Thư Viện Huệ Quang

Thư Viện Huệ Quang

Share

Thư viện Phật giáo thư viện Phật giáo

Photos from Thư Viện Huệ Quang's post 28/05/2026

"NHƯ LAI ỨNG THẾ" LIỆU RẰNG "THIÊN HẠ THÁI BÌNH"?

Trong dòng chảy tư tưởng của Phật giáo, sự kiện Đức Phật xuất hiện ở đời chưa bao giờ được xem là một sự xuất hiện mang tính thần quyền hay cứu thế theo nghĩa thông thường. Đức Phật không đến để thay đổi thế giới bằng quyền năng siêu nhiên, cũng không tự nhận mình là đấng cứu rỗi có thể gánh thay khổ đau cho nhân loại.

Theo tinh thần của 𝐤𝐢𝐧𝐡 𝐏𝐡𝐚́𝐩 𝐇𝐨𝐚, chư Phật xuất hiện nơi đời chỉ vì “𝑚𝑜̣̂𝑡 đ𝑎̣𝑖 𝑠𝑢̛̣ 𝑛ℎ𝑎̂𝑛 𝑑𝑢𝑦𝑒̂𝑛”, đó là: “𝑘ℎ𝑎𝑖 𝑡ℎ𝑖̣ 𝑐ℎ𝑢́𝑛𝑔 𝑠𝑎𝑛ℎ 𝑛𝑔𝑜̣̂ 𝑛ℎ𝑎̣̂𝑝 𝑃ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑡𝑟𝑖 𝑘𝑖𝑒̂́𝑛.” Nghĩa là mở bày cho chúng sanh nhận ra và thể nhập cái thấy biết chân thật, giác ngộ và thanh tịnh vốn có nơi chính mình. Sự xuất hiện của Đức Phật, vì vậy, trước hết là sự xuất hiện của ánh sáng trí tuệ giữa một thế giới đầy vô minh; là con đường giúp con người hiểu được nguyên nhân của khổ đau và khả năng chuyển hóa khổ đau ngay trong tự thân mình.

Chính từ niềm kính ngưỡng đối với sự xuất hiện ấy mà trong văn hóa tín ngưỡng Phật giáo Á Đông dần hình thành câu nói: “𝑁ℎư 𝐿𝑎𝑖 𝑢̛́𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑒̂́, 𝑡ℎ𝑖𝑒̂𝑛 ℎ𝑎̣ 𝑡ℎ𝑎́𝑖 𝑏𝑖̀𝑛ℎ.” [如來應世,天下太平].
Câu nói ấy chất chứa một niềm hy vọng đẹp của con người giữa cõi đời nhiều biến động: rằng khi một bậc giác ngộ xuất hiện, nhân gian rồi sẽ trở nên an hòa hơn, con người sống thiện lương hơn, xã hội bớt đi phần nào loạn động và khổ đau.

Tuy nhiên, nếu nhìn sâu vào tinh thần kinh điển Phật giáo, đặc biệt là trong các kinh điển Phật giáo sơ kỳ (Nikāya hay A-hàm) và tư tưởng Pháp Hoa, ta sẽ thấy rằng Đức Phật ít khi nói đến việc “cải tạo thế giới” theo nghĩa xã hội hay thiết lập một thiên hạ thái bình từ bên ngoài. Điều Ngài nhấn mạnh nhiều hơn là sự chuyển hóa nội tâm của mỗi cá nhân.

Bởi theo đạo Phật, gốc rễ của bất an không nằm hoàn toàn ở hoàn cảnh bên ngoài, mà nằm ở vô minh, tham ái và chấp thủ trong tâm mỗi chúng sanh. Khi tâm còn đầy sân hận, ích kỷ và mê lầm, thì dù sống trong một thời đại phồn thịnh, con người vẫn tiếp tục tạo ra khổ đau cho nhau. Ngược lại, khi con người biết quay về soi sáng chính mình, nuôi lớn chánh niệm và trí tuệ, thì ngay giữa một thế giới còn nhiều biến động, sự bình an vẫn có thể hiện hữu.

1. 𝑻𝒉𝒂́𝒊 𝒃𝒊̀𝒏𝒉 𝒏𝒐̣̂𝒊 𝒕𝒂̂𝒎 𝒗𝒂̀ 𝒕𝒉𝒂́𝒊 𝒃𝒊̀𝒏𝒉 𝒙𝒂̃ 𝒉𝒐̣̂𝒊

Trong quan niệm thông thường, “thái bình” là trạng thái ngoại cảnh: không còn chiến tranh, xã hội ổn định, đời sống an cư, và con người sống trong hòa thuận. Đó là một lý tưởng đẹp. Nhưng dưới cái nhìn tỉnh thức của đạo Phật, mọi hiện tượng thế gian đều vận hành theo quy luật vô thường. Một xã hội dù hưng thịnh đến đâu cũng không tránh khỏi biến động; một triều đại dù huy hoàng đến đâu rồi cũng đến lúc suy tàn. Trong kinh Trường Bộ (𝑘𝑖𝑛ℎ 𝐶ℎ𝑢𝑦𝑒̂̉𝑛 𝐿𝑢𝑎̂𝑛 𝑇ℎ𝑎́𝑛ℎ 𝑉ư𝑜̛𝑛𝑔 𝑆ư 𝑇𝑢̛̉ 𝐻𝑜̂́𝑛𝑔 - 𝐶𝑎𝑘𝑘𝑎𝑣𝑎𝑡𝑡𝑖 𝑆𝑖̃ℎ𝑎𝑛𝑎̃𝑑𝑎 𝑆𝑢𝑡𝑡𝑎), Đức Phật đã chỉ ra rằng ngay cả một xã hội thịnh vượng được cai trị bởi một bậc Thánh vương lý tưởng thì cái gọi là "thái bình" ấy vẫn sẽ suy tàn một khi đạo đức của số đông chúng sinh sa sút.

Bởi vậy, điều Đức Phật nhắm đến không phải là xây dựng một trật tự xã hội ngoại cảnh vĩnh cửu, mà là giúp con người đạt đến sự an ổn nơi nội tâm. Ngay bài pháp đầu tiên sau khi thành đạo - bài kinh Chuyển Pháp Luân, Đức Phật đã không nói đến việc kiến tạo một xã hội không tưởng, mà bắt đầu bằng một sự thật trần trụi về khổ đau (𝑑𝑢𝑘𝑘ℎ𝑎): “𝑆𝑎𝑛ℎ 𝑙𝑎̀ 𝑘ℎ𝑜̂̉, 𝑔𝑖𝑎̀ 𝑙𝑎̀ 𝑘ℎ𝑜̂̉, 𝑏ệ𝑛ℎ 𝑙𝑎̀ 𝑘ℎ𝑜̂̉, 𝑐ℎ𝑒̂́𝑡 𝑙𝑎̀ 𝑘ℎ𝑜̂̉… 𝑜𝑎́𝑛 𝑔𝑎̣̆𝑝 𝑛ℎ𝑎𝑢 𝑙𝑎̀ 𝑘ℎ𝑜̂̉, 𝑎́𝑖 𝑏𝑖ệ𝑡 𝑙𝑦 𝑙𝑎̀ 𝑘ℎ𝑜̂̉, 𝑐𝑎̂̀𝑢 𝑘ℎ𝑜̂𝑛𝑔 đư𝑜̛̣𝑐 𝑙𝑎̀ 𝑘ℎ𝑜̂̉. 𝑇𝑜́𝑚 𝑙𝑎̣𝑖, 𝑛𝑎̆𝑚 𝑡ℎ𝑢̉ 𝑢𝑎̂̉𝑛 𝑙𝑎̀ 𝑘ℎ𝑜̂̉.”

Đó là một cái nhìn rất trực diện. Đức Phật không phủ lên cuộc đời một màu sắc lạc quan huyễn hoặc. Ngài không hứa hẹn rằng chiến tranh sẽ vĩnh viễn biến mất, con người sẽ không còn chia lìa hay mất mát. Trái lại, Ngài chỉ rõ rằng mọi pháp hữu vi đều vô thường, mọi sự bám chấp đều dẫn đến khổ đau.

Vì thế, “thái bình” trong tinh thần Phật giáo trước hết không phải là một trạng thái xã hội, mà là một trạng thái tâm thức. Một người sống giữa biến động, đối diện với những "mũi tên độc" của cuộc đời nhưng tâm không bị hận thù, tham vọng thiêu đốt thì người ấy vẫn có thể an ổn. Ngược lại, một xã hội vật chất đầy đủ vẫn có thể chìm trong cô độc, lo âu và khủng hoảng tinh thần. Thế giới hiện đại hôm nay là một ví dụ rõ ràng: khoa học, tiện nghi phát triển hơn bao giờ hết, nhưng con người vẫn bất an và mỏi mệt.

Điều đó cho thấy hòa bình bên ngoài không đồng nghĩa với hòa bình bên trong. Và cũng vì vậy, con đường Phật giáo đi từ trong ra ngoài: chuyển hóa cá nhân trước, rồi mới ảnh hưởng đến cộng đồng, chứ không bắt đầu bằng việc cải tạo thế giới từ bên ngoài.

2. 𝑮𝒊𝒂̉𝒊 𝒕𝒉𝒐𝒂́𝒕 𝒗𝒂̀ 𝒄𝒖̛́𝒖 𝒕𝒉𝒆̂́: 𝑪𝒉𝒂̂𝒏 𝒅𝒖𝒏𝒈 "𝑵𝒈ư𝒐̛̀𝒊 𝒄𝒉𝒊̉ đư𝒐̛̀𝒏𝒈" 𝒕𝒓𝒐𝒏𝒈 𝒌𝒊𝒏𝒉 đ𝒊𝒆̂̉𝒏

Một trong những khác biệt lớn giữa đạo Phật và nhiều truyền thống tôn giáo khác nằm ở chỗ: Đức Phật không xuất hiện như một “đấng cứu thế” cứu chuộc nhân loại bằng quyền năng siêu việt. Ngài khẳng định mình chỉ là người chỉ đường (𝑀𝑎𝑔𝑔𝑎𝑘𝑘ℎā𝑦ī), trả lại toàn bộ chủ quyền và trách nhiệm vận mệnh cho mỗi cá nhân.

Tinh thần tự lực cốt tủy này được đúc kết một cách rõ ràng trong câu số 276 của kinh Pháp Cú (Phẩm Đạo):

“𝑁𝑔ư𝑜̛̀𝑖 ℎ𝑎̃𝑦 𝑛ℎ𝑖ệ𝑡 𝑡𝑖̀𝑛ℎ 𝑙𝑎̀𝑚,
𝑁ℎư 𝐿𝑎𝑖 𝑐ℎ𝑖̉ 𝑡ℎ𝑢𝑦𝑒̂́𝑡 𝑑𝑎̣𝑦.
𝑁𝑔ư𝑜̛̀𝑖 ℎ𝑎̀𝑛ℎ 𝑡𝑟𝑖̀ 𝑡ℎ𝑖𝑒̂̀𝑛 đ𝑖̣𝑛ℎ
𝑇ℎ𝑜𝑎́𝑡 𝑡𝑟𝑜́𝑖 𝑏𝑢𝑜̣̂𝑐 𝐴́𝑐 𝑚𝑎.”

Không chỉ là lời đúc kết bằng kệ, lập luận này được Đức Phật phân tích một cách hệ thống, khúc chiết trong bài kinh Ganaka Moggallāna (số 107 thuộc kinh Trung Bộ). Khi vị đạo sĩ toán số thắc mắc rằng tại sao con đường dẫn đến Niết-bàn rõ ràng như vậy, bậc Đạo sư vĩ đại như vậy, mà có đệ tử chứng đắc, có đệ tử lại không, Đức Phật đã đưa ra ẩn dụ về một người chỉ đường đến thành Vương Xá. Người chỉ đường có thể chỉ dẫn cực kỳ chi tiết, nhưng nếu người đi đường cố tình rẽ sai hướng và đi lạc, thì người chỉ đường cũng không thể can thiệp.

Đức Phật đúc kết đầy thẳng thắn:
“𝐶𝑢̃𝑛𝑔 𝑣𝑎̣̂𝑦, 𝑡ℎư𝑎 𝐵𝑎̀-𝑙𝑎-𝑚𝑜̂𝑛, 𝑐𝑜́ 𝑚𝑎̣̆𝑡 𝑁𝑖𝑒̂́𝑡-𝑏𝑎̀𝑛, 𝑐𝑜́ 𝑚𝑎̣̆𝑡 𝑐𝑜𝑛 đư𝑜̛̀𝑛𝑔 đ𝑖 đ𝑒̂́𝑛 𝑁𝑖𝑒̂́𝑡-𝑏𝑎̀𝑛, 𝑣𝑎̀ 𝑐𝑜́ 𝑚𝑎̣̆𝑡 𝑇𝑎 𝑙𝑎̀ 𝑛𝑔ư𝑜̛̀𝑖 𝑐ℎ𝑖̉ đư𝑜̛̀𝑛𝑔... 𝑇𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑣𝑖ệ𝑐 𝑛𝑎̀𝑦, 𝑡ℎư𝑎 𝐵𝑎̀-𝑙𝑎-𝑚𝑜̂𝑛, 𝑇𝑎 𝑙𝑎̀𝑚 𝑔𝑖̀ đư𝑜̛̣𝑐? 𝑁ℎư 𝐿𝑎𝑖 𝑐ℎ𝑖̉ 𝑙𝑎̀ 𝑛𝑔ư𝑜̛̀𝑖 𝑐ℎ𝑖̉ đư𝑜̛̀𝑛𝑔.”

Nếu xem Đức Phật là một đấng toàn năng đến để giải quyết mọi bất hạnh của nhân loại, con người sẽ rất dễ rơi vào tâm lý cầu xin, ỷ lại và lệ thuộc. Nhưng qua những vết tích kinh điển trên, chúng ta thấy rằng, đạo Phật đặt trọng tâm nơi sự tự giác: tự mình thấy khổ, tự hiểu nguyên nhân của khổ (là tham ái, vô minh), và tự mình bước đi trên con đường chuyển hóa.

Nói cách khác: “Cứu thế” là nỗ lực thay đổi thế giới, còn “giải thoát” là chuyển hóa nhận thức về thế giới. Một bên hướng ra ngoài, một bên quay vào bên trong. Và chỉ khi nào con người thực sự chuyển hóa nội tâm, thì thế giới bên ngoài mới có cơ hội trở nên hiền hòa hơn.

3. 𝑮𝒊𝒖̛̃𝒂 𝒕𝒊𝒏𝒉 𝒕𝒉𝒂̂̀𝒏 đ𝒂̣𝒐 𝑷𝒉𝒂̣̂𝒕 𝒗𝒂̀ 𝒕𝒂̂𝒎 𝒕𝒉𝒖̛́𝒄 𝒕𝒊́𝒏 𝒏𝒈ư𝒐̛̃𝒏𝒈 𝑨́ Đ𝒐̂𝒏𝒈

Câu nói “𝑁ℎư 𝐿𝑎𝑖 𝑢̛́𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑒̂́, 𝑡ℎ𝑖𝑒̂𝑛 ℎ𝑎̣ 𝑡ℎ𝑎́𝑖 𝑏𝑖̀𝑛ℎ” phản ánh khá rõ sự giao thoa, hội nhập giữa đạo Phật và văn hóa bản địa Á Đông. Trong truyền thống Trung Hoa, chịu ảnh hưởng mạnh mang tính nhập thế của Nho giáo, lý tưởng lớn nhất của một thời đại luôn là: “quốc thái dân an, thiên hạ thái bình.” Khi Phật giáo truyền vào Á Đông, hình ảnh Đức Phật dần được cảm nhận như một vị thần linh ban phước giáng họa, một chỗ dựa để cầu mưa thuận gió hòa, tiêu tai giải nạn. Đây là nhu cầu tâm lý và an ủi tâm linh tự nhiên của con người trong những giai đoạn lịch sử đầy biến động.

Tuy nhiên, nếu nhìn thẳng vào sự thật lịch sử được ghi lại trong kinh điển, ngay cả khi Đức Phật - bậc Lưỡng Túc Tôn với thần thông và phước đức vô lượng, khi còn tại thế, Ngài cũng không thể dùng thần lực để đảo ngược định luật nhân quả của thế gian.

Minh chứng đau lòng nhất chính là nạn thảm sát dòng họ Thích Ca (Sakya) bởi sự oán hận của vua Tỳ Lưu Ly (Vidudabha) xứ Kosala. Ba lần liền, Đức Phật đã ra đi bộ, ngồi tĩnh lặng dưới một gốc cây khô héo ngay trên lộ trình hành quân của vua Tỳ Lưu Ly để dùng đức độ ngăn cản đoàn quân viễn chinh. Ba lần nhìn thấy bậc Đạo sư, vua Tỳ Lưu Ly vì kính trọng nên đã rút quân về. Nhưng đến lần thứ tư, khi oán thù và nghiệp quả tiền khiên của dòng tộc đã chín muồi, Đức Phật quán chiếu biết rằng định luật nhân quả không thể lay chuyển, Ngài không thể can thiệp bằng thần thông cứu bộ tộc của mình khỏi họa diệt vong, và Ngài đã im lặng chấp nhận quy luật ấy.

Sự kiện lịch sử này là một hồi chuông cảnh tỉnh lớn. Nếu ngay cả bộ tộc với huyết thống của Đức Phật mà Ngài còn không thể "ban phát" sự an lành hay cứu họ khỏi lưỡi gươm chiến tranh, thì làm sao sự xuất hiện của Ngài có thể biến cõi Ta-bà vô thường này thành một thiên đường, tịnh độ vĩnh viễn thái bình?

Sau này, lịch sử cũng chứng minh, các quốc gia xem Phật giáo là Quốc giáo vẫn không tránh khỏi quy luật hưng suy. Tự viện có lúc hưng thịnh rồi hoang phế, tăng đoàn có thời kỳ thanh tịnh rồi suy thoái. Điều đó không phải vì giáo pháp thất bại, mà bởi mọi hiện tượng trong thế gian đều vận hành dưới quy luật vô thường và nhân quả. Đức Phật không đến để hủy bỏ quy luật ấy. Ngài đến để giúp con người thấy rõ và sống an nhiên vượt lên trên quy luật ấy.

𝑲𝒆̂́𝒕 𝒍𝒖𝒂̣̂𝒏: 𝑵𝒉ư 𝑳𝒂𝒊 𝒖̛́𝒏𝒈 𝒕𝒉𝒆̂́ 𝒍𝒂̀ đ𝒆̂̉ 𝒌𝒉𝒂𝒊 𝒎𝒐̛̉ 𝒄𝒐𝒏 đư𝒐̛̀𝒏𝒈 𝒈𝒊𝒂́𝒄 𝒏𝒈𝒐̣̂

Có lẽ giá trị lớn nhất của sự kiện “Như Lai ứng thế” không nằm ở việc biến đổi thế gian này thành một nơi tuyệt đối hòa bình, mà là giúp con người nhìn ra bản chất của đời sống để bớt mê lầm, bớt chấp thủ và sống tỉnh thức giữa vô thường.

Dĩ nhiên, việc học hỏi và thực hành lời Phật dạy từ nơi mỗi cá nhân cho đến cộng đồng xã hội hoàn toàn có thể góp phần xây dựng một đời sống an ổn hơn, một xã hội nhân văn hơn, một đất nước thịnh trị hơn. Theo nghĩa ấy, giáo pháp của Đức Phật thật sự có khả năng mang lại điều mà người xưa gọi là “quốc thái dân an”, “thiên hạ thái bình”. Nhưng đó nào phải là mục đích tối hậu của sự kiện Đức Phật ra đời khi Ngài đã từ bỏ ngôi cao quyền lực, cũng nào phải ý nghĩa rốt ráo của đại nguyện bi mẫn mà Ngài đã vun bồi qua vô lượng kiếp hành Bồ-tát đạo.

Bởi nếu chỉ hiểu “Như Lai ứng thế, thiên hạ thái bình” theo nghĩa thông thường rằng Đức Phật xuất hiện để đem lại một đời sống yên ổn và thuận hoà cho thế gian thì vô tình chúng ta đã làm giản lược, thậm chí dung tục hóa ý nghĩa thiêng liêng của sự kiện Như Lai xuất thế.

Sự xuất hiện của Đức Phật không chỉ để con người sống dễ chịu hơn trong cuộc đời này, mà sâu xa hơn, là để chỉ ra con đường vượt thoát vô minh và khổ đau. Và có lẽ, “thiên hạ thái bình” trong tinh thần Phật giáo, trước hết phải bắt đầu từ sự tỉnh thức nơi tâm mỗi con người.

--- 🍀🍀🍀 ---

Mùa Phật đản Phật lịch 2570
Phùng Anh Quốc

Photos from Thư Viện Huệ Quang's post 26/05/2026

THƯ CUỐI CÙNG
CỦA NHẤT CHI MAI GỞI LẠI SONG THÂN

Trong những ngày giữa tháng 4 này, Phật giáo đồ cả nước rộn ràng hướng về ngày đản sanh của đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni, cũng là lúc Ban biên tập Thiện Hoa toàn tập chúng tôi biên tập tới phần Tranh đấu chấn hưng Phật giáo.

Đọc đến lá thư cuối cùng của nữ sinh viên Phật tử Nhất Chi Mai viết cho song thân, tự nhiên không cầm được nước mắt. Cũng vào độ này, 60 năm về trước, Nhất Chi Mai đã tình nguyện đốt tấm thân hoa niên của mình trong lửa dữ để cầu nguyện cho hoà bình dân tộc, cho chấm dứt hận thù nơi tâm hồn nhơn loại.

Đức hy sanh trong sáng, và minh triết của Nhất Chi Mai khiến người đọc trào dâng một niềm tôn kính và biết ơn vô bờ. Chúng ta được học Phật, được sống trong ánh sáng Tam bảo ngày nay là nhờ có những sự hy sanh như vậy của tiền hiền, tiền tổ, của chư thánh tự thiêu vì đạo pháp và dân tộc.

Ngày đức Phật đản sanh!
Cũng là ngày một xác phàm tan rã để đản sanh một NIỀM TIN VÔ NGÃ VỊ THA! tại một nơi đang ngập tràn khói lửa chiến tranh và thù hận.
Một niềm tin thật bi tráng, thay vì đạt được bằng sự tu tập. Đất nước này, Phật giáo nơi đây những năm 1960-1970, phải trả giá bằng nhiều sự hy sanh thân mạng của kiếp người khó được.

Chúng ta cần ghi nhớ để biết ơn. sự biết ơn bất tận không biên giới. Biết ơn để thấy sự duyên hệ nhỏ bé của bản ngã trong vũ trụ mênh mông.

Nhất Chi Mai (1934-1967), tự thiêu lúc 7 giờ 30 mùng 8 tháng 4 AL- Phật đản – PL.2511.

Xin đăng lại nguyên văn lá thư cuối cùng của Nhất Chi Mai gởi lại song thân từ sách 50 năm chấn hưng Phật giáo Việt Nam của cố hòa thượng Thích Thiện Hoa (quyển sách này được đưa vào tập số 10/12 trong Toàn tập, với phụ đề Chấn hưng Phật giáo.

TVHQ

THƯ CUỐI CÙNG
CỦA NHẤT CHI MAI GỞI LẠI SONG THÂN

Sài Gòn, ngày 15 tháng 5 năm 1967
Kính lạy ba má,
Ai cũng một lần chết. Xin ba má làm đại thí chủ cho con chết cho tình thương rộng lớn.

Con không điên rồ dại dột dù không chắc mình làm được việc lớn. Một mạng con không hy vọng gì cứu được hàng triệu người? Bên Mỹ đã sáu người tự thiêu mà vẫn không lay chuyển được tấm lòng sắt đá của một số người chủ chiến, những người làm giàu trên xương máu người khác hay muốn cho người khác hy sinh để giữ gìn sản nghiệp, sự yên ổn và sự ích kỷ của mình!

Cái thang cao quá, mỗi người có lòng tự nguyện leo một bực.

Con đường dài mà g*i chông quá, mỗi người nhơn bản phải đi một đoạn đường g*i chông, tiếp nối bằng cách nầy hay cách khác, mới mong hết được đường dài...

Có thể người ta sẽ bôi nhọ cái chết của con hay họ sẽ tảng lờ đi để cho cái chết của con trở thành vô ích và âm thầm!

Mà có sao! Ba má đừng cần việc đó. Đức Phật sáng suốt hơn họ. Ba má hiểu con hơn họ. Đời nầy có những kết quả mà nhục nhãn thế nhơn không thấy được.

Con biết kết quả đẹp cho Việt Nam hòa bình không chắc con làm được, nhưng hậu quả làm buồn ba má thì chắc chắn là có rồi.
Con lạy ba má!

Xin sáng suốt và bình tĩnh, năm người con, ba má cho đi một người cho nhơn loại. Nếu như viên đạn vô tình thời đao loạn làm mất [của] ba má một đứa con, có phải là oan uổng công lao của ba
má không?

Con tu đấy, con hành đạo bồ-tát mà con hằng thệ nguyện đấy.

Con tin ba má đủ bi, trí, dũng mà hiểu con và mừng cho con.

Có phải sống hoài hủ hỷ với ba má, lo cho riêng mình ba má, làm chút ít việc từ thiện là đủ rồi đâu? Con làm như vầy công đức về ba má không ít và không chừng sau cái chết của con, ba má tiến tu không ít.

“Sắc tức thị không, không tức thị sắc”. Con mất đi mà cũng như còn vậy nghen ba má.

Dằn bớt đau khổ, vui lòng hiến con cho đại nguyện, là ba má không buộc tội con với Phật trời, không làm đau lòng con nơi chín suối.

Phần ba má, xin tiếp tục giùm con những công việc ở thế gian là: Tu - Hành.

Tức là ba má, phải tu tâm dưỡng tánh nhiều nhiều hơn nữa và làm phước thiện suốt những ngày còn lại của ba má. Có như vậy mới thật sự thương con và cho con thêm công đức.

Đất ở P.N.T.A., nữ trang của con, ba má bán hết đi và xin cho con một phần. Phần ấy chi cho những người sau đây...

Số tiền còn lại của ba má và của con, ba má để dành một phần dưỡng già và một phần làm phước thiện (chùa, các cô nhi viện, nhà thương, lao tù, nhà nghèo...).

Đừng tiếc, đời nầy có cái gì mình giữ mãi được đâu, cả con cái mình, cả thân mạng mình không còn giữ được huống gì bạc tiền và sản nghiệp. Đừng xài vô lối thì thôi.

Thi hài con, ba má mua một cái hòm thường thường đem lên Từ Nghiêm để đó tụng kinh rồi đưa ngay lên An Dưỡng địa hỏa táng, coi con có “xá-lợi” không. Dám lắm à nghen! - Chơi chứ không sao đâu ba má. Con không mù quáng và cuồng tín đâu.

Con sáng suốt lắm.
Xin nghe lời con và tha tội cho con!
Hôn ba má thật nhiều!
Con của ba má kính lạy

Photos from Thư Viện Huệ Quang's post 21/05/2026

HÒA THƯỢNG GIỚI ĐỨC (BÚT HIỆU MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH) TẶNG SÁCH THƯ VIỆN

Trong những ngày sưu khảo ở Huế, chúng tôi có cơ duyên được đến Huyền Không Sơn Thượng. Nhờ sự nối kết của chị Phước Duyên, một thành viên trong đoàn, chúng tôi được Sư Giới Đức - bút hiệu Minh Đức Triều Tâm Ảnh, dành thời gian tiếp đón, cho chữ và tặng sách Thư viện Huệ Quang.

Sư đã tặng cho Thư viện khoảng 20 đầu sách hiện có, mỗi đầu sách 2 bản. Đây đều là những tác phẩm do Sư trước tác, biên soạn trong suốt mấy mươi năm. Trong đó có những tác phẩm được tái bản trong một hình thức chỉn chu, trang nhã, đồng bộ hơn các ấn bản trước.

Theo chúng tôi được biết, Sư có khoảng 60 đầu sách đã được xuất bản. Sách của Sư có một vị trí đặc biệt trong lòng bạn đọc và trong dòng chảy sách Phật giáo Việt Nam.

Một số tác phẩm Sư tặng Thư viện:

1. 𝑀𝑜̣̂𝑡 𝑐𝑢𝑜̣̂𝑐 đ𝑜̛̀𝑖 𝑚𝑜̣̂𝑡 𝑣𝑎̂̀𝑛𝑔 𝑛ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑛𝑔𝑢𝑦𝑒̣̂𝑡, bìa cứng, 3 tập
2. 𝐿𝑖̣𝑐ℎ 𝑠𝑢̛̉ 𝑃ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑔𝑖𝑎́𝑜 𝐴̂́𝑛 Đ𝑜̣̂, bìa cứng, 2 tập
3. 𝑇ℎ𝑎̆́𝑝 𝑙𝑢̛̉𝑎 𝑡𝑎̂𝑚 𝑙𝑖𝑛ℎ, bìa cứng, 1 tập
4. 𝑀𝑜̣̂𝑡 𝑐𝑢𝑜̣̂𝑐 đ𝑜̛̀𝑖 𝑚𝑜̣̂𝑡 𝑛𝑔𝑜̂𝑖 𝑠𝑎𝑜, bìa cứng, 1 tập
5. 𝑀𝑖 𝑇𝑖𝑒̂𝑛 𝑣𝑎̂́𝑛 đ𝑎́𝑝, bìa cứng, 1 tập
6. 𝐿𝑖̣𝑐ℎ 𝑠𝑢̛̉ 𝑃ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑔𝑖𝑎́𝑜 𝑇𝑖́𝑐ℎ 𝐿𝑎𝑛, bìa cứng, 1 tập
7. 𝐶𝑜𝑛 𝑡𝑟𝑎𝑖 đ𝑢̛́𝑐 𝑃ℎ𝑎̣̂𝑡, bìa cứng, 2 tập
8. 𝐶𝑜𝑛 𝑔𝑎́𝑖 đ𝑢̛́𝑐 𝑃ℎ𝑎̣̂𝑡, bìa cứng, 1 tập
9. 𝑉𝑖̣ 𝑡ℎ𝑎́𝑛ℎ 𝑡𝑎̆𝑛𝑔 𝑐𝑎̣̂𝑛 đ𝑎̣𝑖, bìa cứng, 1 tập
10. 𝑃ℎ𝑎̣̂𝑡 ℎ𝑜̣𝑐 𝑐𝑎̆𝑛 𝑏𝑎̉𝑛, bìa cứng, 1 tạp
11. 𝐷𝑎̂́𝑢 𝑐ℎ𝑎̂𝑛 𝑡𝑟𝑒̂𝑛 𝑐𝑎́𝑡, bìa cứng, 1 tập
12. 38 𝑝ℎ𝑎́𝑝 ℎ𝑎̣𝑛ℎ 𝑝ℎ𝑢́𝑐, bìa cứng, 1 tập
13. 𝐾𝑖𝑛ℎ 𝑙𝑜̛̀𝑖 𝑣𝑎̀𝑛𝑔, bìa cứng, khổ nhỏ, 1 tập
14. 𝑁𝑔𝑢̛𝑜̛̀𝑖 𝑡𝑟𝑜̂̀𝑛𝑔 ℎ𝑜𝑎 𝑣𝑎̀ 𝑐ℎ𝑎̀𝑛𝑔 𝑡𝑢 𝑠𝑦̃, bìa cứng, 1 tập
15. 𝑆𝑎 𝑑𝑖 𝑡𝑟𝑢̛𝑜̛̉𝑛𝑔 𝑙𝑎̃𝑜, bìa cứng, 1 tập
16. 𝐺𝑖𝑢𝑛 𝑑𝑒̂̃, ℎ𝑢̛ 𝑣𝑜̂ 𝑣𝑎̀ ℎ𝑎̣𝑡 𝑙𝑢̛̉𝑎 𝑥𝑎𝑛ℎ, bìa cứng, 1 tập
17. 𝑆𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔 𝑘ℎ𝑜́𝑖 Đ𝑢̛𝑜̛̀𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑖, bìa cứng, 1 tập
18. 𝐾𝑒̣̂ 𝑡ℎ𝑖𝑒̂̀𝑛, 2 hộp

Ngoài tặng sách cho Thư viện, Sư còn viết tặng mỗi người trong đoàn một tấm thư pháp ứng theo Pháp danh của mỗi người, và tặng mỗi người 2 hộp Kệ thiền.

Thư viện vô cùng biết ơn Sư đã dành thời gian quý báu tiếp đoàn, cho chữ và tặng sách cho Thư viện.

Thư viện cũng có quyển sách nhỏ dâng lên cúng dường Sư. Đó là bộ kinh Di giáo gồm 2 phần, phần đầu chữ Việt bản dịch của Hòa thượng Trí Quang, phần sau là nguyên bản kinh Di giáo Hán văn, chữ viết tay hiện được lưu giữ tại tổ đình Báo Quốc, Huế. Bản sách được in trên chất liệu giấy dó, bìa sơn ta, đóng theo lối sách Hán Nôm xưa.

Thư viện Huệ Quang

Photos from Thư Viện Huệ Quang's post 19/05/2026

NGƯỜI KIÊN TRÌ ĐỌC SÁCH TRONG THỜI GIAN DÀI, TÂM TÍNH SẼ THAY ĐỔI Ở 3 PHƯƠNG DIỆN

Đọc sách là một trong số ít những chuyện trong cuộc sống mà chúng ta có thể tự mình kiểm soát và nắm bắt. Cuộc sống thăng trầm, trên thực tế, xét về nhiều mặt, nó đôi khi không được theo ý muốn của chúng ta, nhưng đọc sách thì lại khác, có thể do chính mình quyết định. Bạn có thể đọc nếu bạn muốn, chẳng ai quản bạn.

Tam Mao, một nhà văn, dịch giả người Đài Loan nói: đọc nhiều sách rồi, dung mạo tự nhiên sẽ thay đổi, đôi khi sẽ cảm thấy những cuốn sách mình đọc qua giống như mây khói thoảng qua, không nhớ nhiều về chúng, nhưng chúng thực ra vẫn tiềm tàng bên trong khí chất, trong cách nói chuyện và trong tâm hồn của bạn.

Vì vậy, khí chất của bạn tiềm ẩn những cuốn sách mà bạn từng đọc qua.

1. 𝑁𝑔𝑢̛𝑜̛̀𝑖 𝑘𝑖𝑒̂𝑛 𝑡𝑟𝑖̀ đ𝑜̣𝑐 𝑠𝑎́𝑐ℎ, 𝑡𝑖́𝑛ℎ 𝑐𝑎́𝑐ℎ 𝑠𝑒̃ 𝑡𝑟𝑜̛̉ 𝑛𝑒̂𝑛 𝑜̂𝑛 ℎ𝑜̀𝑎 ℎ𝑜̛𝑛

Nhà văn, phóng viên Chai Jing trong cuốn sách mang tên "Nhìn thấy" kể một câu chuyện như này: có một lần cô ấy đi phỏng vấn ông chủ của một doanh nghiệp lớn, câu hỏi mà cô đặt ra vô cùng sắc bén và nhạy cảm, cách đặt vấn đề của cô cũng có phần hấp tấp, quyết liệt, thậm chí hơi lỗ mãng.

Sau khi cuộc phỏng vấn kết thúc, vị doanh nhân đã nói với Chai Jing rằng: cô rất thông minh, có quan điểm của mình, nhưng lại không vững, có một cảm giác rất hấp tấp, kiểu "tuổi trẻ bồng bột", cô có thể cân bằng lại bản thân thông qua đọc sách.

Tôi tin rằng những lời khuyên mà vị doanh nhân đó dành cho Chai Jing là vô cùng chân thành, bởi lẽ ông ấy thấy được sự nhiệt huyết của một phóng viên đang đi tìm câu trả lời cho những thắc mắc của mình. Về phần Chai Jing, cô có thể đem câu chuyện này viết vào trong sách của mình, điều đó có nghĩa là cô ấy cũng đồng ý và tiếp nhận lời khuyên này.

Người bốc đồng, hấp tấp, vội vàng, nên đọc nhiều sách hơn, kiên trì đọc sách sẽ làm dịu bớt sự nóng nảy trong tính cách của mình. Có thể bạn sẽ không nhận ra được những thay đổi một cách nhanh chóng, nhưng lâu dần, một ngày nào đó, bạn sẽ phải cảm ơn thói quen đọc sách này của mình.

2. 𝑁𝑔𝑢̛𝑜̛̀𝑖 𝑘𝑖𝑒̂𝑛 𝑡𝑟𝑖̀ đ𝑜̣𝑐 𝑠𝑎́𝑐ℎ, 𝑛ℎ𝑖̀𝑛 𝑣𝑎̂́𝑛 đ𝑒̂̀ 𝑠𝑒̃ 𝑡𝑟𝑜̛̉ 𝑛𝑒̂𝑛 𝑘ℎ𝑎́𝑐ℎ 𝑞𝑢𝑎𝑛 𝑣𝑎̀ 𝑡ℎ𝑢̛̣𝑐 𝑡𝑒̂́ ℎ𝑜̛𝑛

Đọc câu chuyện của người khác, rồi ngẫm về cuộc đời mình, nhiều khi bạn sẽ nhận ra được sự phản chiếu trong đó. Hàng trăm năm trước, trạng thái tâm lý của nhân vật, suy nghĩ về cuộc sống của họ trong những hoàn cảnh nhất định, sự hoảng sợ và vật lộn đối mặt với cuộc sống, thực ra cũng không khác nhiều so với người hiện đại khi đối mặt với cuộc sống của chính họ ngày nay. Nói cách khác, bản chất con người không thay đổi nhiều.

Những người đọc sách lịch sử có thể cảm thấy sâu sắc hơn. Sự thăng trầm của thế giới, dòng chảy, thời gian, không gian khác nhau, nhưng luôn có chung một câu chuyện. Các thế hệ tương lai sẽ tiếp tục thực hiện các quy tắc và trò chơi tương tự lặp đi lặp lại.

Vì vậy, khi bạn đọc nhiều những thứ như vậy, bạn sẽ nhận ra rằng hiện thực cuộc sống có thể sẽ không lệch khỏi phương hướng mà nó nên đi. Nếu bạn tham khảo, bạn có lẽ sẽ ngộ ra được lộ trình hoặc quỹ đạo trong sự phát triển của một sự vật nào đó.

Người kiên trì đọc sách sẽ "ngắm" được rất nhiều thứ, vì vậy, khi bạn suy ngẫm về cuộc sống của mình, rồi xem xem câu chuyện của những người xung quanh, bạn sẽ trở nên khách quan và thực tế hơn. Bạn sẽ không còn quá cho mình là nhất hay quá tự ti về bản thân. Bạn sẽ dùng một ánh mắt sắc bén, một cái nhìn đa chiều hơn để quan sát cuộc sống, từ đó sống một cuộc sống phong phú và trọn vẹn hơn.

3. 𝑁𝑔𝑢̛𝑜̛̀𝑖 𝑘𝑖𝑒̂𝑛 𝑡𝑟𝑖̀ đ𝑜̣𝑐 𝑠𝑎́𝑐ℎ, 𝑡𝑎̂𝑚 𝑡ℎ𝑎́𝑖 𝑠𝑒̃ 𝑡𝑟𝑜̛̉ 𝑛𝑒̂𝑛 𝑛ℎ𝑎̃ 𝑛ℎ𝑎̣̆𝑛, 𝑝ℎ𝑜́𝑛𝑔 𝑘ℎ𝑜𝑎́𝑛𝑔 ℎ𝑜̛𝑛

Một nhà Nho nói: khí chất của con người, rất khó thay đổi, chỉ có đọc sách mới có thể thay đổi được nó.

Đọc sách có thể giúp ai đó thay đổi từ một người thích tranh luận, để tâm quá nhiều, thậm chí là bảo thủ thành một người rộng rãi linh hoạt, nhìn nhận vấn đề đa chiều hơn.

Đọc sách là quá trình học hỏi và tham khảo tư tưởng cũng như trải nghiệm của người khác, đó cũng được xem là kinh nghiệm sống. Khi bạn có nhiều thông tin trong đầu, bạn sẽ có nhiều tài liệu tham khảo hơn, và khi tình huống tương tự xảy ra, bạn sẽ có thể tìm ra được một gợi ý để giải quyết vấn đề.

Đọc sách thực chất là nói chuyện với những con người thông minh và cao thượng. Sách là nhịp cầu vượt qua giới hạn của thời gian và không gian, gắn kết những con người không liên quan, những con người khiêm tốn và những con người vĩ đại lại với nhau để họ cùng nhau giao lưu, tâm sự về cuộc sống. Càng đọc nhiều sách, chúng ta sẽ càng bớt bối rối về tinh thần, mở rộng tầm nhìn và mở rộng cả tâm hồn.

Tôi thường xuyên cho rằng đọc sách là một việc giống như kiểu "há miệng chờ sung" vậy, là một việc quá hời cho người đọc, bởi lẽ chúng ta có thể đọc được sự kết tinh của trí tuệ của người khác mà không cần bỏ ra thời gian suy nghĩ, viết lách, chỉnh sửa hay in ấn…

Khi cô đơn, đọc sách khiến tôi không còn cảm thấy cô độc.
Khi trống rỗng, đọc sách khiến tôi không còn cảm thấy muộn phiền.
Khi buồn bã, đọc sách khiến tôi giải tỏa những cảm xúc tiêu cực.
Khi bi quan, đọc sách khiến tôi phấn chấn lại tinh thần…

Mong rằng mỗi chúng ta hãy luôn thương yêu sách, đọc sách, hiểu sách và trở thành một nhà thông thái, biết sử dụng tri thức và đón nhận ánh sáng của tri thức.

Theo Hân Vũ - Báo Dân Sinh (nguồn: internet)
Ảnh: Độc giả đọc sách ở Thư viện Huệ Quang

------
Phòng đọc Thư viện Huệ Quang mở cửa tất cả các ngày trong tuần, từ 7:00-21:00, luôn sẵn sàng hỗ trợ nhu cầu tham khảo tư liệu của bạn đọc gần xa.
Bạn đọc có nhu cầu mượn và đọc sách vui lòng liên hệ:
Phòng đọc Thư viện Huệ Quang
116 Hòa Bình, P. Tân Phú, TP.HCM
SĐT/Zalo: 0376. 429. 465

Photos from Thư Viện Huệ Quang's post 16/05/2026

TẤM BẢNG CHỮ THẢO TẠI TỔ ĐÌNH QUỐC ÂN

Tại tổ đình Quốc Ân có treo một tấm bảng gỗ, kích thước 59cm x 121cm, có bài tán được khắc chữ thảo, ít người có thể đọc được toàn văn. Nhân chuyến sưu khảo tại Tổ đình Quốc Ân, hai nghệ nhân Nguyễn Phước Bảo Đàn và Lê Thọ Quốc (Trung tâm Liễu Quán) đã rập được văn bản khá hoàn hảo. Thầy Thích Hải Hạnh đang làm việc tại Trung tâm Biên phiên dịch Tư liệu Phật giáo Quốc tế đã giúp phiên âm, dịch chú tấm bảng. Chúng tôi xin cống hiến đến bạn đọc một tư liệu để thưởng lãm và nghiên cứu.

Tấm bảng có nội dung ca tụng công hạnh của ngài Như Đông - Đắc Quang. Căn cứ theo Tập san Liễu Quán số 8 và bản chép tay Lịch đại Tổ sư Tổ đình Quốc Ân được phát hiện trong chuyến sưu khảo, chúng ta biết ít thông tin về Tổ Đắc Quang. Ngài sinh năm 1888, tịch ngày mùng 2 tháng Giêng năm 1947. Ngài làm Tăng cang chùa Thiên Mụ và trụ trì Quốc Ân sau khi pháp huynh Như Thông - Đắc Ân (1873-1935) viên tịch. Năm 1941 ngài mở đàn giới tại Tổ đình Quốc Ân, có ngài Trí Độ thọ tỳ kheo (cũng là đệ tử ngài), ngài Trí Tịnh thọ sa di, những vị sau này có ảnh hưởng lớn đến chấn hưng Phật giáo. Đệ tử ngài còn có: Hồng Cảnh-Viên Dung-Huyền Nghĩa trụ trì chùa Khánh Vân, Hồng Nam-Hương Mãn-Huyền Không trụ trì chùa Quốc Ân, Hồng Nhân-Phất Huệ-Huyền Vân (chùa Thiền Lâm).

TVHQ

Nguyên tác chữ Hán:
悲夫!佛法
淹流 息波
龍象跡晦
蛇虬居多
宗風久替
叢林棲鴉
荆棘塞道(衜)
無人擔荷
天童末葉
重遇作家
漕溪洗鉢
東林掛裟
靈根慧業
清浄無瘕
僧中木鐸
泥裡蓮花
際此鬥争
弱法強魔
願將摩尼
普利塵沙。
此奉:國恩嗣祖充天姥僧綱夲師法座
佛曆二千五百二二年,冬至日
法嗣玄號並弟子等和南

Phiên âm:
Bi phù! Phật pháp
Yêm thoái tức ba
Long tượng tích hối

Xà cầu cư đa
Tông phong cửu thế
Tùng lâm thê nha
Kinh cức tắc đạo
Vô nhân đảm hà

Thiên Đồng mạt diệp
Trùng ngộ tác gia
Tào Khê tẩy bát
Đông Lâm quải sa

Linh căn tuệ nghiệp
Thanh tịnh vô hà
Tăng trung mộc đạc
Nê lý liên hoa

Tế thử đấu tranh
Nhược pháp cường ma
Nguyện tương Ma-ni
Phổ lợi trần sa

Thử phụng: Quốc Ân tự tổ, sung Thiên Mụ tăng cang, bổn sư pháp toà.
Phật lịch nhị thiên ngũ bách nhị niên, Đông chí nhật
Pháp tự Huyền Hiệu tịnh đệ tử đẳng hòa nam

Dịch nghĩa:
Thương thay Phật pháp
Sóng lặng chìm sa (1)
Long tượng vắng bóng (2)
Rắn rết đầy nhà. (3)

Tông phong suy hoại
Quạ đậu Thiền gia (4)
G*i góc ngăn lối (5)
Chẳng người chống đà. (6)

Đời cuối Thiên Đồng (7)
Gặp lại chung nhà
Tào Khê rửa bát (8)
Đông Lâm treo y. (9)

Linh căn tuệ nghiệp
Thanh tịnh không tà
Mộc đạc (10) Tăng chúng
Bùn sen nở hoa.

Gặp buổi tranh đấu
Pháp yếu ma đa
Nguyện đem ngọc báu (11)
Lợi khắp trần sa.

Kính dâng lên pháp tòa bổn sư vị Tổ nối pháp chùa Quốc Ân, giữ chức Tăng cang chùa Thiên Mụ.

Ngày Đông chí, Phật lịch năm 2502.

Pháp tự (nối pháp) Huyền Hiệu cùng các đệ tử kính cẩn đảnh lễ.

*** chú thích:
(1) sóng lặng chìm sa: Sóng pháp bị dập tắt, lặng xuống, chỉ Phật pháp suy vi, không còn hưng thịnh.

(2) Long tượng vắng bóng: dấu chân rồng voi mờ đi, ngầm ý nói việc các bậc đại đức cao tăng thời nay đã hiếm thấy, ẩn mất.

(3) Rắn rết đầy nhà: Rắn và rồng không sừng tượng trưng kẻ tà vạy, thấp kém. Ngụ ý người tà kiến, giả danh tu hành thì ngày càng tràn lan.

(4) Quạ đậu thiền gia: Chốn tùng lâm nay đã dần tàn lụi hoang phế, chỉ còn là nơi chim quạ neo đậu.

(5) G*i góc ngăn lối: đường tu hành bị chướng ngại, tà kiến che lấp.

(6) Chẳng người chống đà: Không ai gánh vác Phật pháp, thiếu người hộ trì, truyền thừa.

(7) Đời cuối Thiên Đồng: chỉ ngài Như Đông Đắc Quang

(8) Tào Khê tẩy bát: Chỉ việc tương thừa, phục hưng Thiền tông chân truyền.

(9) Đông Lâm treo y: Chùa Đông Lâm nơi tổ Huệ Viễn xây dựng đạo phong Tịnh độ.

(10) Mộc đạc: cái chuông, là pháp khí để thức tỉnh. Ý nói các vị tổ của Thiền - Tịnh là những bậc cao tăng, người cảnh tỉnh tăng đoàn, dẫn đạo.

(11) Nguyện đem ngọc báu: Ngọc báu Ma ni biểu trưng cho trí tuệ vô ngại, chân lý Phật pháp soi chiếu vào đời.

Dịch chú: Thích Hải Hạnh
Ảnh: Thư viện Huệ Quang

Photos from Thư Viện Huệ Quang's post 15/05/2026

MỘC BẢN THIỀN MÔN NHẬT TỤNG CHÙA THIỀN TÔN: TỪ NGHI THỨC TỤNG NIỆM ĐẾN DI SẢN HÁN NÔM PHẬT GIÁO

1. 𝐺𝑖𝑜̛́𝑖 𝑡ℎ𝑖𝑒̣̂𝑢 𝑚𝑜̣̂𝑐 𝑏𝑎̉𝑛 𝑐ℎ𝑢̀𝑎 𝑇ℎ𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑇𝑜̂𝑛

Với chiều dài lịch sử hơn 300 năm, chùa Thiền Tôn không chỉ là thánh tích lưu dấu chân khai sơn, lập phái của Tổ sư Liễu Quán mà còn là trung tâm khắc in kinh sách lớn của xứ Kinh kỳ [1] trong giai đoạn đầu triều Nguyễn. Tại đây, truyền thống “𝑡𝑜̂̉ 𝑡𝑜̂̉ 𝑡𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔 𝑡𝑟𝑢𝑦𝑒̂̀𝑛”, “𝑠𝑢̛ 𝑠𝑢̛ 𝑡𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑢̣” không chỉ biểu hiện qua dòng pháp mạch thiền học, mà còn được vật chất hóa qua hệ thống mộc bản - phương tiện lưu giữ và truyền bá kinh điển Phật giáo.

Hiện nay, chùa Thiền Tôn còn lưu giữ một số mộc bản, trong đó bộ 𝑇ℎ𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑚𝑜̂𝑛 𝑛ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑡𝑢̣𝑛𝑔 niên đại Gia Long thứ 13 (1814) do Tổ sư trụ trì đời thứ 6 – ngài Đạo Tâm Trung Hậu (? - 1834) trùng khắc. Bộ mộc bản hiện còn tương đối đầy đủ và được cất giữ ở nơi tôn nghiêm như một pháp bảo vô giá. Điều này cũng được thể hiện rõ qua dấu tích lưu trên ván khắc: Bản [ván kinh này] lưu giữ tại chùa Thiền Tôn núi Thiên Thai để làm pháp bảo“天台禪宗寺藏板以為法寶” .

𝑇ℎ𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑚𝑜̂𝑛 𝑛ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑡𝑢̣𝑛𝑔 là tên gọi chung của tập hợp những bài kinh, chú, kệ, khoa nghi,… được tăng ni sử dụng để tụng niệm, thực hiện trong thời khóa sáng, chiều và các kỳ an cư, lễ tiết ở chốn thiền môn. Cấu trúc các bản 𝑇ℎ𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑚𝑜̂𝑛 𝑛ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑡𝑢̣𝑛𝑔 thường không hoàn toàn toàn giống nhau, tùy từng vùng miền mà có dị biệt, tùy theo nơi khắc ván mà có điều chỉnh riêng. Tựu trung đây là văn bản mang tính đặc thù trong đời sống thiền môn, giúp chuẩn hóa thời khóa sinh hoạt, hành trì của tăng ni nói chung và Phật tử nói riêng.

Bộ mộc bản 𝑇ℎ𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑚𝑜̂𝑛 𝑛ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑡𝑢̣𝑛𝑔 tại chùa Thiền Tôn được khắc trong khoảng thời gian từ ngày tốt, tháng 3 đến ngày tốt tháng 5 năm Giáp Tuất niên hiệu Gia Long thứ 13 嘉隆十三年季春月吉日;天運甲戌年仲夏月吉日。(1814) cũng trong năm này, ngài Đạo Tâm Trung Hậu còn tổ chức khắc in các bản kinh: Kim Cang kinh hiện còn 12 tấm ván; Di Đà - Phổ Môn hợp bản hiện còn 15 tấm ván; Thọ mạng Hồng danh Vu Lan hợp bản hiện còn 10 tấm ván. Mộc bản của cả 03 bộ kinh này hiện đang được lưu trữ tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế [2]. Riêng bộ 𝑇ℎ𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑚𝑜̂𝑛 𝑛ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑡𝑢̣𝑛𝑔 vẫn luôn được cất giữ tại chùa Thiền Tôn đến nay đã trải qua 212 năm. Hiện còn 68 ván với 122 mặt khắc, trong đó có 14 ván khắc một mặt và 54 ván khắc hai mặt (trong số này có 08 tấm ván kinh, trước đây đưa lên Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế cơ sở Hồng Đức để trưng bày. Tuy nhiên, trong đợt sưu tầm và số hóa tư liệu Phật giáo của Thư viện Huệ Quang và Trung tâm Liễu Quán lần này, bản tự đã thỉnh hồi 08 ván ấy về lại để phục vụ cho việc thống nhất số hóa hệ thống mộc bản, in bản giấy cúng dường chư Tôn đức và lưu trữ tại Chùa).

2. 𝐶𝑎̂́𝑢 𝑡𝑟𝑢́𝑐 𝑛𝑜̣̂𝑖 𝑑𝑢𝑛𝑔 𝑏𝑎̉𝑛 𝑇ℎ𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑚𝑜̂𝑛 𝑛ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑡𝑢̣𝑛𝑔

Về cơ bản cấu trúc các phần của bản kinh vẫn còn đủ, từ ván tranh Phật, long bài chúc ngữ đầu kinh đến ván tranh đức hộ Pháp cuối kinh. Tuy nội dung các trang kinh bị mòn ván, mất dạng chữ, khuyết số trang nhưng những gì còn lại đủ để làm căn cứ, vật chứng xác tín cho việc khảo chiếu xuất nhập với các văn bản hiện tồn, đồng thời là minh chứng ghi lại dấu tích quá trình khắc in, lưu truyền của bản kinh cũng như cho nghệ thuật điêu khắc, họa tiết hoa văn độc đáo mang màu sắc thời đại.

Cấu trúc nội dung của bản 𝑇ℎ𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑚𝑜̂𝑛 𝑛ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑡𝑢̣𝑛𝑔 gồm các phần như sau:

1/ 朝時課誦 Công phu khuya : 𝐿𝑎̆𝑛𝑔 𝑁𝑔ℎ𝑖𝑒̂𝑚 𝑐ℎ𝑢́, Đ𝑎̣𝑖 𝐵𝑖 𝑐ℎ𝑢́, 𝐵𝑎́𝑡 𝑛ℎ𝑎̃ 𝐵𝑎 𝑙𝑎 𝑚𝑎̣̂𝑡 đ𝑎 𝑡𝑎̂𝑚 𝑘𝑖𝑛ℎ, 𝐾ℎ𝑜̛̉𝑖 𝑃ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑘𝑒̣̂, 𝐻𝑜̂̀𝑖 ℎ𝑢̛𝑜̛́𝑛𝑔 𝑣𝑎̆𝑛,...

2/ 暮時課誦Thời khóa chiều: 𝑃ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑡ℎ𝑢𝑦𝑒̂́𝑡 𝐴 𝐷𝑖 Đ𝑎̀ 𝑘𝑖𝑛ℎ, 𝑙𝑒̂̃ 𝑃ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑠𝑎́𝑚 ℎ𝑜̂́𝑖 𝑣𝑎̆𝑛, 𝑀𝑜̂𝑛𝑔 𝑠𝑜̛𝑛 𝑡ℎ𝑖́ 𝑡ℎ𝑢̛̣𝑐 𝑣𝑎̆𝑛; 𝐻𝑜̂̀𝑖 ℎ𝑢̛𝑜̛́𝑛𝑔 𝑣𝑎̆𝑛; 𝑇𝑎̂𝑦 𝑝ℎ𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔 𝑡𝑎́𝑛, 𝑇ℎ𝑖𝑒̣̂𝑛 Đ𝑎̣𝑜 ℎ𝑜̀𝑎 𝑡ℎ𝑢̛𝑜̛̣𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑖̣ 𝐿𝑎̂𝑚 𝑡ℎ𝑢̣𝑦 𝑛ℎ𝑎̣̂𝑝 𝑞𝑢𝑎́𝑛 𝑣𝑎̆𝑛.
3/ Các nghi hành trì khác như: 𝐶ℎ𝑢́𝑐 𝑇ℎ𝑎́𝑛ℎ 𝑛𝑔ℎ𝑖; 𝐶ℎ𝑢́𝑐 𝐺𝑖𝑎̀ 𝐿𝑎𝑚 𝑛𝑔ℎ𝑖; 𝑃ℎ𝑢́𝑛𝑔 𝐻𝑜𝑎 𝑁𝑔ℎ𝑖𝑒̂𝑚 𝑘𝑖𝑛ℎ 𝑘ℎ𝑜̛̉𝑖 𝑐ℎ𝑖̉ 𝑛𝑔ℎ𝑖; 𝐶ℎ𝑢́𝑐 𝑇ℎ𝑎́𝑛ℎ 𝑣𝑎̆𝑛,...

4/ Các bài tán thán Phật, tán thán Pháp và Tỳ ni, được trích dẫn từ các bài tán trong các bản Kinh như: 𝐻𝑖𝑒̂́𝑛 𝑇ℎ𝑎̣̂𝑝 𝑐𝑢́𝑛𝑔 𝑡𝑎́𝑛; 𝑃ℎ𝑎́𝑝 ℎ𝑜𝑎 𝑘𝑖𝑛ℎ 𝑡𝑎́𝑛; 𝐿𝑎̆𝑛𝑔 𝑁𝑔ℎ𝑖𝑒̂𝑚 𝑘𝑖𝑛ℎ 𝑡𝑎́𝑛; 𝑃ℎ𝑎̣𝑚 𝑣𝑜̃𝑛𝑔 𝑘𝑖𝑛ℎ 𝑡𝑎́𝑛; 𝑁𝑖𝑒̂́𝑡 𝑏𝑎̀𝑛 𝑠𝑎́𝑚 𝑡𝑎́𝑛; 𝑇𝑎𝑚 𝑚𝑢𝑜̣̂𝑖 𝑡ℎ𝑢̉𝑦 𝑠𝑎́𝑚 𝑡𝑎́𝑛; 𝑁𝑖𝑒̣̂𝑚 𝑃ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑡𝑎́𝑛; 𝑇𝑎𝑚 𝑏𝑎̉𝑜 𝑡𝑎́𝑛; Đ𝑎̣𝑖 𝑏𝑖 𝑡𝑎́𝑛; 𝐻𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔 𝑡𝑎́𝑛; 𝑋𝑎́ 𝑙𝑜̛̣𝑖 𝑡𝑎́𝑛; 𝐿𝑜𝑛𝑔 𝑣𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔 𝑡𝑎́𝑛; 𝐶𝑜̂ ℎ𝑜̂̀𝑛 𝑡𝑎́𝑛.

5/ Các nghi cúng đàn như: 𝑇𝑟𝑎𝑖 𝑃ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑛𝑔ℎ𝑖; 𝑆𝑎́𝑚 𝑡𝑟𝑎𝑖 𝑡ℎ𝑖𝑒̂𝑛 𝑝ℎ𝑎́𝑝 𝑛𝑔ℎ𝑖; 𝑁ℎ𝑖̣ 𝑡ℎ𝑜̛̀𝑖 𝑙𝑎̂𝑚 𝑡𝑟𝑎𝑖 𝑛𝑔ℎ𝑖,...

6/ Các bài kệ chú thường dùng: 𝑃ℎ𝑎̣̂𝑡 đ𝑖̉𝑛ℎ 𝑡𝑜̂𝑛 𝑡ℎ𝑎̆́𝑛𝑔 Đ𝑎̀ 𝑙𝑎 𝑛𝑖 𝑐ℎ𝑢́; 𝑈𝑒̂́ 𝑡𝑖́𝑐ℎ 𝐾𝑖𝑚 𝑐𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑎̂̀𝑛 𝑐ℎ𝑢́; 𝑃ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑡ℎ𝑢𝑦𝑒̂́𝑡 𝑡𝑖𝑒̂𝑢 𝑡𝑎𝑖 𝑐𝑎́𝑡 𝑡𝑢̛𝑜̛̀𝑛𝑔 Đ𝑎̀ 𝑙𝑎 𝑛𝑖 𝑘𝑖𝑛ℎ; 𝑁𝑖𝑒̣̂𝑚 𝑃ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑘ℎ𝑜̛̉𝑖 𝑐ℎ𝑖̉ 𝑛𝑔ℎ𝑖,...

7/ Không chỉ các thời khoá công phu hằng ngày, nghi thức tán tụng mà còn ghi chép các nghi thức hành trì cần có trong mùa an cư như: 摘鐘板Trích Chung bản. Các bài hồi hướng: 𝐻𝑜̂̀𝑖 ℎ𝑢̛𝑜̛́𝑛𝑔 𝑣𝑎̆𝑛; 𝐿𝑒̂̃ 𝑄𝑢𝑎́𝑛 𝐴̂𝑚 𝑣𝑎̆𝑛 𝑣𝑎̀ 𝑡𝑖𝑒̂̉𝑢 𝑙𝑢𝑎̣̂𝑡 𝑐ℎ𝑜 𝑡𝑖𝑒̂̉𝑢 𝑐ℎ𝑢́𝑛𝑔 ℎ𝑜̣𝑐 𝑛𝑎̆̀𝑚 𝑙𝑜̀𝑛𝑔 𝑛ℎ𝑢̛: 𝑄𝑢𝑦 𝑆𝑜̛𝑛 Đ𝑎̣𝑖 𝑉𝑖𝑒̂𝑛 𝑡ℎ𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑠𝑢̛ 𝑐𝑎̉𝑛ℎ 𝑠𝑎́𝑐ℎ 𝑣𝑎̆𝑛,...

Với những phần mục trên, có thể khẳng định đây là một bản nhật tụng quy mô lớn, nội dung hoàn bị, là một đại bản Nhật tụng được biên tập công phu nhằm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt chốn thiền môn. Các thời khóa tụng niệm ngày đêm (朝時課誦, 暮時課誦) đều đầy đủ; tích hợp hệ thống nghi thức, văn tán, chú kệ và các pháp hành trì truyền thống. Trải qua năm tháng, bụi bám, ván mòn, chữ mờ, văn khuyết, thiếu trang, sứt cạnh, nhưng phần còn lại vẫn đủ độ tin cậy để làm cơ sở cho việc khảo chiếu, đối sánh với các dị bản hiện tồn, cung cấp những chứng cứ quan trọng về quá trình khắc in mang giá trị đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu văn bản học Hán Nôm Phật giáo cũng như khẳng định tính truyền thống của các nghi lễ Phật giáo từ xưa tới nay.

3. 𝐺𝑖𝑎́ 𝑡𝑟𝑖̣ 𝑛𝑔ℎ𝑖𝑒̂𝑛 𝑐𝑢̛́𝑢 𝑐𝑢̉𝑎 𝑚𝑜̣̂𝑐 𝑏𝑎̉𝑛 𝑇ℎ𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑚𝑜̂𝑛 𝑛ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑡𝑢̣𝑛𝑔

Mộc bản 𝑇ℎ𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑚𝑜̂𝑛 𝑛ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑡𝑢̣𝑛𝑔 được khắc in theo thể phương sách, mỗi mặt ván chia thành hai khuôn hình chữ nhật, phần cách giữa 1cm khắc đơn ngư vĩ tạo kết nối giữa hai khuôn. Sau khi in ra sẽ gấp đôi bản in, phần trung tâm kết nối trở thành mép ngoài của sách, hai lề ngoài của giấy được khâu lại thành gáy sách. Kích thước full ván không đồng nhất, dao động từ 40,5- 43,5 x 20,5 - 23cm; kích thước lòng ván mặc định là 20 x30cm. Xét về kỹ thuật in ấn trên cơ sở các văn bản hiện tồn, hình thức “𝑝ℎ𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔 𝑠𝑎́𝑐ℎ” kết cấu có bản tâm, ngư vĩ là kiểu in kinh sách phổ biến vào giai đoạn Lê - Nguyễn.

Trong số 122 mặt khắc còn tồn đến nay, 1/3 số đó đã bị mòn ván, mất dạng chữ, khuyết số trang. Ván hỏng ít nhất là mất dạng từ 1 đến 5 chữ; ván hỏng nhiều nhất chỉ có thể đọc được từ 10 đến 20 chữ. Có những ván chữ còn sắc nét nhưng mặt ván bị lấm, lớp keo dính vào kẽ chữ, đọng lại trên các nét, khi in ra vẫn đọc được chữ nhưng trang giấy bị lấm mặt chữ.

Đối chiếu bản giấy 𝑇ℎ𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑚𝑜̂𝑛 𝑛ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑡𝑢̣𝑛𝑔 hiện tồn tại chùa Tường Vân, nhận thấy có 1 trang ghi số thứ tự tam 三; chiếu sang Mộc bản nhận thấy có 2 ván nội dung tương ưng. Mặt khắc thứ nhất số thứ tự thập nhị 十二; mặt khắc thứ hai, khuyết nội dung, mất chữ, số phần bản tâm. Căn cứ trên mộc bản có thể đoán định rằng bản in chùa Tường Vân là bản được in và trước khi có đợt bổ sung ván; lúc này ván đã mòn, có thể đã bị mẻ một phần của chữ thập 十nên chỉ còn 3 nét ngang, nhìn như chữ tam 三mà thực chất là thập nhị 十二. (Bản Thiền môn nhật tụng chùa Tường Vân tr.50). Khảo xuất nhập giữ văn bản hiện tồn thấy có hai điều: Thứ nhất mặt khắc số thứ tự thất thập bát hựu nhất 七十八又一(chúng tôi đặt là 78.1)hiện mộc bản vẫn còn mà bản giấy chùa Tường Vân không có trang này. Có thể, số hóa thiếu trang, có thể trang này lúc in ấn, đóng quyển bỏ sót. Tương tự với trang 九十七從二 (97.2) mộc bản khuyết mặt khắc này, và bản chùa Tường vân cũng khuyết chỉ thấy có trang 97.1 và 97.3 mà không có 97.2.

Những dấu vết này không đơn thuần là biểu hiện xuống cấp vật lý, mà chính là “𝑐ℎ𝑢̛́𝑛𝑔 𝑡𝑖́𝑐ℎ 𝑣𝑎̣̂𝑡 𝑐ℎ𝑎̂́𝑡” phản ánh rõ lịch sử, sự bào mòn tự nhiên qua quá trình in ấn kéo dài, điều kiện bảo quản chưa đảm bảo, cách lựa chọn và dùng mực in không phù hợp... tất cả đưa đến kết quả bộ ván khuyết hiện tồn. Tuy nhiên, chính những yếu tố này lại góp phần tạo nên “𝑙𝑖̣𝑐ℎ 𝑠𝑢̛̉ 𝑠𝑜̂́𝑛𝑔” của di sản và biểu hiện giá trị của mộc bản trên góc độ văn bản học. Bởi vì, ngay cả những phần khuyết thiếu vẫn mang giá trị tái hiện lịch sử lưu truyền và biến đổi từ mộc bản sang văn bản.

Khi trực tiếp in từng tấm ván, chúng tôi nhận thấy bộ mộc bản tồn tại hai loại hình rõ rệt: Nhóm thứ nhất: Chiếm đa số, ván khuôn kép, chữ mòn, thuộc lớp nguyên bản khắc từ niên đại Gia Long thứ 13 (1814); Nhóm thứ hai: ván bổ sung (khoảng 9 tấm), khuôn đơn, chữ sắc nét, gỗ nặng hơn, niên đại chưa xác định. Đáng chú ý là hiện tượng “𝑡𝑟𝑢̀𝑛𝑔 𝑣𝑎́𝑛”, khi các ván mới được bổ sung nhưng vẫn giữ lại ván cũ bị hư hỏng. Điều này tạo nên một cấu trúc mang tính “đ𝑎 𝑡𝑎̂̀𝑛𝑔”, trong đó các lớp khắc khác nhau cùng tồn tại, phản ánh quá trình tu sửa nhưng không loại bỏ quá khứ. Các ván trùng đó là: Ván thứ tự số 9, 10, 12, 26, 33, 34, 36, 46, 87. Trong số này trùng lặp này đều có: 1 ván hoặc bị mất số thứ tự, tên sách ở bản tâm, hoặc bị mòn chữ, mất dạng tranh, khuyết hình chữ, mẻ góc ván còn lại số ván được bổ sung đều còn tốt, sắc nét.

Bộ mộc bản này không chỉ nằm ở giá trị lịch sử mà đối với vấn đề văn bản học, chính hình thái vật chất của mộc bản - nơi lưu giữ đầy đủ nhất dấu vết lịch đại của quá trình khắc in, tu bổ và truyền thừa. Những hiện tượng như khuôn kép - khuôn đơn, sự tồn tại song song giữa ván nguyên khắc từ thời Gia Long thứ 13 (1814) và các ván bổ sung về sau, hay tình trạng trùng ván với mức độ hư hại khác nhau, đều là những “𝑐ℎ𝑢̛́𝑛𝑔 𝑐𝑢̛́ 𝑣𝑎̣̂𝑡 𝑐ℎ𝑎̂́𝑡” mà chỉ khi khảo sát trực tiếp trên mộc bản mới có thể nhận diện đầy đủ. Chính vì vậy mộc bản chính là bản gốc, lớp lang thứ nhất để căn cứ khảo dị với các văn bản hiện tồn.

Khảo sát văn bản, nếu chỉ dừng lại ở bản in giấy đã đóng quyển (không khảo mộc bản hoặc mộc bản đã mất), toàn bộ những lớp thông tin này gần như bị làm phẳng, khiến quá trình hình thành, tu sửa và lưu truyền văn bản bị che khuất.

Mỗi tấm ván, dù còn nguyên vẹn hay đã tàn khuyết, đều là kết tinh của một quá trình lao động công phu, phản ánh tâm huyết của chư Tổ trong việc hoằng truyền chính pháp. Trong bối cảnh chưa có công nghệ in hiện đại, việc khắc và in một bộ kinh là một công trình lớn, đòi hỏi kỹ thuật, thời gian và tiền bạc và sự kiên trì. Những ván khắc còn lại, dù khuyết mẻ hay mòn nét, vẫn mang giá trị đặc biệt: chúng lưu giữ dấu ấn hơn hai thế kỷ, phản ánh đời sống sinh hoạt, công phu tụng niệm, hành trì và sự truyền thừa trong chốn thiền môn. Các dấu vết mực, nét mòn, hay cả những lần bổ sung ván mới đều cho thấy văn bản không ngừng được sử dụng, thích ứng và tiếp nối. Ở đây, mộc bản không chỉ “𝑔ℎ𝑖” kinh, mà còn “𝑔ℎ𝑖” cả lịch sử hành trì và truyền thừa của dòng Thiền do Tổ sư Liễu Quán khai sáng.

Bộ mộc bản 𝑇ℎ𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑚𝑜̂𝑛 𝑛ℎ𝑎̣̂𝑡 𝑡𝑢̣𝑛𝑔 tại chùa Thiền Tôn không chỉ có giá trị về mặt nội dung kinh điển, mà còn là tư liệu quý giá cho nghiên cứu văn bản học, lịch sử in ấn và Phật giáo Việt Nam. Việc bảo tồn và nghiên cứu cần đặt trên nền tảng tôn trọng tính nguyên bản của mộc bản, xem đây là điểm khởi đầu bắt buộc trong mọi khảo cứu. Chỉ bằng cách quay về với mộc bản - nơi lưu giữ trọn vẹn nhất ký ức vật chất, để tiếp cận đầy đủ về lịch sử và tinh thần mà di sản này lưu giữ kéo dài hơn hai thế kỷ.

Bài khảo: Thích Minh Trí
Ảnh: Thư viện Huệ Quang

Chú thích:
[1] Kinh kỳ chỉ cho danh từ Xuân Kinh tức Kinh đô Phú Xuân xưa của nước Đại Việt ta. Từ này được khắc ngay trên chính bản gỗ kinh.
[2] Theo Thượng tọa Thích Không Nhiên, (2022), Tổng quan Tư liệu Hán Nôm chùa Thiền Tôn, Tạp chí Liễu Quán số 25, Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu Quán - Huế.

Want your business to be the top-listed Government Service in Ho Chi Minh City?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Telephone

Address


116 Hòa Bình, P. Hòa Thạnh, Q. Tân Phú
Ho Chi Minh City
7000

Opening Hours

Monday 07:00 - 20:00
Tuesday 07:00 - 20:00
Wednesday 07:00 - 20:00
Thursday 07:00 - 20:00
Friday 07:00 - 20:00
Saturday 07:00 - 20:00
Sunday 07:00 - 17:00