện, nhưng khi chưa tới mặt trận thì Lưu Bị đã rút về thành Bạch Đế, nên Triệu Vân chia quân ra đóng ở Vu huyện, dựa vào địa hình hiểm trở để phòng thủ. Nghe tin Lưu Bị lui về thành Bạch Đế, Từ Thịnh và Phan Chương đề nghị với Tôn Quyền tấn công sẽ bắt được Lưu Bị. Tuy nhiên Lục Tốn dự đoán Tào Phi sẽ đánh sau lưng Đông Ngô, nên cho toàn quân lui về phòng bị, không nên ham truy đuổi. Tôn Quyền nghe theo, bèn hạ lệnh lui quân, chiến dịch Di Lăng chính thức kết thúc với thất bại của Lưu Bị.
Thất bại Di Lăng khiến Lưu Bị suy sụp. Nhưng ngay sau đó Ngô-Ngụy cũng xảy ra chiến tranh. Không ngoài dự tính của Lục Tốn, Tào Phi nhân lúc Ngô-Thục giao tranh bèn dẫn quân nam tiến đánh Ngô. Tôn Quyền, Lục Tốn lại phải huy động tướng sĩ ra sức chống trả. Hai bên giằng co ở Giang Lăng – Nam quận. Lưu Bị nghe tin Lục Tốn đối trận với Tào Phi, bèn viết thư cho Lục Tốn nói: "Nay giặc (Tào Phi) đã đến tại Giang Lăng, tướng của ta lại đến phía đông, tướng quân nói xem có được không?" - Lục Tốn xem thư hiểu hàm ý của ông, bèn viết thư trả lời, một mặt vạch rõ quân Thục mới bị trọng thương không thể ra trận, mặt khác chủ động đề nghị giảng hòa. Tán thành với đề nghị của Lục Tốn, cuối năm 222, Tôn Quyền sai Trịnh Tuyền làm sứ đến thành Bạch Đế gặp Lưu Bị, xin giảng hòa. Lưu Bị cân nhắc, ông không thể tiếp tục đánh Đông Ngô, bản thân mình cũng lâm nguy vì Tào Ngụy rất mạnh. Vì vậy ông chấp nhận đề nghị giảng hòa của Tôn Quyền và sai Tôn Vĩ sang Đông Ngô đáp lễ Tôn Quyền. Tuy nhiên, đó cũng chỉ là 2 hoạt động ngoại giao khởi động lại cho hòa bình giữa 2 bên sau chiến tranh; hai bên đồng ý giảng hòa để kết thúc tình trạng thù hận nhưng chưa có thỏa thuận gì khác về tái hợp liên minh chống Tào. Sau đó, do bệnh tình của Lưu Bị nguy kịch nên hoạt động ngoại giao 2 nước bị gián đoạn
Nhiều người chê trách việc Lưu Bị lập quân trại kéo dài hơn 700 dặm trong rừng phạm vào đại kỵ binh gia để đến nỗi đại bại nhưng thật ra tình thế của Lưu Bị khi đó buộc phải làm như vậy. Thủy binh của Thục đã tan rã cùng với thất bại của Quan Vũ hồi năm 219, quân Thục vốn dĩ không có cơ hội chiến thắng phe Ngô bằng thủy chiến, thế nên Lưu Bị mới phải cho quân thủy bỏ thuyền lên bờ lập trại. Ngoài ra việc lập trại như con rắn dài như thế lại dễ dàng hơn cho việc vận lương bằng cách men theo Trường Giang, từ trong Thục ra tới Kinh Châu đường bộ xa xôi cách trở, chỉ có cách dùng đường thủy là tiện nhất. Ngoài ra cũng phải kể đến sự sáng suốt của Lục Tốn, đã nhìn ra được chỗ mạnh/yếu của Lưu Bị, sẵn sàng lui binh, vất bỏ doanh trại để nhử cho quân Thục càng đi sâu vào, tuyến đường hậu cần càng phải kéo dài, càng thêm khó khăn. Việc quân Ngô chỉ thủ mà không công trong suốt 6 tháng trời cũng là một chiến lược nghe đơn giản nhưng rất khó để thực hiện: Phải kiềm giữ những cái đầu nóng của tướng sĩ bên mình, lại phải biết tính toán để làm suy giảm nhuệ khí quân thù (thủ nhưng không được để chúng thắng, nếu thủ mà quân thù đánh thắng được, có khi nhuệ khí không giảm mà còn tăng). Khi phản công thì Lục Tốn cũng “xuất kỳ bất ý”, bỏ qua mũi tiên phong mà đánh thẳng vào đại trại của Lưu Bị, dù biết Đông Ngô sẽ phản công nhưng cái mà Lưu Bị và các tướng không ngờ là Lục Tốn lại dám đánh theo kiểu bất ngờ như vậy, Lưu Bị cũng có những tính toán và điều chỉnh của riêng mình cho trận chiến này nhưng dường như nó là chưa đủ so với một đối thủ cao tay như Lục Tốn.
Tuy giảng hòa được với Đông Ngô nhưng thất bại Di Lăng vẫn là đòn chí mạng đối với Lưu Bị. Vì không thể chiếm lại Kinh châu nên những kế hoạch trong Long Trung đối sách mà Gia Cát Lượng đề ra khó mà thực hiện được nữa, việc đánh Tào Ngụy khôi phục trung nguyên cũng khó mà còn cơ hội. Đầu năm 223, Lưu Bị cảm thấy bệnh tình càng trầm trọng, bèn sai người đến Thành Đô triệu tập thừa tướng Gia Cát Lượng đến gấp cung Vĩnh An để giao phó. Giữa tháng 6 năm 223, Lưu Bị qua đời tại cung Vĩnh An, thọ 63 tuổi. Ông được truy tôn là Chiêu Liệt hoàng đế.
LỜI BẠT
Có kẻ sinh ra đã kế thừa được cơ nghiệp (Tôn Quyền), có kẻ lập nghiệp thật dễ dàng (Tào Tháo), nhưng cũng có kẻ phải trầy trật tới nửa đời người mới ra cơ nghiệp đó chính là Lưu Bị vậy. Lưu Bị không có xuất phát điểm tốt như Tôn Quyền, lập thân không thuận lợi như Tào Tháo, chỉ có thể dựa vào hai chữ Kiên Trì mà ko ngừng cố gắng. Đừng nói rằng Lưu Bị gặp may khi có các tướng giỏi theo phò, sau khi đọc hết seri này, tôi tin các bạn đã có cái nhìn thoáng hơn về các tướng của Ngụy - Thục - Ngô, cả 3 phe đều có những tướng giỏi như nhau, nếu ko có tướng giỏi, họ không thể chia ba thiên hạ được mà đã sớm đi theo Lưu Biểu, Lưu Chương hay Lữ Bố, Viên Thuật rồi... Cuộc đời của Lưu Bị bị tô vẽ khá nhiều dưới ngòi bút của La Quán Trung, làm hình ảnh của ông trong mắt hậu thế bị "méo mó" đi nhiều. Lưu Bị không mau nước mắt đến độ hở chút là khóc, không vô dụng đến mức ngồi không, chờ hai ông em kết nghĩa lập công mang về. Chỉ có giỏi thu phục nhân tâm thì đúng phần nào với con người thật của Lưu Bị. Cuộc đời Lưu Bị cũng có nhiều điểm cho ta học hỏi được: Đấy là biết ẩn nhẫn chờ thời, Tào Tháo là người hiểu rõ Lưu Bị nhất, biết tài Lưu Bị nhất. Không gì nguy hiểm hơn một kẻ thù biết rõ về mình, Tào Tháo từng nói thẳng: Lưu Bị như con rồng trong loài người, xưa nay chưa được xuống nước bao giờ nay được Kinh-châu khác nào rồng khô mà vào bể lớn. Chính Tào Tháo cũng biết rằng Lưu Bị khi tự do sẽ nguy hiểm như thế nào, nhưng cũng chính Lưu Bị khi có cơ hội đã lập tức thoát đi ngay, 2 năm dưới trướng Tào Tháo thật ra là 2 năm thử thách nhất của Lưu Bị, phải che giấu mục đích và phải diễn thật đạt vai của mình và khi có cơ hội thì phải nắm thật chặt không buông. Từ Châu ngày ấy quá nhỏ bé, Lưu Bị chê không đủ nên nhường Lã Bố. Kinh Châu khi đã đặt được chân vào, Bị kiên quyết không buông, đó là biết thời biết thế vậy, đại trượng phu ở trong trời đất, biết nhẫn nhịn, biết buông bỏ, lại biết tranh giành đúng lúc, thử hỏi xưa nay được có mấy người?
