Công an Phước Hoà

Công an Phước Hoà

Share

Chia sẻ thông tin

29/06/2025

YÊU CẦU THỰC TIỄN VÀ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG

Tinh gọn bộ máy không phải là một "cuộc cách mạng" xóa bỏ tất cả những gì đã có, mà là một quá trình sắp xếp lại, cải tiến bộ máy, sao cho phù hợp với yêu cầu phát triển và phục vụ nhân dân tốt hơn.

Trong quá trình phát triển và hội nhập sâu rộng hiện nay, yêu cầu cấp thiết đặt ra cho bộ máy nhà nước Việt Nam là phải được tổ chức tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia hiện đại và phục vụ tốt nhất cho nhân dân. Đây còn là nhiệm vụ chính trị quan trọng, lâu dài và cấp bách trong bối cảnh mới mà Đảng ta đã quyết tâm thể hiện rõ tinh thần đổi mới, quyết liệt cải cách qua nhiều nghị quyết quan trọng.

Yêu cầu thực tiễn khách quan
Trước hết, yêu cầu thực tiễn từ tình hình tổ chức bộ máy hiện nay đòi hỏi phải tiến hành cải cách mạnh mẽ. Qua tổng kết thực tiễn, Đảng ta đã chỉ rõ: Tổ chức bộ máy vẫn còn cồng kềnh, hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả; chức năng, nhiệm vụ của một số tổ chức còn chồng chéo; số lượng đầu mối tổ chức và biên chế đông, phân tán, chưa hợp lý.

Theo Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng, tính đến năm 2020, cả nước có gần 3 triệu cán bộ, công chức, viên chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Con số này tạo áp lực không nhỏ lên ngân sách quốc gia trong điều kiện nguồn lực tài chính còn hạn chế, đồng thời, làm gia tăng gánh nặng chi thường xuyên, ảnh hưởng đến nguồn lực đầu tư phát triển.

Thứ hai, yêu cầu từ sự phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới càng đặt ra yêu cầu đổi mới tổ chức bộ máy. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nền hành chính truyền thống nếu không được cải cách sẽ trở nên trì trệ, kém thích ứng.

Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, bộ máy nhà nước cần được tái cơ cấu, tổ chức lại theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại và linh hoạt hơn. Đặc biệt, khi Chính phủ đã xác định mục tiêu đến năm 2030 là xây dựng nền hành chính dân chủ, hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu lực, hiệu quả, thì yêu cầu cải cách bộ máy hành chính càng trở nên cấp thiết.

Thứ ba, thực tiễn cho thấy bộ máy hành chính cồng kềnh đang là rào cản trong công cuộc phục vụ nhân dân. Người dân và doanh nghiệp cần một nền hành chính phục vụ, nhanh gọn, minh bạch, không gây phiền hà. Những thủ tục hành chính rườm rà, phân cấp không rõ ràng, sự phối hợp kém giữa các cơ quan gây nên tình trạng trì trệ, làm mất lòng tin của nhân dân vào bộ máy chính quyền. Do đó, việc sắp xếp lại bộ máy, giảm tầng nấc trung gian, xóa bỏ sự chồng chéo chức năng là yêu cầu bắt buộc để nâng cao chất lượng phục vụ, tăng tính minh bạch và hiệu lực thực thi.

Cuối cùng, yêu cầu từ thực tiễn ngân sách nhà nước đòi hỏi phải tinh giản đội ngũ và tái cấu trúc bộ máy. Chi thường xuyên của ngân sách nhà nước, đặc biệt là chi cho nguồn nhân lực, đang chiếm tỷ trọng lớn. Theo Bộ Tài chính, trong giai đoạn 2016-2020, chi thường xuyên chiếm tới 63-67% tổng chi ngân sách, trong đó chủ yếu là chi cho bộ máy hành chính. Đây là áp lực không nhỏ, đặt ra yêu cầu phải tinh giản biên chế, nâng cao hiệu suất công việc, đồng thời bảo đảm hiệu quả sử dụng nguồn lực quốc gia.

Quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng về tinh gọn bộ máy Nhà nước
Trước những yêu cầu cấp bách và khách quan đó, Đảng ta đã có những chủ trương rõ ràng, xuyên suốt và quyết liệt nhằm đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Một trong những văn kiện nền tảng là Nghị quyết số 18-NQ/TƯ, ngày 25-10-2017 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII về “Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”.

Nghị quyết số 18-NQ/TƯ khẳng định: “Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian, chức năng, nhiệm vụ còn chồng chéo, trùng lặp; hiệu lực, hiệu quả hoạt động còn thấp; phân cấp, phân quyền chưa hợp lý; cơ chế kiểm soát quyền lực chưa rõ; tổ chức bộ máy chưa thật sự gắn với vị trí việc làm và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ”.

Nghị quyết nêu rõ mục tiêu là “tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo hướng: Kiên quyết, kiên trì thực hiện; có bước đi, lộ trình phù hợp; làm đến đâu chắc đến đó; có hiệu quả, không gây xáo trộn lớn”.

Bên cạnh đó, Nghị quyết số 19-NQ/TƯ, cũng được Hội nghị Trung ương 6 khóa XII thông qua, đã chỉ rõ mục tiêu cụ thể: “Đến năm 2021, cơ bản hoàn thành việc sắp xếp tinh gọn bộ máy, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đến năm 2030, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo hướng hiện đại”.

Quan điểm chỉ đạo của Đảng là: “Tinh giản biên chế không phải là cắt giảm một cách cơ học, mà phải gắn với cơ cấu lại đội ngũ, nâng cao chất lượng và hiệu quả công vụ; khuyến khích tự nguyện thôi việc, nghỉ hưu trước tuổi; lấy chất lượng phục vụ nhân dân làm trung tâm”. Điều này thể hiện rõ trong Chỉ thị số 02-CT/TƯ ngày 18-5-2021 của Bộ Chính trị về việc đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 18 và 19 (khóa XII), trong đó nhấn mạnh yêu cầu không “làm hình thức”, mà phải tạo chuyển biến thực chất.

Không chỉ dừng lại ở việc tinh giản đầu mối tổ chức, quan điểm của Đảng còn bao hàm yêu cầu hoàn thiện thể chế phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực. Đảng khẳng định: Muốn bộ máy tinh gọn nhưng vẫn vận hành hiệu quả thì phải rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ cơ chế phối hợp và rõ tiêu chí đánh giá hiệu quả.

Đặc biệt, quan điểm nhất quán của Đảng là phải đặt nhân dân vào trung tâm phục vụ, và bộ máy phải vì dân mà hoạt động. Việc sắp xếp tổ chức, tinh gọn bộ máy không nhằm mục tiêu tiết kiệm đơn thuần, mà phải nhằm phục vụ tốt hơn, minh bạch hơn, hiệu quả hơn các nhu cầu và quyền lợi của nhân dân. Đó cũng chính là tinh thần được thể hiện rõ trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, khi đề cập yêu cầu “phát triển chính phủ điện tử hướng tới chính phủ số, đổi mới quản lý, ứng dụng khoa học - công nghệ, tinh gọn tổ chức, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”.

Không những vậy, để bộ máy sau khi tinh gọn vận hành hiệu quả, Đảng còn nhấn mạnh vai trò của các công cụ kiểm soát quyền lực. Trong đó, phải phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, báo chí, các tổ chức chính trị - xã hội và đặc biệt là cơ chế giám sát của nhân dân thông qua đại biểu dân cử và hệ thống pháp luật. Tinh gọn nhưng không tập trung quyền lực một chiều, tinh gọn phải đi kèm minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Yêu cầu tinh gọn bộ máy nhà nước là tất yếu trong tiến trình phát triển và hội nhập của đất nước. Thực tiễn khách quan, cùng với những đòi hỏi cấp bách của thời đại mới, đặt ra nhiệm vụ phải tổ chức lại bộ máy nhà nước một cách khoa học, hợp lý, tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả hơn. Quan điểm của Đảng về vấn đề này là toàn diện, rõ ràng, nhất quán, thể hiện tầm nhìn chiến lược và quyết tâm chính trị cao.

Việc triển khai các nghị quyết, đặc biệt là Nghị quyết số 18 và 19 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII, không chỉ là cải cách mang tính kỹ thuật tổ chức, mà còn là cải cách mang tính thể chế và đạo lý, bảo đảm quyền lợi của người dân, củng cố niềm tin vào Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Tinh gọn bộ máy không chỉ là sự thu hẹp về lượng, mà còn là nâng tầm về chất; không chỉ là nhiệm vụ quản trị hành chính, mà còn là một cam kết chính trị vì dân, do dân và vì tương lai của dân tộc. Với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự đồng thuận của nhân dân, công cuộc tinh gọn bộ máy chắc chắn sẽ tạo nên bước đột phá mới, đưa đất nước phát triển mạnh mẽ, bền vững hơn trong thời kỳ mới.

29/06/2025
29/06/2025

CÔNG NGHỆ - CẦU NỐI ĐỂ TIẾP CẬN, GIÁM SÁT CHÍNH SÁCH

Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đang được ngành tư pháp cụ thể hóa bằng những hành động cụ thể.

Cùng với các cơ sở dữ liệu về chính sách, pháp luật trên môi trường số, thông qua các ứng dụng công nghệ như AI, VNeID, người dân có thể dễ dàng tiếp cận chính sách, quy định pháp luật; được giải đáp và thậm chí được kiến nghị và giải quyết kiến nghị khi phản ánh về những hạn chế, bất cập của chính sách ngay trên môi trường số.

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh cho biết, một trong những điểm nhấn đặc biệt của Cổng Pháp luật quốc gia đó là AI Pháp luật - ứng dụng trí tuệ nhân tạo hỗ trợ, giải đáp các vấn đề về pháp luật; lấy ý kiến người dân và doanh nghiệp về dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp. Với mục tiêu trở thành một trợ lý pháp lý “ảo”, AI pháp luật hiện giải đáp các vấn đề pháp lý cơ bản ở 33 lĩnh vực như: Thuế, Lao động, An toàn lao động, Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp, Đầu tư, Thương mại, Doanh nghiệp, Đất đai-Nhà ở... và hoàn thiện nhiều tính năng mới.

Theo thống kê của Cục trưởng Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp, Cổng Pháp luật quốc gia đã thu hút trên 28.000 lượt truy cập và gần 14.000 câu hỏi đã được AI pháp luật trả lời. Đây là tín hiệu tích cực cho thấy nhu cầu tìm hiểu, tra cứu pháp luật của người dân và doanh nghiệp là rất lớn. Chính môi trường số hóa tiện lợi đã giúp người dân, doanh nghiệp có thể tiếp cận pháp luật dễ dàng với thời gian tính bằng giây. Với nhiều người dân, doanh nghiệp, AI pháp luật là một kênh tham khảo hữu hiệu để họ có thêm kiến thức cơ bản trước khi quyết định tham vấn luật sư, cơ quan chức năng về cách thức giải quyết các vấn đề pháp lý phát sinh.

Tiếp cận, hiểu rõ về chính sách dễ dàng là điều kiện quan trọng để người dân thực thi chính sách, thậm chí là giám sát, phản biện chính sách. Với hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Tư pháp, người dân, doanh nghiệp có thể phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật trên điện thoại di động hoặc truy cập đường dẫn https://paknvbqppl.moj.gov.vn trên máy vi tính thay vì phải gửi văn bản hoặc trực tiếp đến các cơ quan. Sau khi tiếp nhận phản ánh, hệ thống sẽ tự động phân loại và chuyển đến các bộ, ngành, địa phương liên quan để xem xét, xử lý và phản hồi kết quả xử lý.

Trong quá trình tiếp nhận, xử lý kiến nghị, người dân doanh nghiệp có thể theo dõi, giám sát, đánh giá trên hệ thống một cách dễ dàng. Các kiến nghị, phản ánh đều được xem xét, chuyển đến đúng “địa chỉ” giải quyết. Kết quả xử lý được công khai gắn với từng văn bản trên hệ thống. Để bảo đảm tính xác thực của người dùng, nâng cao sự tiện lợi cũng như chất lượng các ý kiến của người dân, doanh nghiệp, hệ thống thông tin cũng được tích hợp với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (VNeID).

Mới đây, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã ký Công điện số 89/CĐ-TTg yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải xác định tiếp nhận, xử lý các phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp về văn bản quy phạm pháp luật là nhiệm vụ quan trọng, không bỏ sót, không chậm trễ; trường hợp không trả lời, trả lời không đúng thời hạn phải chịu trách nhiệm theo quy định pháp luật.

Rõ ràng, chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo đã và đang mang lại lợi ích kép - không chỉ là công cụ hỗ trợ người dân tiếp cận pháp luật thuận tiện hơn, mà còn là nền tảng quan trọng giúp các cơ quan nhà nước đổi mới phương thức quản lý, điều hành, bảo đảm hiệu quả, minh bạch và kịp thời hơn, góp phần hoàn thành mục tiêu cơ bản tháo gỡ những “điểm nghẽn” do quy định pháp luật trong năm 2025 theo Nghị quyết số 66-NQ/TW.

Vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, “nuôi” nguồn dữ liệu pháp luật, đầu tư đồng bộ hạ tầng và đặc biệt là xây dựng đội ngũ cán bộ đủ năng lực, tư duy số để khai thác hiệu quả hơn nữa những tiện ích mà chuyển đổi số mang lại, đáp ứng yêu cầu ngày càng tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp qua đó nâng cao công tác xây dựng và thực thi chính sách trong kỷ nguyên mới của đất nước.

28/06/2025

YÊU CẦU CẤP THIẾT VỀ MỘT HỆ THỐNG PHÁP LUẬT NĂNG ĐỘNG, THÍCH ỨNG

Trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển nhanh và bền vững, yêu cầu về một hệ thống pháp luật năng động, thích ứng và hiệu quả trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Dự thảo Nghị quyết về cơ chế xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định pháp luật đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận kỹ lưỡng, và theo dự kiến sẽ được Quốc hội thảo luận tại hội trường hôm nay thể hiện bước đột phá trong tư duy lập pháp.

Với tinh thần “lấy thực tiễn làm thước đo”, dự thảo Nghị quyết về cơ chế xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định pháp luật hứa hẹn khơi thông các điểm nghẽn thể chế, biến pháp luật thành đòn bẩy thúc đẩy tăng trưởng kinh tế-xã hội.

Dự thảo Nghị quyết lần này đề xuất một cơ chế mang tính đột phá: cho phép Chính phủ hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội “tạm điều chỉnh” một số quy định pháp luật trong giai đoạn 2025-2027. Đây không chỉ là một giải pháp kỹ thuật lập pháp mà là một bước đi cải cách thể chế sâu rộng, chuyển từ cách tiếp cận bị động, cứng nhắc sang chủ động, linh hoạt.

Bộ tiêu chí nhận diện vướng mắc được đưa ra trong dự thảo bao gồm: mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản pháp luật; hoặc quy định không rõ ràng, gây khó khăn trong áp dụng; hoặc tạo gánh nặng chi phí, kìm hãm sáng tạo và đổi mới. Đặc biệt, đề xuất bổ sung tiêu chí “thiếu quy định điều chỉnh” như đánh giá của nhiều đại biểu Quốc hội, đã trực tiếp giải quyết những “lỗ hổng pháp lý” vốn tạo ra nhiều rào cản ở nhiều lĩnh vực từ kinh tế số đến các mô hình kinh doanh mới.

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Hoàng Thanh Tùng và một số đại biểu đánh giá cao bộ tiêu chí này, nhưng cũng lưu ý rằng các khái niệm như “gánh nặng chi phí” hay “hạn chế đổi mới sáng tạo” cần được định lượng hoặc định tính rõ ràng hơn để tránh vận dụng chủ quan. Cơ quan thẩm tra đề xuất bổ sung nguyên tắc “hợp hiến, thống nhất hệ thống pháp luật” để các điều chỉnh không làm phát sinh mâu thuẫn mới.

Một trong những điểm sáng của dự thảo là cơ chế phân quyền rõ ràng, Chính phủ chỉ được phép tạm điều chỉnh các quy định do mình trình; các văn bản do cơ quan khác trình sẽ thuộc thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Những nội dung liên quan Hiến pháp, quyền con người, hình sự, tư pháp sẽ không được điều chỉnh bằng nghị quyết mà phải tuân thủ quy trình sửa luật đầy đủ.

Tại các phiên họp gần đây, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã đưa ra thông điệp mạnh mẽ: “Xác định kỹ vướng mắc chỗ nào, ở đâu, do ai thì chúng ta mới có thể tháo gỡ được”. Chủ tịch Quốc hội yêu cầu Bộ Tư pháp, với vai trò “người gác cổng” của hệ thống pháp luật, rà soát kỹ lưỡng, không bỏ sót bất kỳ yếu tố nào gây bất cập hoặc chồng chéo.

Chủ tịch Quốc hội yêu cầu việc lấy ý kiến doanh nghiệp, người dân và bảo đảm tính minh bạch, không mâu thuẫn với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Có thể nhìn nhận rằng, dù là một văn bản có thời hạn đến ngày 28/2/2027, dự thảo nghị quyết này không chỉ mang ý nghĩa ngắn hạn mà còn định hướng cuộc cách mạng thể chế dài hơi. Việc cho phép tạm điều chỉnh một số quy định pháp luật đã chứng tỏ một cơ chế “ứng xử linh hoạt trong khung pháp lý”.

Nhìn lại những thí dụ thành công như Nghị quyết 117/NQ-CP về sắp xếp đơn vị hành chính hay Nghị quyết 18-NQ/TW cho thấy, khi cơ chế được vận hành đúng, hiệu quả sẽ rất rõ rệt, triển khai nhanh chóng và mang lại lợi ích thiết thực.

Tuy nhiên, yêu cầu tiên quyết đi kèm với sự linh hoạt là giám sát chặt chẽ. Theo ý kiến của nhiều đại biểu Quốc hội, việc thực thi cơ chế cần bảo đảm “ba trụ cột” là minh bạch, giám sát và trách nhiệm. Các đại biểu Quốc hội nhất trí rằng mỗi nghị quyết ban hành phải được báo cáo tại kỳ họp Quốc hội gần nhất, và yêu cầu các đề xuất phải minh bạch, lấy ý kiến từ doanh nghiệp, người dân, phát huy cao nhất tính dân chủ, ngăn ngừa lạm dụng quyền lực.

Photos from Công An Đà Nẵng's post 27/06/2025
Want your business to be the top-listed Government Service in Quang Nam?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Website

Address


Thôn 1, Phước Hòa, Phước Sơn, Quảng Nam
Quang Nam