THƯ VIỆN SÁCH HAY

THƯ VIỆN SÁCH HAY

Share

Thư viện sách miễn phí

24/04/2026

Một quyển sách mà bất cứ phụ huynh nào thời nay cũng cần phải đọc.

Mình đã qua cái thời hay ngỡ ngàng vì số liệu rồi - đã là thống kê thì lúc nào cũng sẽ có chỗ để tranh luận. Nhưng có những chuyện, nhìn quanh một vòng là thấy, không cần gì tới biểu đồ hay những con số nhằm gây ấn tượng. Như những buổi sáng cuối tuần cả nhà đi ăn ngoài, mình hay có cảm giác con mình là em bé duy nhất trong tiệm không vừa ăn vừa nhìn chăm chăm vào điện thoại. Cảm giác đó quay lại rất rõ khi mình đọc The Anxious Generation - Thế hệ lo âu.

Xuyên suốt quyển sách, tác giả dùng đủ loại nghiên cứu và số liệu để bảo vệ một luận điểm không dễ nghe: mối quan hệ nhân quả (chứ không chỉ là tương quan) giữa tuổi thơ gắn liền với điện thoại và sức khỏe tinh thần đi xuống của trẻ em giai đoạn 2010–2015, thứ ông gọi là “Cuộc tái thiết vĩ đại” của tuổi thơ. Ông phản bác những giả thuyết đổ nguyên nhân gây ra sự đi xuống này cho chính trị, biến đổi khí hậu, môi trường…bởi vì thế giới vốn luôn biến động và “có vẻ như đang sụp đổ” ở mỗi thế hệ. Theo ông, nếu các sự kiện trên thế giới thực sự góp phần vào tình trạng khủng hoảng tinh thần hiện nay, thì không phải vì thế giới bỗng dưng tệ hơn, mà vì toàn bộ những sự kiện ấy đột ngột được bơm thẳng vào não thanh thiếu niên thông qua chiếc điện thoại - dưới hình thức những cảm xúc hoảng loạn, bi quan, lây lan trên mạng xã hội.

Đoạn mình thấy “nhột” nhất là khi ông phân tích vai trò của vui chơi tự do. Tiến hoá sinh học đã cố tình “kéo dài” tuổi thơ để con người học hỏi qua việc chạy nhảy, va chạm, kết nối ngoài đời. Vậy mà chủ nghĩa an toàn và sự bảo bọc quá mức (đọc đến đây mình thấy… đúng là mình luôn trong trạng thái lo lắng và sẵn sàng bao bọc con quá đà) đã làm teo lại thời gian chơi không có người lớn của trẻ - và smartphone, mạng xã hội lại càng tiếp tay cho xu hướng này.

Ở một tầng sâu hơn, sách nói về cách mà thế giới ảo bẻ cong quá trình “học hỏi xã hội” của trẻ. Khi dành ít thời gian ở thế giới thật, mối liên hệ với gia đình, bạn bè ngoài đời sẽ mỏng đi; còn trên mạng, trẻ lại bị kéo bởi hai kiểu thiên kiến: thiên kiến uy tín (bắt chước người nổi tiếng) và thiên kiến tuân thủ (chạy theo đám đông để khỏi lạc loài). Với các nền tảng mà “uy tín” không còn đồng nghĩa với đạo đức, tri thức mà đôi khi chỉ theo xu hướng cực đoan và ồn ào, trẻ rất dễ đi theo những hình mẫu không tốt. Và với con trẻ, cảm giác “không bị khác biệt với đám đông” có khi mạnh hơn mọi lời dạy của người lớn.

Mình thích cách tác giả kết nối mạng xã hội với cảm giác vô tổ chức trong đời sống - một điều Durkheim đã cảnh báo từ lâu khi nói về nguyên nhân xã hội của tự tử. Mạng xã hội kéo người ta ra khỏi các cộng đồng thực với nguyên tắc đạo đức nền tảng, thay vào đó là vô số cộng đồng hời hợt, thay đổi liên tục. Khi trật tự xã hội ấy tan rã, ta không thấy tự do hơn, mà chỉ thấy lạc lõng. Có một câu trong sách ám mình khá lâu: nếu tất cả những gì còn lại chỉ là “kết hợp giả tạo của những hình ảnh ảo tưởng, một ảo ảnh biến mất ngay khi phản chiếu”, thì làm sao chúng ta còn tìm được mục tiêu cho hành động của mình?

Ở phần giải pháp, tác giả tập trung vào hai hướng: (1) nới lỏng kiểm soát theo kiểu bao bọc, trả lại cho trẻ nhiều không gian, thời gian để vui chơi, giao lưu, học tập trong thế giới thực; và (2) trì hoãn tối đa thời điểm và mức độ tiếp xúc của trẻ với thiết bị thông minh. Là một bà mẹ chưa bao giờ ủng hộ chuyện dùng thiết bị điện tử để “trông con”, những gợi ý này với mình không quá mới. Thách thức thật sự không nằm trong kỷ luật của nhà mình, mà ở môi trường xung quanh con - con càng lớn thì sức cám dỗ từ bạn bè, từ “chuyện ai cũng làm” càng khó cưỡng).

Có một điểm mình không hoàn toàn đồng ý với sách: các biện pháp đưa ra nghiêng rất nhiều về “phần cứng” như luật, chính sách, quy định cho trường học, công ty công nghệ, trong khi lại ít nói đến “phần mềm” - mối quan hệ giữa cha mẹ và con. Nếu chỉ cấm đoán, siết chặt mà không xây một mối quan hệ đủ an toàn để con dám nói thật, dám nhờ giúp, thì tới lúc con bước ra khỏi vùng kiểm soát, mọi thứ có khi càng đáng sợ hơn. Với mình, những kế hoạch “trì hoãn điện thoại” chỉ là bề mặt - thứ quan trọng hơn là thông qua những tương tác mỗi ngày, mình có đang xây cho con một thế giới quan đủ vững và một chỗ dựa đủ ấm để khi con nhìn thấy “thế giới đang sụp đổ” trên màn hình, thì vẫn còn chỗ quay về.

Mình không chờ cuốn sách này mang đến một sự thật “gây sốc - mọi thứ nhìn xung quanh đã quá rõ. Nhưng mình trân trọng nó vì cảm giác được nhắc nhở, được tiếp thêm động lực để không buông xuôi, để tiếp tục kiên trì với lựa chọn đôi khi rất cô đơn (như việc không đưa điện thoại cho con trong quán ăn). Sức khỏe tinh thần của cả một thế hệ sau này - rốt cuộc bắt đầu từ những điều rất nhỏ, ngay trong căn nhà của mình, trong từng bữa ăn, từng buổi chơi, từng lần mình chọn ngồi xuống trò chuyện thay vì đưa con một cái màn hình.

23/04/2026

Cờ vua không chỉ làm bạn thông minh - nó còn có thể làm bạn mất trí.

Người ta hay nói cờ vua là một công cụ giúp trẻ thông minh hơn. Mình vừa đọc một cuốn sách về lịch sử 1.500 năm của trò chơi này - và một trong những phần ám ảnh nhất không phải là những nước đi thiên tài, mà là danh sách dài những đại kiện tướng đã không còn ổn về tâm lý.

Không phải một hai người. Là một xu hướng đủ rõ để David Shenk dành hẳn một phần sách viết về nó: ở mức độ nhẹ, đó có thể là áp lực thường trực, bản tính dễ cáu giận, một kiểu ganh đua thiếu lành mạnh; ở mức độ nặng hơn, đó có thể là những biểu hiện hoang tưởng, thậm chí là những đổ vỡ tâm trí nghiêm trọng hơn, như mất khả năng tư duy mạch lạc. Ông mô tả một giải đấu cờ vua chuyên nghiệp là nơi "kỳ thủ nào cũng chăm chăm nghĩ rằng người khác đang âm mưu lật đổ, hạ bệ mình" - nói cách khác, một đấu trường luyện tập tính hoang tưởng một cách công khai và thường xuyên.

Vậy cờ vua tốt hay xấu? Cả hai - nhưng không theo cách đơn giản như người ta hay nghĩ. Shenk không kết luận "hãy chơi cờ để thông minh hơn". Ông nói: trong thời đại mà mối nguy lớn nhất là ngừng tư duy, chúng ta cần những công cụ buộc não phải làm việc - kể cả khi chúng không thoải mái, kể cả khi chúng có rủi ro. Cờ vua, với ông, là một công cụ như thế.

Bạn nghĩ sao - thứ gì đó thật sự rèn trí tuệ thì thường không dễ chịu? Hay đó chỉ là cách mình hay hợp lý hoá sự khó chịu?

23/04/2026

Mình không nghĩ quyển sách này sẽ đủ để khiến cho ai đó yêu viết lách hạ quyết tâm trở thành nhà văn, nhưng để sống tốt hơn, với một thái độ khiêm nhường hơn, một lối sống bền vững hơn, kỷ luật vững chãi hơn, tinh thần sáng suốt điềm tĩnh hơn, để dù ở lĩnh vực nào cũng sẽ “thành công”, thì có lẽ nó hoàn toàn làm được.

Tuy toàn bộ quyển sách Murakami chỉ nói về những chuyện xoay quanh việc viết tiểu thuyết, nhưng những chia sẻ hay lời khuyên của ông không hề bị giới hạn ý nghĩa trong riêng nghề nghiệp này. Như việc phải vận động để giữ gìn sức khoẻ thể chất nhằm đạt được mức độ minh mẫn trong tinh thần, sức sáng tạo, khả năng tập trung - thì không chỉ đúng với nhà văn, mà nghề nào cũng vậy.

Hay như việc ông bảo đừng tìm kiếm đâu xa, mà hãy chú tâm quan sát thế giới xung quanh vì nó đầy ắp những chất liệu tuyệt vời cho việc viết lách, hay hãy quan sát những con người tương tác với mình, theo hướng tích cực và cả tiêu cực, và đặc biệt là tiêu cực thì càng nên quan sát, với một thái độ tò mò rộng mở, hấp thụ tất cả như những thông tin quý giá (nhưng đừng để nó ảnh hưởng đến tinh thần mình) - kể cả khi không viết tiểu thuyết, thì lời khuyên này rõ là cũng đúng cho những nhiệm vụ cơ bản nhất, như là sống.

Làm thế nào mà một người chưa từng viết tiểu thuyết lại có thể bắt đầu viết tiểu thuyết, và rồi cứ thế từng chút một ghi tên mình vào danh sách những cái tên được nhắc đến nhiều nhất trên toàn thế giới?

Murakami kể lại câu chuyện trở thành nhà văn chuyên nghiệp, luôn miệng nhắc đi nhắc lại rằng những thứ mình làm, và cả toàn bộ con người mình, đều hoàn toàn “bình thường” như bao người khác - nhưng nếu để ý từng chi tiết nhỏ, sẽ thấy hành trình này không hề “bình thường” đến vậy.

Mình đặc biệt thích chương kể về quá trình “đi ra thế giới”, từ lý do khiến ông đặt mục tiêu dấn thân vào thị trường rộng lớn hơn bên ngoài Nhật Bản, đến việc ông tiếp cận và lựa chọn người đại diện sách, dịch giả, nhà xuất bản, từng chút, từng chút đều thể hiện sự tinh tế, cái nhìn bao quát dài hạn, sự kỳ công, chu đáo, toàn vẹn, lòng chân thành, cách xử sự khéo léo, tính nhất quán “ngoan cố”, quyết tâm không thể lay chuyển (mà ông gọi là “đốt thuyền để không còn đường lui")…

Với tất cả những phẩm chất ấy, thực lòng mà nói, cho dù không trở thành nhà văn, thì mình nghĩ ông cũng chắc chắn sẽ thành công trong bất cứ lĩnh vực nào ông chọn chuyên tâm vào.

22/04/2026

Đêm trước mình vừa đọc xong Khi mọi điều không như ý. Không hề có phép màu gì, công việc và những đầu việc nhà không tên vẫn ở đó - giỏ đồ chưa giặt, cơm chưa nấu, em bé cần được chăm. Nhưng có gì đó khác trong cách mình nhìn vào chúng. Ít “phản kháng” hơn. Ít cảm giác "phải xong cái này rồi mới được nghỉ" hơn.

Haemin Sunim không viết sách để dạy bạn cách sống tốt hơn hay hiệu quả hơn. Ông chỉ nhắc rất nhẹ nhàng, một cách không gượng ép, rằng giữa bộn bề này, thỉnh thoảng hãy dừng lại và nhận ra những thứ đang tồn tại quanh mình. Tiếng em bé vui đùa. Nắng buổi sáng qua ô cửa. Mùi rau tươi trên tay. Những thứ mình hay lướt qua không để ý vì đang mải bận lo đến cái kế tiếp.

Cuốn sách không phải "sâu sắc" theo nghĩa phải có thêm nhiều lý thuyết mới, lập luận xa xôi. Nhưng đôi lúc cái ta cần không phải là sự sâu sắc hay thứ gì đó mới mẻ - chỉ cần đúng lúc, vừa đủ, là đủ.

Bạn đã từng đọc thứ gì đó không quá "cao siêu" nhưng lại ảnh hưởng đến cách bạn sống qua ngày hôm đó không?

19/04/2026

Mình thường không có thói quen đặc biệt ưu ái một nhân vật nào khi đọc. Nhưng đọc Chùm nho phẫn nộ, mình biết mình đang đọc theo một cách khác - vì lần này mình đang là mẹ.

Ma Joad không phải nhân vật hoành tráng. Bà không có lời thoại đao to búa lớn, không có khoảnh khắc anh hùng đẹp đẽ. Bà chỉ làm những gì một người mẹ làm: nấu ăn, giữ cho mọi người còn ngồi lại với nhau, không để ai gục xuống trước. Giữa những chuyến di cư thất thểu, những bữa ăn đạm bạc không đủ no, những đêm không biết ngày mai về đâu, bà vẫn là người duy nhất trong gia đình không cho phép mình sụp đổ dù chỉ một giây, vì bà biết rằng nếu bà gục, cả gia đình sẽ vỡ theo.

Khi Tom hỏi mẹ có sợ tương lai không, Ma Joad trả lời: “Không. Đừng nghĩ quanh quẩn mãi, con không thể làm thế được. Thế là quá nhiều…là muốn sống nhiều cuộc đời. Trước mắt chúng ta có ngàn vạn cuộc đời mà chúng ta có thể sống, nhưng khi lâm cuộc thì chỉ còn có một mà thôi […] Điều đáng kể nhất, chính là, chả mấy chốc nữa họ đến đòi mẹ cho ăn xương lợn. Mẹ chỉ có thể làm được như thế. Nếu làm hơn thế thì mọi sự sẽ bị đảo điên…”. Mình không cho rằng đó là hạn hẹp hay nông cạn. Chính những thứ nhỏ nhặt như thế mới làm nên cuộc sống, chứ không phải cái gì đao to búa lớn ngoài kia.

Mình tự nhiên nghĩ đến những người phụ nữ xung quanh - những người cũng đang lặng lẽ giữ lửa theo cách của riêng họ, mà chưa ai nghĩ đến việc gọi tên điều đó.

Bạn đã từng đọc một nhân vật và cảm thấy như đang đọc về một người thật trong cuộc sống của mình không?

18/04/2026

"I wish upon you pain and suffering." - Đây là câu nói nổi tiếng từ Jensen Huang, CEO của Nvidia và một trong những người giàu nhất thế giới, từng nói với các sinh viên mới ra trường. Không phải lời mỉa mai. Là lời khuyên thật lòng.

Mình đọc Phong cách Nvidia và hiểu tại sao câu đó không phải cường điệu. Jensen không tin vào tầm nhìn thiên bẩm - ông tin vào thứ nhãn quan được xây từ vô số lần vấp ngã, học lại, và nhất quyết không tìm lối tắt. Bản thân Nvidia đã gần phá sản nhiều lần trước khi trở thành công ty nghìn tỷ đô. Cái "may mắn" của họ không phải là may mắn.

Nhưng điều khiến mình suy nghĩ nhiều hơn không phải là triết lý đó, mà là sự thật này: Jensen không chỉ giỏi quản lý người - ông hiểu sản phẩm ở mức kỹ thuật đủ sâu để tự mình quyết định tái cấu trúc toàn bộ chu kỳ sản xuất chip, chỉ vì nhận ra rằng lịch ra mắt của Nvidia đang lệch nhịp với lịch của khách hàng. Một CEO thuần quản lý sẽ không nhìn ra điều đó, hoặc nếu có, hẳn sẽ không dám làm.

Trong ngành công nghệ, những CEO thật sự vĩ đại không phải người xây hệ thống, tuyển dụng hay văn hoá doanh nghiệp giỏi nhất - họ là người hiểu sản phẩm của mình sâu nhất. Và đó là thứ không thể học nhanh, không thể thuê ngoài, và không có bằng MBA nào dạy được.

17/04/2026

Năm 1997, máy tính lần đầu đánh bại nhà vô địch cờ vua thế giới. Năm 2017, AI của Google học cờ vua trong 4 tiếng rồi không thua thêm một ván nào nữa. Nhiều người kết luận: cờ vua đã "chết" với tư cách là thử thách trí tuệ.

Nhưng David Shenk, trong cuốn sách về lịch sử 1.500 năm của trò chơi này, lại đặt ra một câu hỏi khác: không phải "máy tính có thể chơi cờ vua không?", mà là "tại sao con người vẫn cần chơi cờ vua?"

Ông viết: "Có một phản ứng thông dụng trước thứ thời đại sở hữu sự thật phân mảnh, trơn truột, và hậu hiện đại của chúng ta là việc từ chối tư duy và lệ thuộc vào một tập hợp niềm tin kiên cố, một ý thức hệ cứng nhắc […] Mối nguy lớn nhất đối với chúng ta và thế hệ tương lai là việc ngừng tư duy, và chúng ta có trách nhiệm phải làm mọi cách để khuyến khích các bộ não năng động và hoài nghi. Để làm vậy, chúng ta sẽ cần những công cụ tư duy mạnh mẽ như cờ vua nhằm giúp trí óc mình được mở rộng, dần dần thoải mái với cái trừu tượng, và học cách lèo lái các hệ thống phức tạp."

Trong thời đại mà mọi câu trả lời đều có thể tra Google, mọi phân tích đều có thể nhờ AI, cờ vua không còn là thứ để thắng máy tính. Nó trở thành thứ để nhắc não mình rằng mình vẫn có khả năng tư duy, vẫn có thể chịu đựng sự phức tạp mà không vội vã tìm lối tắt.

Cờ vua xuất phát từ một trò chơi chiến trận ở vùng Ấn Độ - Ba Tư khoảng thế kỷ 6, “với các quân cờ lấy tên từ các hình tượng châu Âu Trung cổ và luật chơi cơ bản không thay đổi trong suốt hơn 500 năm”, và máy tính đã giỏi hơn con người rất lâu rồi. Nhưng người ta vẫn chơi, và có lẽ chưa bao giờ có lý do chơi chính đáng hơn lúc này.

Bạn có cho rằng khi AI ngày càng "nghĩ thay" cho con người, chúng ta cần những thứ như cờ vua nhiều hơn không, hay ngược lại?

16/04/2026

Có một thời đi đâu cũng nghe câu “hãy là chính mình”. Thế nhưng, khi mình còn chưa biết mình-là-ai, hay mình-có-thể-là-ai giữa những lựa chọn, thậm chí là chưa biết có những lựa chọn nào cho mình, thì thật khó để có thể là “chính mình”. Hành trình “đi tìm mình” đó là mở đầu cho một quá trình khai minh của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức, mỗi xứ sở.

Cái hay của Đúng Việc nằm ở hai khía cạnh chính.

Một là, tính trường tồn. Quyển sách được viết từ năm 2015, tính đến nay đã hơn 10 năm, nhưng ngoại trừ việc những ví dụ được đưa ra từ tận những năm 2011, thì nội dung như mới được viết gần đây. Nó khiến cho mình có cảm giác rằng tất cả những thay đổi, những mới mẻ, những cải cách, nếu có, cũng chỉ là trên bề mặt. Những vấn đề mang tính cốt lõi thì vẫn sẽ tồn tại ở đó, bền bỉ, và chừng nào chưa được giải quyết tận gốc, thì những vấn nạn vẫn sẽ lặp đi lặp lại, và ngày càng khắc nghiệt hơn với những lớp bồi thêm của xã hội hiện đại. Xét theo góc nhìn này, thì 10 năm vẫn là quá ít.

Hai là, tính gợi mở. Tác giả đưa ra những khái niệm, những quan điểm không phải để “cầm tay chỉ việc”, mà là để khơi nguồn cho những suy nghĩ sâu hơn. Chẳng hạn như, khi nói đến chủ thể “nhà giáo”, tác giả chia “thầy” thành những nhóm chính (nhân tiện thì xuyên suốt quyển sách này bác Trung khá là thích “chia nhóm” như này nha): nhóm 1 là “thầy bình thường” - người chỉ truyền đạt là những gì mình có, hay nói cách khác, cho học trò con cá; nhóm 2 là “thầy giỏi” - người cho học trò cái cần câu, nghĩa là phương tiện để thu thập kiến thức; nhóm 3 là “thầy vĩ đại” - người đem đến nguồn động lực đi câu, có động lực rồi thì cho dù không có cái cần câu, học trò cũng sẽ tự đi tìm cành cây, dây cước để chế tạo cần câu; và nhóm thứ tư, “thầy khai minh” - giống “thầy vĩ đại”, nhưng phạm vi ảnh hưởng không chỉ trong lớp học mà còn rộng ra cả xã hội (ở đây tạm không tính đến nhóm “thợ dạy”). Thế nhưng, làm thế nào để trở thành thầy vĩ đại, hay thầy khai minh, thì lại là câu chuyện khác mà người đọc bắt buộc phải tự mình tìm tòi, suy nghĩ.

Nếu chia sách thành các nhóm như: đọc để giải trí, đọc để giải quyết vấn đề, đọc để suy ngẫm, thì quyển này mình xếp vào nhóm thứ 3. Nếu đọc vào 10 năm trước, chắc chắn mình sẽ để nó trôi tuột như nước đổ lá khoai mà không đọng lại gì (có khi còn review “toàn lý thuyết suông” cũng nên). Khi đã có một vài trải nghiệm làm người, làm dân, làm nghề, những gì được viết ở đây trở nên vừa quen thuộc, vừa khai sáng. Và quan trọng hơn, nó khiến mình muốn nhìn lại mình, nhìn lại hành trình “tìm mình, là mình, giữ mình” của bản thân.

Chúc cho hành trình tìm mình của mỗi chúng ta sớm được khởi sự

14/04/2026

Điều ám ảnh nhất ở Người ăn chay không phải là quyết định từ bỏ việc ăn thịt, mà là khoảng đen trống hoác mang tên những giấc mơ của Young Hye. Cả cuốn sách gần như không cho cô một giọng nói trực tiếp nào. Người chồng chỉ biết than phiền, người cha nổi giận, người mẹ lo sợ “mất mặt”, người anh rể nhìn cô như một chất liệu nghệ thuật, người chị thì gồng mình cam chịu. Tất cả đều nói về cô, quyết định thay cô – nhưng gần như không ai thật sự hỏi: rốt cuộc, cô đã mơ thấy những gì?

Mình nghĩ mãi về cái im lặng ấy. Về những giấc mơ đầy máu, về những thân xác động vật bị giết hại, về nỗi kinh tởm tràn ra khỏi vô thức. Ở một mặt, đó là dấu hiệu của những bất ổn tâm lý, của những chấn thương cũ từ người cha khắc nghiệt và người mẹ nhu nhược. Ở một mặt khác, lại như một nỗ lực tuyệt vọng để tìm một trạng thái tồn tại khác – được hoà vào cỏ cây, rời xa bạo lực, rời khỏi cái bản ngã con người mà cô không còn chịu đựng nổi nữa.

Đọc đến cuối, mình chỉ còn lại một câu hỏi: liệu chúng ta đã quen với việc phán xét “cái khác thường” như một lẽ đương nhiên, đến mức quên mất rằng cần phải lắng nghe nó? Nếu thử cố gắng để hiểu đến tận cùng những lý lẽ bị xem là “điên rồ”, rất có thể chính ta cũng sẽ phải hoài nghi những thứ mình từng tin là hiển nhiên.

Han Kang xoá mờ ranh giới giữa tỉnh và mê, giữa bình thường và điên loạn. Câu hỏi cuối cùng là rốt cuộc thì cái gì mới thực sự là điều “bình thường” ở đây? Người dám bước ra khỏi khuôn phép, hay đám đông cố níu mọi thứ đứng yên dẫu lố bịch?

Khép lại quyển sách, có lẽ những gì bạn cảm nhận về “gia đình”, “đạo lý”, “chuẩn mực” sẽ dịch chuyển đi một chút. Và mình tin, cách bạn phản ứng với cuốn sách này, và cái kết của nó, cũng sẽ phản chiếu thế giới bên trong của chính bạn bây giờ.

12/04/2026

Ngày tháng năm là câu chuyện chỉ xoay quanh một ông lão hơn bảy mươi tuổi, một con chó mù, và một mầm bắp bé xíu giữa vùng hạn hán nứt nẻ.

Giữa một làng quê khô cháy vì hạn hán, chỉ còn một ông lão và con chó mù ở lại, tất cả ý nghĩa của “sống tiếp” được ông dồn vào việc giữ cho cây bắp đó không chết: giành giật từng giọt nước với bầy chuột, đối đầu với lũ sói rừng, đánh đổi chút sức lực còn lại và cuối cùng là chính mạng sống của mình.

Nghe thì có vẻ rất cực đoan, nhưng khi đọc, mình lại thấy nó giống một phiên bản phóng đại của những thứ con người chúng ta vẫn đang âm thầm bám víu: một mối quan hệ, một công việc, một ước mơ cũ kỹ. Có những thứ ta biết là mong manh, biết là tỷ lệ sống sót rất thấp, nhưng vẫn cố bảo vệ, chỉ vì nếu buông tay, ta không biết mình còn lại gì.

Có một câu hỏi cứ lởn vởn trong đầu mình trong suốt thời gian đọc Ngày tháng năm, là “liệu điều này có khả dĩ hay không, nếu nó xảy ra trong thực tế?” - có những chi tiết, nếu đặt ra ngoài bối cảnh quyển sách, có lẽ sẽ là thứ được gắn mác “phi thực tế”. Nhưng càng lật trang, cái “phi thực tế” đó lại càng hợp lý, theo một cách rất… thần bí.

Diêm Liên Khoa gọi lối viết của mình là “chủ nghĩa thần thực”: cố ý bỏ qua logic bề mặt, để đào sâu vào một thứ hiện thực “không tồn tại”, một sự thật bị che lấp đâu đó dưới lớp đời thường. Không phải mô tả hiện thực, mà là sáng tạo ra hiện thực.

Quả là một lựa chọn tốt để dấn thân vào thế giới của cụ Diêm.

12/04/2026

Dạo này mình ít đọc trinh thám, nhưng cái mác “tam đại kỳ thư Nhật Bản” đã khiến mình dừng lại.

“Họ nói rằng cuối cùng khi hiểu được cơ cấu của toàn bộ tác phẩm, cũng là lúc họ nhận ra đầu óc của mình dường như sắp phát điên.” Mình đã tin, đã kỳ vọng mong chờ cái khoảnh khắc não mình “gãy khớp”. Nhưng rốt cuộc, điều còn lại khi gấp sách lại không phải là điên loạn theo kiểu quá xoắn não, mà là một kiểu bất ngờ khác: có quá nhiều thứ về tâm trí con người mà mình tưởng là tri thức “hiện đại”, đã từng được một người ở đầu thế kỷ XX chơi đùa, tháo lắp từ rất lâu.

Dogra Magra được viết từ những năm 1920–1930, khi thần kinh học và tâm lý học hiện đại vừa chập chững bước vào Nhật Bản. Thế mà có những đoạn, nếu bảo mới viết gần đây, chắc mình cũng gật đầu tin.

Quyển sách mở đầu bằng những chi tiết quen thuộc đối với thể loại trinh thám điển hình: án mạng, bệnh viện tâm thần, nhân vật mất trí nhớ, bác sĩ thần kinh học đầy ẩn ý. Nhưng thay vì dẫn người đọc đi tìm “hung thủ là ai”, nó lôi chúng ta vào đứng giữa ngã ba của cả một thế kỷ ý niệm về con người: Freud, Jung, thuyết đa nhân cách, lý thuyết tiến hoá, luân hồi Phật giáo, thôi miên ám thị… tất cả được bày ra, giải phẫu.

Ngay chính giữa mê cung đó, nhân vật chính - một “bệnh nhân tâm thần” - không thể nhớ nổi mình là ai. Mỗi người bước đến trước mặt đều kể một câu chuyện khác: họ là hung thủ, là nạn nhân, hay là con rối trong một thí nghiệm? Mình đọc trong tâm thế cứ tạm tin từng “phiên bản sự thật” một, rồi ngay lập tức bị chính tác phẩm kéo tay lại, bắt phải nghi ngờ tiếp.

Điều tiếc nuối duy nhất, là cái kết được hé lộ từng chút một, hơi chậm rãi, hơi an toàn, thay vì một cú twist cái đùng như mình kỳ vọng. Nếu được thế thì hẳn là trải nghiệm đọc Dogra Magra sẽ hoàn thiện hơn nhiều.

Nhưng nếu bạn cần một cái gì đó hơi xoắn não, biết đâu Dogra Magra sẽ là một lựa chọn tốt.

07/04/2026

Từ ngữ vốn chỉ mang nhiệm vụ truyền tải ý nghĩa, nên về lý thuyết là trung tính. Nhưng điều thú vị là theo thời gian và trong từng nền văn hoá, chúng bắt đầu mang theo cả những sắc thái cảm xúc riêng. “Ham muốn” là một ví dụ điển hình, mỗi lần nhắc đến, có vẻ ta thường vô thức liên tưởng đến điều gì đó xấu xa, như nguồn cơn của tội lỗi hơn là một phần tự nhiên của đời sống.

Trong quyển sách nhỏ này, tác giả dẫn người đọc đi qua nhiều trường phái triết học để “giải oan” cho ham muốn. Có những truyền thống - như Platon - nhìn ham muốn như hệ quả của thiếu thốn: ta khao khát vì ta chưa có, từ đó ham muốn gắn chặt với cảm giác thiếu, với lỗ hổng trong đời sống. Ở phía ngược lại là những triết gia coi ham muốn như động lực sống căn bản: nơi Spinoza, ham muốn chính là “bản thể” của con người, là nỗ lực bền bỉ để tiếp tục tồn tại; Aristotle xem các dạng ham muốn như một phần tự nhiên của linh hồn, nếu được lý trí dẫn dắt thì góp phần vào một đời sống tròn đầy; còn Nietzsche lại nhìn chúng như những nhánh của ý chí vươn lên, của sức sống muốn khẳng định và vượt qua chính mình.

Từ những cách định nghĩa khác nhau đó, mỗi trường phái sinh ra những kiểu ứng xử khác nhau với ham muốn: có nơi (như các truyền thống tôn giáo, trong đó có Phật giáo) nhấn mạnh việc nhận diện và buông bỏ những ham muốn tạo nên khổ đau; có nơi lại cho rằng không thể và cũng không nên triệt tiêu hoàn toàn, mà quan trọng là giữ được ham muốn như một động lực sống lành mạnh, và nếu nó đi chệch hướng thì cần học cách chuyển nó sang những đối tượng bền vững, có ý nghĩa hơn là những thứ thoả mãn nhất thời.

Đây rõ ràng là một cuốn sách hướng tới độc giả phổ thông - những người tò mò về triết học nhưng không muốn bị choáng ngợp bởi các hệ thống khô khan, đồ sộ (thật ra cũng khó mà mong chờ một cuốn chuyên sâu triết học lại nhỏ xíu thế này). Ngôn ngữ rất dễ hiểu, ví dụ gần gũi, đủ để gợi ra những câu hỏi và mở một cánh cửa nhỏ bước vào thế giới tư tưởng, thay vì dập tắt hứng thú ngay từ chương đầu. Nó không biến người đọc thành “nhà triết học” sau một buổi chiều, nhưng đủ để ta bắt đầu nhìn lại chính những ham muốn của mình, xem chúng đến từ thiếu thốn nào, đang kéo mình đi đâu, và liệu có thể mời gọi chúng bước sang một hướng khác dịu dàng hơn hay không.

Want your business to be the top-listed Government Service in Ho Chi Minh City?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Telephone

Website

Address


135A Pasteur, Phường 6, Quận 3
Ho Chi Minh City
700000