Cơ-cấu Việt-ngữ

Cơ-cấu Việt-ngữ

Share

Học-quán Cơ-cấu Việt-ngữ. Trang[page] này được tạo ra để học về Cơ-cấu Việt-ngữ.

30/03/2026

* TÔI ĐỨNG TRÊN ĐỒI MÂY TRỔ BÔNG

Những câu thơ được viết nên không chỉ để người ta hiểu, sự hiểu chỉ là một khía-cạnh về vấn-đề logic|luận-lí cuả tư-duy thông-thường phải-trái-đúng-sai bán-mua-đổi-chác; những câu thơ được hiện thành với ước-vọng là người ta sẽ cảm – cảm thông, trực cảm, thấu cảm – sẽ dung hội và nhiếp nhập cùng thần-trí cuả tác-giả trong một cõi miền thanh-cao đồng-vọng, với ước vọng đơn-sơ rằng giưã nhân-gian hỗn-độn trầm-luân kia, ít ra vẫn có được ít nhất một [vài] người thấu tỏ lòng ta. Vậy tại sao lại là :

"Hiu hắt quê hương bến cỏ hồng"

Câu thơ như một linh-ngữ hay một điềm-triệu-ngữ mà Phạm Công Thiện để lại cho đời; đã được cố Hoà-thượng Phước An mượn làm nhan-đề cho một tác-phẩm và đã trích dẫn trong nhiều bài viết mà Ngài đã trước tác. 'Bến cỏ hồng', cõi miền phong-nhiêu linh-thánh u-trầm ấy, nơi mà tôi đoán là trong tâm-tưởng cuả quí Ngài đã là một nơi chốn linh-thiêng có thể hiện-hữu ở bất-cứ nơi đâu giưã trần-gian đầy bụi hồng này mà cũng có thể là chẳng ở chốn nào; nơi mà tác-giả đã ngồi cùng Bùi Giáng, cùng thầy Tuệ Sỹ, cùng Phạm Công Thiện ...etc...Cái phong-vận phong-nhiêu tao-nhã cuả một thời vàng-son học-thuật và học-thuật Phật-giáo, cái phong-vận ấy ta có thể dùng thêm hằng vạn hình-dung-từ để miêu tả, nhưng "lưả đã tắt từ buổi đầu sáng thế"(Tuệ Sỹ) nên năm tháng trôi xuôi, "hiu hắt quê hương bến cỏ hồng".

'Thơ Tuệ Sỹ hay tiếng gọi cuả những đêm dài heo hút', nhân-duyên đưa đẩy, chúng tôi đã đọc tiểu-luận ấy trong những ngày còn ngồi trên ghế nhà trường cấp III, nơi Nha-thành, trong những quán net với mức giá 2000đVN/1-giờ . Trong những ngày tháng thiếu hụt thông-tin ấy, thì trang dactrung.com đã là một bể phong-nhiêu về âm-nhạc và thi-ca , đối với riêng tôi. Thậm chí đã có răm-ba lần, tôi bạo-gan viết email|điện-thư để hỏi thăm nhạc-sĩ Phạm Duy và mừng rơn khi được một cây cao bóng cả hồi-âm phúc-đáp.

Nha-thành yêu-dấu cuả tôi, đã từng in dấu bước chân cuả thầy Tuệ Sỹ, cuả Phạm Công Thiện và có thầy Phước An trầm-mặc ngự trên đồi Trại Thuỷ.

Những cái tên ấy sẽ là những cái tên đại-diện cho tinh-hoa cuả một thời, đã qua nhưng chưa xa; những cái tên sẽ đi vào và ở hẳn trong lịch-sử.

"Trùng dương nằm đợi vô thường
Đồi cao bạt gió hai đường âm u."
~ Phạm Công Thiện

Trong tác-phẩm này, người đọc sẽ được chính tay thầy Phước An dẫn đưa một vòng văn-chương thi-ca miền Nam trước 1975, thong-thả ân-cần, dịu-dàng chừng-mực, thầm-lặng mực-thước, để giáp mặt với những gương mặt lớn cuả văn-chương miền Nam.

Ta sẽ gặp người giữ bản-quyền câu thơ "Mái chuà che chở hồn dân tộc/ Nếp sống muôn đời cuả tổ tông" là thi-sĩ Huyền Không, người mà tác-giả sách đã gọi là "thi-ca cuả tuổi thơ học đạo". Thi-sĩ Huyền Không cũng là Hoà-thượng Thích Mãn Giác, người nổi tiếng với những nhan-đề sách về triết-học và nhứt là về triết-học Ấn-độ, cuả một thời Vạn Hạnh huy-hoàng.

Ta sẽ gặp hai danh-nhân cuả đất Nha-thành Khánh Hoà, hai con người đã nhận Khánh Hoà làm quê-hương thứ nhì. Thi-sĩ Quách Tấn 'Muà cổ điển' sẽ dẫn ta tìm về núi cũ xem mai nở, nhiều giống mai nhiều loại mai mà quyển 'Xứ trầm-hương' ông viết về đất Khánh Hoà đã có lần mô tả. Ta sẽ theo chân nhà văn Võ Hồng đi từ cầu Ngân Sơn trong ấu-thời cuả ông ở Phú Yên để tới đất Khánh Hoà, chúng tôi có mặt, với tất-cả sự hoà-hợp ân-cần và xây-dựng trong văn-chương.

Ta sẽ gặp những nghịch-ngôn nghịch-ngữ thi-ca rất dễ thương và trí-tuệ cuả thi-sĩ Nguyễn Đức Sơn, những trang văn nghiêm-túc ân-cần phong-nhiêu cuả Tràng Thiên Võ Phiến, ....và người đốc-tơ hiền-hoà trẻ mãi không già đã sống vắt qua hai thời, để nghe ông tâm tình về cách sống ở đời, để "già sao cho sướng" sau khi đã ngốn hết nhiều bồ chữ-nghĩa cuả nhân-gian: Bác-sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Nhiều và còn nhiều nưã, sách tuy mỏng nhưng sẽ mở ra một bể phong-nhiêu vô-cùng vô-tận cho những tâm-hồn muốn tìm và muốn thấy.

Hôm nay là chung-thất cuả thầy Phước An, tôi biên vài dòng phiếm-luận vu-vơ để tưởng nhớ Thầy và cũng xin tri ân một quí cô, đã kịp thời tái bản sách để dâng lên Ôn trong lễ chung-thất.

Tôi tưởng tượng như xưa, sẽ lại leo đồi Trại Thuỷ, lên núi tìm thầy.

"Tôi đứng trên đồi mây trổ bông"(Phạm Công Thiện)

(C) Trần Đăng Thành | 260329 sun 16h28

16/03/2026

VIỆT-NGỮ, NHỮNG TIẾNG-TỪ OAN-ỨC HAY ĐÃ BỊ NHOÈ NGHĨA

Từ một thời-điểm nào đó trong quá-khứ xa-xăm , một danh|thuật-ngữ|term hay một tiếng-từ được tạo ra, hữu-í hoặc vô-í, một cách ngẫu-nhiên do sự tựu-thành cuả trùng-trùng nhân-duyên.
Từ đó, những tiếng-từ đi vào nhân-gian, hành xử với những í-nghĩa nội-dung cuả riêng nó nhưng phải chịu sự xô-đẩy cuả tình-thế và í-định riêng cuả từng người. Mỗi một tiếng-từ đều có lịch-sử-tính cuả riêng nó, lên xuống thăng trầm theo thời-thế, được trân-quí nâng-niu hoặc bị biếm-trích vì ghét bỏ.

Và cũng do đó, sẽ có những tiếng-từ rời xa í-nghĩa ban-đầu và được sử dụng chưa tương thích với nội-dung í-nghĩa mà nó phải diễn-tả; giữa cái chỉ (sở-năng) và cái được-chỉ (sở-biểu) không [bao giờ] đạt tới sự tương-ứng.

Ngôn-ngữ vận hành giữa nhân-gian theo những hệ-thống qui-luật nội-tại của riêng nó và sự khuôn-định cuả xã-hội đang mang chưá nó; để tác động một-cách trực-tiếp và ngay lập-tức đến ngôn-ngữ , chỉ có quyền-lực chính-trị cuả thiết-chế đang ngự trị vào thời-điểm ấy ở tại chốn ấy.
Bài viết này được hiện thành nhằm để cử ra một vài tiếng-từ oan-ức đang bị thiên-hạ sử dụng một cách hàm-hồ, nếu không muốn nói là bị sai lệch về í-nghĩa & cú-pháp.

1. "Chúng tôi ngu dại dân tình." (Ca-dao)

Vì lịch-sử và thời-thế, ngôn-ngữ văn-tự Việt Nam phải chịu một cái thế chân vạc – như Nguyễn Tiến Văn và các cộng-sự đã từng viết – China-ngữ Việt-ngữ & chữ viết Roman-Abc; nên sự phối-kết cuả nhân-duyên để hiện-thành một tiếng-từ trong Việt-ngữ sẽ vô-cùng phức-tạp. Từ-nguyên-học Việt-ngữ sẽ là một cánh rừng mênh-mông mà các ngữ- lí-gia sẽ còn đời-đời tìm cách soi tỏ.

Nguyên-tắc xưng-hô cuả người Việt được tổ-tiên truyền lại cô đúc trong bốn âm-vận mà cũng là bốn tiếng-từ "xưng khiêm hô tôn". Khi ta xưng danh thì phải thật khiêm-nhượng nhẹ-nhàng; khi ta hô hay gọi người khác thì phải cực-kì tôn-trọng.

Trong Việt-ngữ, khi xưng-hô, ngôi thứ nhứt số ít chúng ta dùng tiếng-từ [tôi] – với nguyên-nghĩa là 'tôi tớ' trong một thời xa-xưa – hoặc một biến-dạng là [tui] trong tiếng nói ở phương Nam. [Tôi tạm để các tiếng-từ như 'qua, mỗ, ngộ,...' ra bên ngoài].

Khi cực-kì khiêm-hạ và dè-dặt, chúng ta xưng "chúng tôi". Đó là những gì Trần Trọng Kim cùng các cộng-sự viết trong 'Việt-Nam văn-phạm', có thể xem như là quyển giáo-khoa-thư đầu-tiên về ngữ-pháp Việt Nam cuả nền giáo-dục Việt Nam thời-đại cận-kim. Quyển sách này đã có tối-thiểu gần năm mươi năm được lưu truyền rộng-rãi trong lãnh-thổ Việt Nam như một khuôn vàng thước ngọc của ngôn-ngữ Việt Nam.

Nhưng ngày nay, nghĩa là vào thời hiện-kim, tiếng-từ [tôi] đang bị thiên-hạ ghét bỏ và có lẽ đang tìm cách biếm trích ra khỏi đời sống.

Lí-do đầu-tiên, có lẽ là vì đa-phần đại-chúng bị nhầm lẫn và đánh đồng í-nghĩa giữa "tôi" và "cái tôi". Danh-từ "self" (Anh-ngữ) nên được dịch là "tự-ngã" hay "bản-ngã" thay vì là "Cái Tôi". Có thể rằng trong tâm-trí cuả mọi người, tiếng-từ "tôi" đã bị đồng nhất với "Cái Tôi". Nói như ngạn-ngữ Pháp, rằng cái bản-ngã thì muôn đời đáng ghét nên quả-thực là oan-ức tội-tình cho tiếng-từ [tôi].

Lối thoát khả-dĩ cho tình-thế này ở thời-điểm hiện-tại, có lẽ là chúng ta – những người trưởng-thành không nhỏ hơn 18 tuổi – nên tự xưng là [tui] hoặc [chúng tôi]. Chúng tôi chưa được rõ là nếu xưng là [tụi tui] hay [ta] thì tâm-lí tiếp-nhận cuả quí-vị đại-chúng sẽ ra sao?

P/s: Tiếng-từ [mình], ta không nên dùng để xưng-hô giưã xã-hội vì nhiều lẽ liên-quan đến í-nghĩa và cú-pháp. Về chuyện này, chúng tôi xin được trình bày ở một chỗ khác.

2. Tri túc thường lạc, an bần lạc đạo.

Chúng ta chưa được rõ là vì sao, với những lí-do nào về ngữ-âm và văn-tự, mà tiếng-từ Dukkha trong Phật-học, cho dù là lênh-đênh theo lộ-trình Bắc-truyền hay Nam-truyền cuả Phật-giáo để đến Việt Nam, đã hiện thành tiếng-từ "khổ" trong Phật-giáo và trong ngôn-ngữ văn-tự Việt Nam.

"Khổ" là một tiếng-từ để chỉ đến sự không-thoả-mãn trong tâm-trí cuả con người hiện-sinh, những kiểu khổ mà Phật-học đã trình bày, ở đây không nhắc lại.

Tuy nhiên, trong ngôn-ngữ Việt Nam hiện-tại, khúc tiếng-từ "Nghèo Khổ" là một khúc cực-kì hàm-hồ; vì một-cách vô-tình, người t[h]a đã đồng nhất cái nghèo và sự khổ thành một. Theo thiển-í, [nghèo] thì [khó] thôi – nghèo khó – chứ chưa hẳn đã là [khổ]; chính cái cảnh-giới tinh-thần (hay tâm-thần) cuả đương-sự mới là cái quyết định rằng hoàn-cảnh ấy là khổ hay vui|lạc.

Vấn-đề về khúc tiếng-từ này tuy không lớn nhưng vẫn nên được nêu lên như một ghi-chú về ngôn-ngữ. Vì rằng, sự "khổ" được chia gần-như là đồng-đều cho mọi người trong thiên-hạ.

3. Giật mình, mình lại thương mình xót xa. ~ Nguyễn Du

Năm năm, trời bể ngang tàng
Dấn mình đi bỏ chiến trường như không.
~ Nguyễn Du

Trong Việt-ngữ, [mình] là một danh-từ thể Tự. Như trong câu "Con người ấy [tự] yêu lấy [chính] mình". Nếu dùng tiếng-từ [mình] để hô-gọi người đối-diện, chúng tôi e rằng không được ổn-thoả, và có thể làm rối loạn cơ-cấu ngữ-pháp Việt Nam.

4. Chiếc thuyền lơ lửng bên sông,
Biết đem tâm sự ngỏ cùng ai hay.
Chắc chi thiên hạ đời nay,
Mà đem non nước làm rầy chiêm bao.
~ Nguyễn Trãi

Trong Việt-ngữ, ở một câu hay một xây-dựng đã thành, nghĩa là có ngữ-pháp-tính, thì mỗi Từ có Loại – như N|danh-từ, V|diễn-thuật-từ|*động-từ, A|cận-từ|*tính/tĩnh-từ – là một dây/chuỗi/khúc tiếng-từ có tối-thiểu là một âm-vận|tiếng-một.

Danh-từ N|Noun trong Việt-ngữ có mẫu-hình "Nn-Nn-1 ...N2-N1-[N0]" trong đó – kí-hiệu đứng trước bao trùm kí-hiệu đứng sau về hệ-loại, nội-dung và í-nghĩa – với n2 là loại-danh|sortal dắt đầu, để chỉ rằng biệt-danh n1 mà nó dắt theo sẽ cùng với nó hợp thành một danh-từ N. Việt-ngữ có hơn ba trăm (300) loại-danh như vậy, như "cái, con, sự, nỗi, tấm, mảnh, phiến,...etc..." và [chiếc] là một loại-danh như vậy. (*: Có người gọi những loại-danh này là danh-từ đơn-vị, nhưng chúng tôi thiển-nghĩ rằng cách gọi này chưa đạt được sự tổng-quan.)

Sau loại-danh [chiếc], chỉ có một vài tiếng-từ được chấp-nhận , như "xe, thuyền,..." Bây giờ các bạn trẻ lại ghép một cách ngẫu-hứng thành "chiếc phim" hay "chiếc ảnh" thì chúng tôi nghĩ là không nên, vì Việt-ngữ có đầy-đủ loại-danh để chúng ta diễn đạt những danh-từ này một cách sáng nghĩa và rõ-ràng, như 'bộ phim", như "bức ảnh".

0...phiếm-văn

Ngữ-vựng hay ngữ-pháp, khi ta tiến hành nghiên-cứu, dầu i-cứ trên hình-thức hay í-nghĩa thì cũng đều là chưa đầy-đủ; ngữ-lí-học nên là ngữ-lí-học duyên-khởi-luận theo í-nghĩa mà Phật-học đã định, dẫu rằng ta chưa biết đâu mới là trung-đạo.

Người t[h]a sẽ lí luận rằng ngôn-ngữ thì tiến hoá theo cách họ sử dụng và sinh-ngữ thì luôn luôn biến đổi.

Đã đành là như thế, nhưng nếu trong chừng-mực nhất-định, ta có một sự nhắc-nhở vưà đủ và hợp-lí để việc viết Tiếng Việt được thực thi một cách nghiêm-ngặt, có lề-lối và qui-củ, thì theo thiển-í của người viết, ta vẫn nên làm.

Dẫu chỉ là một viên sỏi nhỏ ném vào lòng đại-dương.

txd 250316 mon 11h15m

15/03/2026

* Sách về sáng nay, trị-giá tương đương một thùng bia Bivina thời-giá hiện-kim.

Nền văn-minh nhân-loại đương ở thời AI|trí-năng-nhân-tạo, thiên-hạ vẫy vùng trong nhiều đại-dương dữ-liệu, nhiều đại-dương ngôn-ngữ; kho tri-thức mở ra vô-cùng vô-tận, sách vở về sau có lẽ sẽ không còn thiếu-thốn nưã, nhưng cuộc tìm cầu sự thông-tuệ và khôn-ngoan sẽ không bao-giờ là đủ, nhân-loại sẽ mãi luôn trên đường.

Nhưng theo thiển-í riêng tôi, về sau sự xuất-bản sách sẽ còn khó-khăn hơn về mặt doanh-số tiêu-thụ và phải đảm bảo những yêu-cầu ngày càng nghiêm-ngặt. Vì rằng từ đây, người t[h]a sẽ mua sách như mua một tác-phẩm nghệ-thuật với một sự bình-nghị nghiêm-khắc nhứt. Bản đọc trước với tối-thiểu nội-dung phải được lưu hành trong cõi indra-internet để người mua thẩm định. Sách giấy vật-lí sẽ tồn tại như một chỉ-dấu hiện-sinh chói lọi cuả một công-trình.

Trong khi chờ đợi những điều này, tôi vẫn yêu những quyển sách, xưa và cũ, đã nhuốm màu gió bụi trần-gian.

txd 260315 sun 10h58m | cà-phê đặng

14/03/2026

* TRÊN MỘT TRƯƠNG SÁCH

Trương sách hiển thị trong tút này là trang đầu-tiên cuả quyển 'Phật-học tinh-hoa' một trong nhiều ấn-bản đã xuất thế trước 1975 cuả học-giả Thu Giang Nguyễn Duy Cần, với lời tưạ cuả nhà báo Trần Việt Sơn – là anh ruột cuả Gs. Trần Ngọc Ninh.

Lâu-lâu tôi được tình-cờ thấy lại những trang sách xưa, thật khó tránh khỏi sự bồi-hồi.

Thứ nhất, là cái dấu vạch/gạch nối (-) ở những tiếng-từ có từ hai(2) âm-vận trở lên, là cách viết mà tác-giả đã tuân thủ cho đến lúc cuối đời, ngay trên những trang bản-thảo cuả ông, cho dù lúc đó trời đất đã tối-tăm, phong-vân đã biến sắc. Cách viết ấy cũng là một quyết-định cuả Uỷ-ban Điển-chế Danh-từ Chuyên-môn mà tác-giả Nguyễn Duy Cần cũng là một thành-viên thường-trực.

Thứ nhì là dòng tiếng-từ China-ngữ phồn-thể được viết theo lối xưa.

Thứ ba là hai con dấu đỏ chói thể hiện phong-khí cuả một thời xưa, trong đó có một con dấu mang tên thánh 'Giuse' để nói lên sự tương-chiếu và học-hỏi lẫn nhau giưã các bên các khuynh-hướng là vô-cùng vô-tận.

Ấy là một thời...và tinh-hoa Phật-học cũng nằm ở đó.

txd 260313 fri 08h56m

14/03/2026

* Tôi xin trân-trọng gởi lời tri-ân và cảm-tạ chân-thành đến anh Thường Quí vì món quà quí-giá này.

'Ước-vọng Duy-Tân' là ước-vọng một đời cuả các vị thức-giả kể từ Nguyễn Lộ Trạch, Nguyễn Trường Tộ cho đến Phan Châu Trinh nối dài tới nhân-vật chủ-chốt cuả quyển sách mang nhan-đề này là Gs. Trần Ngọc Ninh, một đại-giáo-sư một đại-học-giả, một cánh phượng-hoàng trăm năm có một. Tôi đã đọc quyển này, đã thuộc một vài khúc trong sách và hôm nay, được một vị bằng-hữu trao tặng một bản sách giấy vật-lí, sự rung-động thật khó mô tả bằng lời.

Gs. Bửu Lịch là một thức-giả lớn cuả một thời Vạn Hạnh với nhiều tác-phẩm giá-trị về thân-tộc-học nhưng cho đến nay, cái danh cuả ông vẫn còn nằm trong những ngăn kéo cuả quên-lãng, vì nhiều lẽ cuả thời-thế.

Ngôn-ngữ bao trùm và hầu-như có mặt ở vạn-sự trong đời, ở đời khi thiên-hạ giao-thiệp cùng nhau. Đi từ khung-cảnh gia-tộc ra đến giưã xã-hội giưã bàn dân thiên-hạ là cả một bước đi dài mà sự khác-biệt có thể kể đến như một vực thẳm, nếu xét về phương-diện xưng-hô trong ngôn-ngữ Việt Nam. Tuy vậy, trước khi đi vào vấn-đề trọng-yếu, tác-giả đã dành gần mười (10) trang để nêu lên những điểm tinh-yếu cuả ngữ-pháp Việt Nam.

Chúng tôi nhìn người xưa, ngưỡng vọng như đang chiêm ngắm những vì tinh-tú cuả một thời ...tuy đã qua nhưng chưa quá xa; như Mai Thảo đã viết:

"Ta thấy muôn sao đứng kín trời
Chờ ta Bắc Đẩu trở về ngôi."

txd 260313 fri 13h09m

22/02/2026

* Trong Việt-ngữ thời hiện-kim, có lẽ tiếng-từ /mình/ đang là tiếng-từ hàm-hồ nhứt về í-nghĩa và nội-dung, và có lẽ cũng là một trong những tiếng-từ đang bị dùng sai nhiều nhứt.

"giật mình, mình lại thương mình xót xa"

tđt 260222 sun 19h01m

05/02/2026
05/02/2026

05/02/2026

Người nói to, ta nói nhỏ. Người nhiều phiền muộn, ta ít ưu sầu. Người hay sợ hãi, ta không tức giận. Bình thản vô tri, thần khí tự đầy, đó chính là thứ thuốc trường sinh. Bài "Thu thanh phú" có câu: "Biết làm sao, nghĩ sức mình có chỗ không đủ, lo trí mình có chỗ không hay, nên nỗi má hồng mơn mởn hóa nên cây khô, tóc đen anh ánh thành ra bạc đốm." Ấy cũng là cái bệnh chung của bọn sĩ đại phu vậy. Lại nói: "Trăm lo cảm vào tâm, muôn việc nhọc vào mình, trong lòng đã xung động, tất núng đến tinh thần." Người ta thường vướng vào lắm lo lắm nghĩ, khiến vừa mạnh liền lão, vừa lão liền suy, như thế cũng nên biết phép trường sinh. Lụa múa quạt ca, chớp mắt thành ảo; lầu xanh má phấn, lập tức hóa không. Cầm đuốc thiêng mà rọi tình mê, xách gươm tuệ mà cắt ái dục, nhẽ không có cái đại dũng thì chẳng thể làm được. Song, tình tất có chỗ gửi gắm, chi bằng gửi tình mình vào cỏ cây, gửi tình mình vào thư họa, thì có khác gì so với mỹ nữ diễm trang đâu, mà lại bớt được bao phiền não.

| Phù sinh lục ký - Thẩm Phục

(Ảnh: Tranh của họa sĩ Thạch Đào - Nguồn: Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan)

Want your business to be the top-listed Government Service in Nha Trang?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Telephone

Address


Lê Đại Hành
Nha Trang