14/01/2015
Bánh kagamimochi ngày đầu năm ở Nhật Bản
Tết Nhật được coi là một trong những nghi lễ tồn tại lâu đời của người Nhật, tuy nhiên người ta vẫn chưa biết chính xác rằng tết được bắt nguồn từ đâu và từ bao giờ .Từ khi Phật giáo xâm nhập vào Nhật Bản vào nửa đầu thế kỉ thứ 6 nghi lễ đón Tết đã được biết đến. Và nghi lễ này được coi là “cổ” ngang với nghi lễ Obon được tổ chức sau Tết khoảng nửa năm.
Không giống như các nước láng giềng khác ở châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam…, Nhật Bản tổ chức đón năm mới theo dương lịch, Người Nhật gọi dịp này là “Oshougatsu”, và đây là sự kiện để nghênh đón vị thần Toshigamisama..
Người Nhật bắt đầu chuyển sang ăn Tết dương lịch theo phương Tây từ năm Minh Trị thứ 6, tức năm 1873. Phong tục đón năm mới của người Nhật hiện vẫn giữ được những truyền thống Á Đông điển hình, bên cạnh đó cũng thu nhận những nét văn hóa mới từ phương Tây qua quá trình giao lưu, tương tác theo dòng chảy của thời gian.
Vào ngày tết người dân Nhật Bản có phong tục dâng bánh kagamimochi lên các đấng thần linh vào ngày đầu tiên của năm mới đến ngày 11 tháng Giêng.
Trong tín ngưỡng và văn hoá của người Nhật, kagamimochi được coi là vật liên kết giữa con người với các thần linh. Ngưởi ta tin rằng, chỉ cần mọi người cùng nhau chia sẻ và ăn kagamimochi, các thần linh sẽ ban phước cho họ một năm mưa thuận gió hoà và ngập tràn may mắn. Do đó, Kagamimochi là những chiếc bánh dày rất quý, là vật dâng lên thần linh.
Kagamimochi có hình dáng của những chiếc bánh dày xếp chồng lên nhau. Hình dạng tròn của chiếc bánh giống với hình dạng của chiếc gương đồng thời xưa, nên mới có tên là kagamimochi. Mà người Nhật xưa thì cho rằng: Gương là nơi trú ngụ của các vị thần.
Ngoài ra, hình dạng tròn của bánh kagamimochi tượng trưng cho cuộc sống gia đình sung túc, viên mãn. Và hình ảnh xếp chồng lên nhau thể hiện niềm vui, may mắn “chồng chất” –“ niềm vui nối tiếp niềm vui”.
Trong ngày lễ đón năm mới của người Nhật Bản, bạn sẽ thấy có rất nhiều bánh kagamimochi. Người dân trang trí kagamimochi thật đẹp thể hiện lòng biết ơn với các đấng thần linh vì đã ban cho họ 1 năm bình an. Đây là nét đẹp phong tục đã ăn sâu trong tiềm thức người dân Nhật Bản. Và ngày 11/1 được coi là ngày “kagamihaki”- ngày khai bánh, ăn bánh kagamimochi. Trong ngày khai bánh, người ta chia nhỏ kagamimochi, và ăn cùng món soup ấm hoặc các món ninh, kho.
Thói quen này xuất phát từ giới võ gia tại Nhật, nhưng nhanh chóng lan rộng ra giới thương nhân – những người mong muốn việc kinh doanh gặp nhiều may mắn, và sau đó phổ biến ra khắp các tầng lớp người Nhật. Mọi người trong gia đình Nhật đều thích ăn Kagamimochi, không chỉ để cầu chúc cho một năm sức khoẻ và tràn đầy may mắn mà những người ăn bánh còn được thần linh ban cho sức khoẻ.
5 món ngon không thể bỏ qua khi đến Nhật Bản
Các món ăn theo mùa, từ điều kiện thời tiết khắc nghiệt ở Hokkaido phương Bắc cho đến vùng khí hậu nhiệt đới Okinawa ở phương Nam đem lại cho Nhật Bản nhiều món ngon phong phú mà du khách không nên bỏ lỡ cơ hội nếm thử.
Nabe
Nabe là món ăn được người Nhật Bản yêu thích và ăn nhiều vào mùa đông, được chế biến từ hải sản, thịt bò, thịt gà và rau củ. Đây là món ăn nấu trong nồi canh hầm để ngay trên bàn, giống như lẩu ở Việt Nam. Thành phần được sắp xếp trên đĩa phẳng để cho mỗi người tự ăn món mình thích. Loại Nabe thường gặp là mizutaki, yudofu, udonsaki, kanisuki, dotenabe, shabushabu và sukiyaki.
Nabe phổ biến nhất tại Nhật là Yosenabe, Yose có nghĩa là “đặt cùng nhau”, như vậy cụm từ Yosenabe mang ý nghĩa rằng tất cả mọi thứ như thịt, cá, trứng, đậu hũ, rau được nấu chung trong một nồi. Yosenabe thường được ăn thêm với Miso hoặc nước tương. Các loại nabe thường gặp là mizutaki, yudofu, udonsuki, sukiyaki với thực phẩm chủ yếu là thịt bò.
Nếu muốn có một nồi lẩu mang đậm phong cách Nhật, du khách nên đến Hokkaido, nơi thường xuyên lạnh giá, rất phù hợp để thưởng thức hương vị nóng sốt của món Nabe.
Mỳ Ramen
Ai cũng biết rằng Ramen là một biến tấu của món mỳ Trung Quốc, ăn với súp shoyu, nhưng có lẽ ít ai biết đến một biến tấu khác nữa, không kém phần nổi tiếng của món Ramen, đó là mỳ Ramen ăn với súp miso. Món mỳ vàng óng ăn kèm với thịt lợn, mỡ, trứng và miso này đã làm nên tên tuổi của ẩm thực thành phố Sapporo.
Không chỉ Sapporo, thành phố Yokohama dành cho nó cả một bảo tàng. Còn có cả những lộ trình nên theo để tìm được các quán mỳ ngon.
Đối với người Nhật, mỳ ramen gắn liền với lịch sử của đất nước họ. Nó là món ăn của người nghèo và của các thời buổi khan hiếm. Nó cũng đã nuôi sống nhiều thế hệ sinh viên túng tiền. Ngay cả hiện nay, nếu hỏi một bé con là nó muốn ăn gì thì câu trả lời sẽ là mỳ ramen.
Theo người dân địa phương, để thưởng thức mỳ ramen, phải thích cái không khí và sự chung đụng của các quán nhỏ, phải thích tiếng húp, nuốt ồn ào của những người ăn, điều mà người châu Âu vốn cho là thô tục: nhưng ở Nhật mọi tầng lớp xã hội đều ăn mỳ như thế cả. Thỉnh thoảng mới nghe vài câu nói ngắn, vì mọi người đến đó không phải để trò chuyện.
Khuôn mặt của người ăn thường biến mất sau tô mỳ, được nâng lên đến tận miệng để không một giọt nước hay một sợi mỳ nào bị rơi xuống đất. Nó chỉ hiện ra trở lại sau khi tô mỳsạch bóng được trả lại cho chủ quán.
Yudofu
Yudofu hay “đậu phụ hầm” là món ăn rất dễ làm và dễ tìm nhưng vô cùng ngon miệng tại Kyoto, cố đô của đất nước Nhật Bản.
Những quán ăn nhỏ bán Takoyaki xuất hiện rải rác trên khắp các đường phố Osaka, thường phục vụ chủ yếu cho khách du lịch, giới học sinh- sinh viên hay các cặp tình nhân.
Cách những người bán hàng ở Osaka làm Takoyaki cũng chẳng khác gì một nghệ sĩ đang thăng hoa với tác phẩm nghệ thuật của mình. Họ rót sốt, cho nhân vào một nửa chiếc bánh, đậy nửa còn lại lên phía trên rồi dùng đũa lật úp chiếc bánh lại với một tốc độ nhanh đến kinh ngạc.
Bên cạnh những que Takoyaki gồm nhiều viên bạch tuộc nướng nho nhỏ phủ đầy tương ớt và sốt Mayonnaise, đến với Osaka, du khách còn có thể mua móc khoá, móc điện thoại, búp bê hay thậm chí là cả thiết bị thẻ nhớ có hình Takoyaki tại những cửa hàng lưu niệm.
Okonomiyaki
Okonomiyaki là tên của món bánh được ghép bởi hai chữ “Okonomi” (tùy ý) và “yaki” (nướng). Okonomiyaki ám chỉ đây là món bánh nướng làm từ bột mỳ có phần nhân sang tạo, tùy biến.
Nhân của Okonomiyaki có thể là bắp cải, trứng, thịt lợn hoặc các loại hải sản và các thành phần khác. Tất cả trộn vào bột sau đó nướng trên một tấm sắt, khá giống với món pizza của phương Tây.
Món ăn này có xuất xứ từ Osaka nhưng “phiên bản” ở Hiroshima lại nổi tiếng nhất. Khác với chiếc Okonomiyaki của Osaka, bánh Okonomiyaki ở Hiroshima khá cầu kỳ và công phu. Đầu tiên là lớp bột bánh bằng bột mỳ hòa nước hoặc cốt rong biển để tăng vị đậm đà. Tiếp đến là lớp bắp cải cắt nhỏ và các nguyên liệu nhân bánh như thịt lợn nướng lát mỏng, hành lá, bạch tuộc, tôm, mực, gừng ngâm dấm đỏ và mỳ...
Cuối cùng là lớp bột bánh nước vàng rưới nước sốt. Nước sốt ngon phải có độ quánh, dẻo và vị ngọt đặc trưng. Đây là yếu tố rất quan trọng để quyết định độ ngon của bánh.

03/01/2015
16/12/2014
16/12/2014
16/12/2014