Hoa Sen Trắng

Hoa Sen Trắng

Share

Lan tỏa tình yêu quê hương, bồi đắp niềm tin và trách nhiệm với đất nước Việt Nam.

Photos from Hoa Sen Trắng's post 04/06/2026

Bước đổi mới đột phá trong công tác cán bộ

Ngày 3/6, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra một yêu cầu mang tính đột phá, đó là phải đổi mới công tác cán bộ từ “đúng quy trình” sang “đúng người, đúng việc, đúng năng lực, đúng sở trường, đúng sản phẩm”.

Phát biểu tại buổi làm việc với Ban Tổ chức Trung ương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đồng thời nhấn mạnh rằng: “Quy trình rất quan trọng, nhưng quy trình không thay thế được chất lượng cán bộ. Hồ sơ rất cần thiết, nhưng hồ sơ không thay thế được sản phẩm công việc. Bằng cấp, thâm niên, chức vụ không thể thay thế cho năng lực thực thi, uy tín và kết quả phục vụ Nhân dân”. Chỉ đạo này phản ánh sự chuyển biến quan trọng trong tư duy lãnh đạo, quản lý và sử dụng cán bộ của Đảng ta trong thời kỳ mới.

Công tác cán bộ luôn được Đảng ta xác định là khâu “then chốt của then chốt” trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (10/1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “cán bộ là cái gốc của mọi việc”, “công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Kế thừa tư tưởng đó, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu ‘then chốt’ của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị”.

Nhiều năm qua, việc xây dựng và hoàn thiện các quy trình về quy hoạch, đào tạo, luân chuyển, bổ nhiệm và đánh giá cán bộ đã góp phần quan trọng bảo đảm tính công khai, minh bạch và kiểm soát quyền lực. Quy trình là cần thiết vì đó là cơ sở thể chế để không xảy ra hay chí ít là hạn chế sự tùy tiện trong công tác cán bộ. Dẫu vậy, thực tiễn cho thấy không ít trường hợp cán bộ được bổ nhiệm “đúng quy trình”, bao gồm cả cán bộ cấp cao, nhưng năng lực lãnh đạo, điều hành còn hạn chế, hiệu quả công tác thấp, để xảy ra sai phạm bị xử lý kỉ luật, nghiêm trọng hơn là truy cứu trách nhiệm hình sự. Điều đó cho thấy “đúng quy trình” mới chỉ là điều kiện cần chứ chưa phải điều kiện đủ để bảo đảm chất lượng đội ngũ cán bộ.

Nói cách khác, một quy trình dù chặt chẽ đến đâu nhưng không lựa chọn được người có năng lực thực chất thì cuối cùng vẫn không đạt được mục tiêu đề ra. Chính vì vậy, yêu cầu chuyển từ “đúng quy trình” sang “đúng người, đúng việc” thực chất là chuyển từ tư duy quản lý thiên về thủ tục sang tư duy quản trị dựa trên hiệu quả. Đây là xu hướng phổ biến của quản trị hiện đại, trong đó kết quả cuối cùng và giá trị tạo ra cho xã hội mới là tiêu chí cao nhất để đánh giá chất lượng hoạt động của bộ máy.

Điểm nổi bật trong tư duy mới là đặt yếu tố con người vào vị trí trung tâm. “Đúng người” là lựa chọn được những cán bộ thực sự tiêu biểu về phẩm chất, năng lực, uy tín và kết quả công tác; có khả năng quy tụ, dẫn dắt tập thể hoàn thành tốt nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước trong tình hình mới. “Đúng việc” là bảo đảm sự thống nhất giữa yêu cầu của vị trí công tác với năng lực, sở trường và kinh nghiệm của cán bộ, để mỗi người được phát huy cao nhất giá trị của mình, tạo ra những kết quả thiết thực cho tổ chức, cho xã hội.

Thực tiễn cho thấy năng lực chuyên môn, năng lực lãnh đạo, quản lý và năng lực tổ chức là những phương diện khác nhau của năng lực cán bộ. Không ít trường hợp người có trình độ chuyên môn sâu, nhưng chưa hẳn phù hợp với vị trí lãnh đạo, quản lý; trong khi nhiều cán bộ có năng lực tổ chức, điều hành và xử lý công việc hiệu quả lại không nổi bật về thành tích học thuật. Bởi vậy, việc lựa chọn và sử dụng cán bộ nếu chỉ căn cứ vào bằng cấp, thâm niên hoặc các tiêu chí hình thức sẽ khó bảo đảm nguyên tắc “đúng người, đúng việc”, không chỉ khó phát huy hết tiềm năng của mỗi cá nhân, mà còn lãng phí nguồn lực và làm giảm hiệu quả của bộ máy. Cho nên, cha ông ta mới có câu: "Dụng nhân như dụng mộc" là vì thế.

Bên cạnh đó, yêu cầu “đúng năng lực” và “đúng sở trường” phản ánh cách tiếp cận mới trong phát triển nguồn nhân lực. Trong giai đoạn mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu cán bộ không chỉ cần bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, lối sống gương mẫu, mà còn phải có tư duy chiến lược, năng lực quản trị hiện đại, năng lực chuyển đổi số, năng lực tổ chức thực hiện, năng lực xử lý vấn đề khó, năng lực đối thoại với Nhân dân và tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Điều đó cho thấy yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ ngày nay đã cao hơn rất nhiều so với trước đây.

Một điểm đột phá khác trong quan điểm mới là lấy “sản phẩm công việc” làm thước đo đánh giá cán bộ. Đây có thể xem là sự thay đổi mang tính bản chất trong công tác cán bộ. Hồ sơ, bằng cấp, chứng chỉ hay thâm niên công tác là những căn cứ quan trọng trong xem xét, đánh giá cán bộ, nhưng không thể thay thế kết quả thực tiễn. Năng lực, uy tín và bản lĩnh của cán bộ không chỉ thể hiện qua những gì được ghi nhận trên giấy tờ mà trước hết phải được chứng minh bằng kết quả thực hiện nhiệm vụ, sản phẩm công việc cụ thể, hiệu quả lãnh đạo, quản lý và sự tín nhiệm của quần chúng. Chỉ khi lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ làm thước đo chủ yếu thì mới có thể đánh giá đúng cán bộ, lựa chọn đúng người và sử dụng đúng việc.

Nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của công tác đánh giá cán bộ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cảnh báo nếu đánh giá sai thì người tốt không được phát huy, người yếu không bị thay thế, người cơ hội có thể chui sâu, leo cao, làm hỏng việc, hỏng tổ chức, hỏng niềm tin. Đây không chỉ là nguy cơ đối với từng cơ quan, đơn vị mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đội ngũ cán bộ và hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị. Thực tiễn cho thấy, khi công tác đánh giá thiếu khách quan hoặc không phản ánh đúng năng lực và kết quả công tác, những cán bộ có năng lực, trách nhiệm dễ bị giảm động lực cống hiến, trong khi những người yếu kém hoặc có biểu hiện cơ hội có thể tiếp tục giữ vị trí quan trọng. Hệ quả là nguồn lực con người không được sử dụng hiệu quả, hiệu quả thực thi nhiệm vụ bị suy giảm và niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với tổ chức cũng bị ảnh hưởng.

Chính vì vậy, việc chuyển mạnh sang đánh giá cán bộ bằng phẩm chất, năng lực, uy tín, sản phẩm cụ thể, dữ liệu công việc và sự tín nhiệm của nhân dân là hướng đi tất yếu. Đây cũng là nội dung phù hợp với xu hướng quản trị hiện đại, trong đó mọi hoạt động đều được lượng hóa và đo lường bằng các chỉ số cụ thể. Khi kết quả công việc được số hóa và cập nhật thường xuyên, việc đánh giá cán bộ sẽ khách quan hơn, minh bạch hơn và hạn chế được những tác động của cảm tính hoặc quan hệ cá nhân.

Đi đôi với đổi mới đánh giá là yêu cầu thực hiện thực chất chủ trương “có vào, có ra; có lên, có xuống”. Đây là một cơ chế rất quan trọng để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ. Một bộ máy hiện đại không thể tồn tại tư duy “đã vào là ổn định suốt đời” hoặc “đã lên thì không xuống”. Chỉ khi người hoàn thành tốt nhiệm vụ được ghi nhận, trọng dụng và người không đáp ứng yêu cầu bị thay thế kịp thời thì mới tạo ra động lực cạnh tranh lành mạnh và khuyến khích tinh thần cống hiến trong toàn hệ thống.

Để hiện thực hóa yêu cầu chuyển từ “đúng quy trình” sang “đúng người, đúng việc, đúng năng lực, đúng sở trường, đúng sản phẩm”, cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, từ hoàn thiện cơ chế đánh giá cán bộ theo hướng thực chất, khách quan và lấy kết quả công tác làm thước đo chủ yếu; tăng cường kiểm soát quyền lực trong toàn bộ quy trình công tác cán bộ; đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý, đánh giá và sử dụng cán bộ; đến xây dựng văn hóa trách nhiệm, đề cao vai trò nêu gương và tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu. Chỉ khi mọi khâu của công tác cán bộ được vận hành trên nguyên tắc công khai, minh bạch, khách quan và hướng tới hiệu quả thực chất mới có thể tạo ra bước chuyển biến căn bản về chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ mới.

Có thể khẳng định, yêu cầu đổi mới công tác cán bộ từ “đúng quy trình” sang “đúng người, đúng việc, đúng năng lực, đúng sở trường, đúng sản phẩm” không đơn thuần là sự điều chỉnh về phương thức hay kỹ thuật tổ chức cán bộ, mà là bước phát triển quan trọng trong tư duy lãnh đạo và cầm quyền của Đảng ta. Điều đó thể hiện sự chuyển dịch từ cách tiếp cận thiên về thủ tục hành chính sang cách tiếp cận lấy hiệu quả thực tiễn và kết quả phục vụ nhân dân làm trung tâm. Quy trình vẫn là yêu cầu bắt buộc, nhưng giá trị của quy trình chỉ thực sự được khẳng định khi lựa chọn được đúng người, sử dụng đúng việc, phát huy đúng năng lực và tạo ra những sản phẩm cụ thể phục vụ sự phát triển của đất nước. Khi năng lực thực chất, hiệu quả công tác, uy tín và sự cống hiến trở thành thước đo chủ yếu trong đánh giá, sử dụng cán bộ, đó cũng là lúc bộ máy hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn, niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước được củng cố vững chắc hơn, tạo nền tảng quan trọng để đất nước vững bước trong kỷ nguyên phát triển mới.

Hà Ngọc/Báo Tin tức và Dân tộc

04/06/2026

BÀI HỌC VỀ TẦM NHÌN, NHẬN THỨC VÀ HÀNH ĐỘNG

Cách đây 115 năm, ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời đất nước ra đi tìm đường cứu nước. Mục đích là để xem các nước người ta làm thế nào để trở về giúp đồng bào mình đấu tranh thoát khỏi đọa đày, đau khổ.

Thời điểm ấy tình hình đất nước đen tối, bế tắc, không có đường ra. “Một câu hỏi lớn không lời đáp”.

Từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam năm 1858, các phong trào yêu nước chống Pháp liên tục diễn ra: Phong trào Cần Vương chống Pháp theo ý thức hệ phong kiến với các vị Vua yêu nước Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân; phong trào khởi nghĩa nông dân của Hoàng Hoa Thám suốt 30 năm; phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh theo tư tưởng dân chủ tư sản. Các phong trào đó tiêu biểu cho tinh thần yêu nước và khát vọng độc lập nhưng đã lần lượt thất bại, bởi thiếu đường lối chính trị đúng đắn, không có phương pháp thích hợp và chưa có tổ chức lãnh đạo đủ mạnh và nhất là chưa tập hợp, đoàn kết toàn dân tộc.

Hoàn cảnh khắc nghiệt đó đòi hỏi phải có tư duy mới, tầm nhìn chiến lược và mục tiêu rõ ràng, triệt để, có thể hóa giải được những bế tắc của con đường phát triển dân tộc. Bằng con đường nào, phương pháp và lực lượng nào để giành lại độc lập, tự do và phát triển đất nước? Người thanh niên Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong hành trình tìm đường cứu nước và lãnh đạo cách mạng đã đi tới nhận thức và hành động đúng.

Một là, sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, phát triển đất nước phải bắt đầu từ dân, vì dân, lấy dân là gốc.Tháng 12/1920, tại Đại hội Tours thành lập Đảng Cộng sản Pháp, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ mục tiêu: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”(1).

Từ thực tiễn đấu tranh ở Việt Nam và từ các cuộc cách mạng trên thế giới được nghiên cứu, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thấy rõ: “Cách mệnh là việc chung của cả dân chúng chứ không phải việc một hai người”, “nếu không ra sức thì chắc không thành công”, “ít người làm không nổi, nhiều người đồng tâm hiệp lực mà làm thì phải nổi”. Người cho rằng phải hành động ngay, dựa trên sức mạnh toàn dân nhất định thành công.

Ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc cùng Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo cách mạng.Tại Cao Bằng, Người nói với đồng chí Võ Nguyên Giáp, phải đoàn kết toàn dân, vũ trang toàn dân, dân trước, súng sau, có dân sẽ có súng, có dân sẽ có tất cả.

Khi cách mạng thành công năm 1945, trong điều kiện Đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng lợi ích của nhân dân. “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”, “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(2). Chính phủ, chính quyền địa phương cần phải: “Đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”(3). Người cho rằng cần đưa việc công ra để dân thảo luận, hỏi ý kiến dân, giải thích cho dân hiểu rõ để làm cho đúng. “Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”(4). Người nhấn mạnh, nước ta là nước dân chủ.

“Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”(5).

Hai là, cách mạng muốn thành công phải có sự lãnh đạo của một Đảng chân chính cách mạng. Nhận thức của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về vai trò của Đảng cách mạng đã sáng tỏ ngay từ khi tiếp thụ lý luận Mác-Lênin. Vì vậy, năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội Pháp, một Đảng của Quốc tế II bênh vực các dân tộc thuộc địa.Tháng 12/1920, Người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Sau này, hoạt động trong Quốc tế Cộng sản, Người càng quyết tâm thành lập Đảng cách mạng ở Việt Nam.

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nêu rõ, cách mệnh “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”(6). Chủ nghĩa nhắc đến là chủ nghĩa Mác-Lênin - “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất”. Người ra sức chuẩn bị những điều kiện về chính trị, tư tưởng, lý luận, tổ chức và cán bộ để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào mùa Xuân năm 1930.

Đảng đã lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công.Trong điều kiện Đảng cầm quyền, năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra 12 điều về Tư cách của Đảng chân chính cách mạng, điều đầu tiên là: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”(7). Người yêu cầu: Muốn cho Đảng được vững bền. Mười hai điều đó chớ quên điều nào. Một Đảng chân chính cách mạng phải là Đảng đạo đức, văn minh, thật sự vì nước, vì dân.

Ba là, cách mạng Việt Nam nêu cao ý chí tự chủ, tự lực, tự cường và chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Đầu năm 1921, tại Paris, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc gặp Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp Albert Sarraut, yêu cầu Pháp phải trả lại nền độc lập của Việt Nam. Điều đó đã không được thực hiện. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc quyết đấu tranh để giành độc lập. Hoạt động trong Quốc tế Cộng sản, Người thấy rõ chủ nghĩa quốc tế vô sản cao cả và ước muốn thế giới sống trong hòa bình, hữu nghị “Trời yên biển lặng”. Người thấu hiểu các dân tộc bị áp bức rất cần sự ủng hộ và giúp đỡ quốc tế nhưng cũng nhận thấy “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”(8).

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thắng lợi của ý chí tự lực, tự cường theo tư tưởng Hồ Chí Minh “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.

Đất nước mới độc lập vốn từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, nghèo nàn, lạc hậu, với tầm nhìn chiến lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mong muốn xây dựng đất nước giàu mạnh “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Muốn vậy, phải ra sức học tập nâng cao dân trí, vì “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Phải học khoa học kỹ thuật của các nước tiên tiến.

Trong thư gửi Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 1/11/1945, Người muốn gửi 50 thanh niên Việt Nam sang Mỹ để “nghiên cứu về kỹ thuật, nông nghiệp cũng như các lĩnh vực chuyên môn khác”(9). Năm 1946, trong Lời kêu gọi Liên hợp quốc, Người tuyên bố “chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực”(10). Năm 1947, Người nêu rõ Việt Nam mong muốn “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”(11).

Lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin và học tập kinh nghiệm các nước, đồng thời đề cao sự độc lập tự chủ. Lựa chọn hình thức, tốc độ, bước đi phù hợp và tìm ra quy luật riêng của Việt Nam, tiến dần lên chủ nghĩa xã hội. Việt Nam cần có cách làm riêng: “Ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác”(12).

Tư tưởng, quan điểm và những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt quá trình tìm đường cứu nước và lãnh đạo cách mạng đã cùng Đảng dẫn đường đưa dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.

Đại hội XIV của Đảng đã khẳng định những thành tựu to lớn của 40 năm đổi mới và mở ra kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Trong kỷ nguyên mới, Việt Nam có thế và lực mới, có nhiều vận hội để phát triển nhanh và bền vững. Nhưng cũng cần nhận rõ 4 nguy cơ mà Đảng nêu ra từ năm 1994 vẫn tồn tại, có lĩnh vực còn phức tạp hơn. Đó là nguy cơ tụt hậu về kinh tế so với các nước, nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nguy cơ tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nguy cơ “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Đại hội XIV tổng kết những bài học lớn, trong đó bài học hàng đầu là kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Bốn kiên định đó bảo đảm đổi mới thành công tiếp tục định hướng cho phát triển trong kỷ nguyên mới tranh thủ vận hội, đẩy lùi nguy cơ.

Đại hội có những quyết sách lớn để hiện thực hóa 2 mục tiêu 100 năm, khai thác mọi nguồn lực, động lực mới tăng trưởng kinh tế hai con số (hơn 10%). Nêu cao tự chủ chiến lược, tự lực, tự cường, tự tin vì Việt Nam hòa bình, độc lập, hùng cường, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Trong sự nghiệp vẻ vang đó, tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi đường cho Đảng và dân tộc Việt Nam./.

Báo Nhân Dân

01/06/2026

PHÁT ĐỘNG ĐỢT THI ĐUA ĐẶC BIỆT 500 NGÀY ĐÊM “ĐOÀN KẾT – KỶ CƯƠNG – HIỆU QUẢ – BỨT PHÁ, XÂY DỰNG ĐỒNG NAI PHÁT TRIỂN VĂN MINH, HIỆN ĐẠI”

Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Đồng Nai phát động đợt thi đua đặc biệt 500 ngày đêm với quyết tâm tạo chuyển biến mạnh mẽ, thực chất trên tất cả các lĩnh vực; xây dựng hệ thống chính trị kỷ cương, hành động, hiệu quả, phục vụ Nhân dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn.

Đợt thi đua tập trung thực hiện 06 mục tiêu cụ thể:

1. Về kỷ luật, kỷ cương: Siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; thực hiện nguyên tắc “6 rõ”; nâng cao trách nhiệm, tinh thần chủ động của cán bộ, công chức; phấn đấu 98% nhiệm vụ hoàn thành đúng hạn, giảm tối thiểu 70% hồ sơ trễ hạn.

2. Về cải cách hành chính: Đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số; lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ; phấn đấu 100% thủ tục hành chính xử lý trên môi trường số; bảo đảm 100% hồ sơ cấp thành phố và tối thiểu 90% hồ sơ cấp xã xử lý trên hệ thống điện tử; rút ngắn tối thiểu 30% thời gian giải quyết thủ tục hành chính.

3. Về chuyển đổi số, quản trị: Đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý, điều hành; xây dựng nền quản trị hiện đại, minh bạch, dựa trên dữ liệu; bảo đảm 100% cơ quan, đơn vị triển khai hệ thống theo dõi, quản lý tiến độ công việc theo thời gian thực; giám sát 100% nhiệm vụ trọng tâm bằng dữ liệu; tăng cường ứng dụng công nghệ trong theo dõi, đánh giá tiến độ và chất lượng thực hiện nhiệm vụ.

4. Về đội ngũ cán bộ: Xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh, trách nhiệm, năng lực; 100% cán bộ lãnh đạo, quản lý ký cam kết trách nhiệm; đánh giá cán bộ dựa trên kết quả, sản phẩm cụ thể, phấn đấu trên 90% cán bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên; khuyến khích đổi mới, sáng tạo; phấn đấu ít nhất 20% cán bộ có sáng kiến, giải pháp cải tiến công việc.

5. Về tăng trưởng kinh tế - xã hội: Khơi thông nguồn lực, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc; duy trì tăng trưởng kinh tế hằng năm đạt 2 con số; đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án trọng điểm; cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, thu hút đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao, logistics, chuyển đổi số, kinh tế xanh; gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh, quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống Nhân dân.

6. Về sự hài lòng của Nhân dân và doanh nghiệp: Lấy sự hài lòng của Nhân dân và doanh nghiệp làm thước đo hiệu quả hoạt động của cơ quan, đơn vị; phấn đấu đạt từ 95% trở lên; bảo đảm 100% kiến nghị, phản ánh được giải quyết đúng thời hạn.

Đợt thi đua 500 ngày đêm là khí thế mới, quyết tâm mới, hành động mới của toàn Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và Nhân dân thành phố Đồng Nai vì mục tiêu phát triển xanh, giàu mạnh, văn minh, hiện đại.
Lê Quang

31/05/2026

NÂNG CAO NĂNG LỰC NHẬN DIỆN THÔNG TIN, YÊU CẦU CẤP THIẾT TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

Nếu trước đây, nhận thức xã hội chủ yếu được định hình qua báo chí chính thống, truyền hình và tuyên truyền miệng, thì trong kỷ nguyên số, trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành lực lượng chi phối mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Trên các nền tảng như Facebook, YouTube, TikTok hay Instagram, thuật toán không chỉ lựa chọn nội dung hiển thị mà còn định hình cách người dùng tiếp nhận và phản ứng với thông tin. Vượt xa vai trò “gợi ý nội dung”, các hệ thống AI hiện nay có khả năng phân tích hành vi, cảm xúc và mức độ nhạy cảm tâm lý, thậm chí dự đoán phản ứng cá nhân trong thời gian rất ngắn. Mỗi tương tác của người dùng trở thành dữ liệu để xây dựng “hồ sơ nhận thức số”, từ đó cá nhân hóa luồng thông tin nhằm tối đa hóa sự chú ý và tác động cảm xúc.

Từ môi trường thông tin chung cho số đông, chúng ta đang chuyển sang không gian mà mỗi người tiếp cận một “phiên bản thông tin riêng”. Đây là sự thay đổi sâu sắc, tác động trực tiếp đến cách con người suy nghĩ và nhìn nhận vấn đề. Công nghệ ngày nay có khả năng dự đoán người dùng quan tâm gì, tin vào điều gì, thậm chí phản ứng ra sao trước mỗi thông tin. Đây không chỉ là bước tiến công nghệ, mà còn đặt ra rủi ro đáng lưu ý: làm suy giảm khả năng tư duy độc lập, khiến con người dễ bị dẫn dắt và dần suy yếu trước những luồng thông tin sai lệch, độc hại.

Nhiều nghiên cứu quốc tế cho thấy, chỉ cần điều chỉnh rất nhỏ trong luồng nội dung cũng có thể tác động rõ rệt đến nhận thức và hành vi người dùng. Thí nghiệm “lây lan cảm xúc” của Facebook công bố trên Proceedings of the National Academy of Sciences (2012) cho thấy việc thay đổi tỷ lệ nhỏ nội dung tích cực/tiêu cực đã đủ làm biến đổi cảm xúc và cách tương tác. Đáng lo ngại, thuật toán thường ưu tiên nội dung gây cảm xúc mạnh, nhất là tiêu cực, để gây chú ý, tối đa hóa tương tác. Hệ quả là hình thành “vòng lặp thông tin một chiều”, nơi mỗi người chỉ tiếp xúc với những quan điểm quen thuộc, nội dung bản thân quan tâm; từ đó dần củng cố nhận thức phiến diện và dễ bị dẫn dắt. Trong môi trường đó, các thế lực xấu có thể cài cắm thông tin sai lệch, kích động chia rẽ. So với tin đồn truyền thống, AI đã làm thay đổi căn bản cách lan truyền thông tin sai lệch: tin giả được cá nhân hóa, lan truyền quy mô lớn nhờ tài khoản ảo, nội dung ngày càng tinh vi và lặp lại liên tục để tạo niềm tin. Đây thực chất là một dạng chiến tranh tâm lý trong không gian số, có thể làm gia tăng hoài nghi, suy giảm niềm tin và gây nhiễu loạn dư luận.

Tại Đồng Nai, một trong những địa bàn công nghiệp phát triển năng động của cả nước, quy mô dân số lớn, mật độ lao động cao, cơ cấu xã hội đa dạng với nhiều thành phần dân tộc, tôn giáo cùng sinh sống, làm việc, đã tạo nên môi trường phong phú nhưng cũng tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp. Với 89 khu công nghiệp được quy hoạch, 44 khu công nghiệp đang hoạt động, lực lượng công nhân đông đảo, trong khi trình độ và điều kiện tiếp cận thông tin không đồng đều, không gian mạng ngày càng trở thành kênh tiếp nhận thông tin chủ yếu, nhanh, rộng nhưng khó kiểm soát. Từ thực tế đó, để nâng cao năng lực nhận diện thông tin trong kỷ nguyên số trên địa bàn, Đồng Nai cần triển khai đồng bộ các giải pháp mang tính hệ thống, phù hợp với đặc thù địa phương:

Trước hết, xây dựng “kháng thể thông tin” cho Nhân dân ngay từ cơ sở. Đẩy mạnh tuyên truyền, tập huấn kỹ năng nhận diện tin giả cho cán bộ, đảng viên, công nhân, người lao động trong các khu công nghiệp, nhóm đối tượng dễ bị tác động bởi thông tin sai lệch. Phổ biến nguyên tắc tiếp nhận thông tin an toàn: kiểm chứng nguồn tin, không chia sẻ nội dung chưa xác thực, đặc biệt cảnh giác với thông tin gây sốc, kích động.

Thứ hai, chủ động theo dõi, phát hiện sớm các luồng thông tin bất thường trên mạng xã hội; kịp thời đề nghị xử lý, gỡ bỏ nội dung sai lệch. Đồng thời, từng bước đề xuất, yêu cầu các cơ quan liên quan làm việc với nền tảng nâng cao minh bạch thuật toán, hạn chế việc khuếch đại thông tin độc.

Thứ ba, phát huy vai trò nòng cốt của hệ thống báo chí chính thống và tuyên giáo, dân vận địa phương, trong đó Báo và Phát thanh, Truyền hình Đồng Nai giữ vai trò chủ lực. Cần chủ động cung cấp thông tin nhanh, chính xác, đi trước một bước để định hướng dư luận; tăng cường các sản phẩm truyền thông số hấp dẫn, dễ lan tỏa; kịp thời phản bác các thông tin sai trái, nhất là những vấn đề liên quan đến đất đai, môi trường, đời sống công nhân.

Thứ tư, triển khai hiệu quả quy định của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025, số 134/2025/QH15 trong quản lý các mô hình AI tạo sinh. Tăng cường giám sát việc sử dụng các công cụ tạo nội dung, nhất là trong lĩnh vực nhạy cảm; thực hiện nhận diện, gắn nhãn nội dung do AI tạo ra; đồng thời phối hợp giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và xã hội để kịp thời phát hiện, ngăn chặn việc lợi dụng AI lan truyền thông tin sai lệch.

Cùng với đó, cần phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong nắm bắt tình hình tư tưởng, kịp thời định hướng dư luận ngay từ sớm, từ xa. Khi mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Đồng Nai trở thành một “bộ lọc thông tin” có trách nhiệm, không gian mạng sẽ được củng cố an toàn, góp phần giữ vững ổn định xã hội và tạo nền tảng cho phát triển bền vững.

Cuộc đấu tranh trong kỷ nguyên số đang chuyển mạnh sang không gian thông tin, tác động âm thầm nhưng trực tiếp vào nhận thức xã hội. Mục tiêu không còn là phá hủy hữu hình, mà là làm lệch chuẩn niềm tin, bào mòn sự thật, một dạng “xâm lăng mềm” với hệ lụy lâu dài đối với ổn định và phát triển đất nước. Trong bối cảnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên và Nhân dân tỉnh Đồng Nai cần nâng cao ý thức, chủ động bảo vệ “trận địa tư tưởng” trên không gian mạng. Mỗi người là một “lá chắn” bằng sự tỉnh táo, biết kiểm chứng thông tin, không chia sẻ nội dung chưa được xác thực; đồng thời kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc. Cùng với đó, phát huy vai trò nêu gương, tích cực lan tỏa thông tin chính thống, củng cố niềm tin và tạo đồng thuận xã hội. Khi mỗi cá nhân hình thành “sức đề kháng” trước thông tin xấu độc, không gian mạng sẽ trở thành nền tảng vững chắc góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và thúc đẩy phát triển bền vững của tỉnh.

31/05/2026

NÂNG CAO NĂNG LỰC NHẬN DIỆN THÔNG TIN, YÊU CẦU CẤP THIẾT TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

Nếu trước đây, nhận thức xã hội chủ yếu được định hình qua báo chí chính thống, truyền hình và tuyên truyền miệng, thì trong kỷ nguyên số, trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành lực lượng chi phối mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Trên các nền tảng như Facebook, YouTube, TikTok hay Instagram, thuật toán không chỉ lựa chọn nội dung hiển thị mà còn định hình cách người dùng tiếp nhận và phản ứng với thông tin. Vượt xa vai trò “gợi ý nội dung”, các hệ thống AI hiện nay có khả năng phân tích hành vi, cảm xúc và mức độ nhạy cảm tâm lý, thậm chí dự đoán phản ứng cá nhân trong thời gian rất ngắn. Mỗi tương tác của người dùng trở thành dữ liệu để xây dựng “hồ sơ nhận thức số”, từ đó cá nhân hóa luồng thông tin nhằm tối đa hóa sự chú ý và tác động cảm xúc.

Từ môi trường thông tin chung cho số đông, chúng ta đang chuyển sang không gian mà mỗi người tiếp cận một “phiên bản thông tin riêng”. Đây là sự thay đổi sâu sắc, tác động trực tiếp đến cách con người suy nghĩ và nhìn nhận vấn đề. Công nghệ ngày nay có khả năng dự đoán người dùng quan tâm gì, tin vào điều gì, thậm chí phản ứng ra sao trước mỗi thông tin. Đây không chỉ là bước tiến công nghệ, mà còn đặt ra rủi ro đáng lưu ý: làm suy giảm khả năng tư duy độc lập, khiến con người dễ bị dẫn dắt và dần suy yếu trước những luồng thông tin sai lệch, độc hại.

Nhiều nghiên cứu quốc tế cho thấy, chỉ cần điều chỉnh rất nhỏ trong luồng nội dung cũng có thể tác động rõ rệt đến nhận thức và hành vi người dùng. Thí nghiệm “lây lan cảm xúc” của Facebook công bố trên Proceedings of the National Academy of Sciences (2012) cho thấy việc thay đổi tỷ lệ nhỏ nội dung tích cực/tiêu cực đã đủ làm biến đổi cảm xúc và cách tương tác. Đáng lo ngại, thuật toán thường ưu tiên nội dung gây cảm xúc mạnh, nhất là tiêu cực, để gây chú ý, tối đa hóa tương tác. Hệ quả là hình thành “vòng lặp thông tin một chiều”, nơi mỗi người chỉ tiếp xúc với những quan điểm quen thuộc, nội dung bản thân quan tâm; từ đó dần củng cố nhận thức phiến diện và dễ bị dẫn dắt. Trong môi trường đó, các thế lực xấu có thể cài cắm thông tin sai lệch, kích động chia rẽ. So với tin đồn truyền thống, AI đã làm thay đổi căn bản cách lan truyền thông tin sai lệch: tin giả được cá nhân hóa, lan truyền quy mô lớn nhờ tài khoản ảo, nội dung ngày càng tinh vi và lặp lại liên tục để tạo niềm tin. Đây thực chất là một dạng chiến tranh tâm lý trong không gian số, có thể làm gia tăng hoài nghi, suy giảm niềm tin và gây nhiễu loạn dư luận.

Tại Đồng Nai, một trong những địa bàn công nghiệp phát triển năng động của cả nước, quy mô dân số lớn, mật độ lao động cao, cơ cấu xã hội đa dạng với nhiều thành phần dân tộc, tôn giáo cùng sinh sống, làm việc, đã tạo nên môi trường phong phú nhưng cũng tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp. Với 89 khu công nghiệp được quy hoạch, 44 khu công nghiệp đang hoạt động, lực lượng công nhân đông đảo, trong khi trình độ và điều kiện tiếp cận thông tin không đồng đều, không gian mạng ngày càng trở thành kênh tiếp nhận thông tin chủ yếu, nhanh, rộng nhưng khó kiểm soát. Từ thực tế đó, để nâng cao năng lực nhận diện thông tin trong kỷ nguyên số trên địa bàn, Đồng Nai cần triển khai đồng bộ các giải pháp mang tính hệ thống, phù hợp với đặc thù địa phương:

Trước hết, xây dựng “kháng thể thông tin” cho Nhân dân ngay từ cơ sở. Đẩy mạnh tuyên truyền, tập huấn kỹ năng nhận diện tin giả cho cán bộ, đảng viên, công nhân, người lao động trong các khu công nghiệp, nhóm đối tượng dễ bị tác động bởi thông tin sai lệch. Phổ biến nguyên tắc tiếp nhận thông tin an toàn: kiểm chứng nguồn tin, không chia sẻ nội dung chưa xác thực, đặc biệt cảnh giác với thông tin gây sốc, kích động.

Thứ hai, chủ động theo dõi, phát hiện sớm các luồng thông tin bất thường trên mạng xã hội; kịp thời đề nghị xử lý, gỡ bỏ nội dung sai lệch. Đồng thời, từng bước đề xuất, yêu cầu các cơ quan liên quan làm việc với nền tảng nâng cao minh bạch thuật toán, hạn chế việc khuếch đại thông tin độc.

Thứ ba, phát huy vai trò nòng cốt của hệ thống báo chí chính thống và tuyên giáo, dân vận địa phương, trong đó Báo và Phát thanh, Truyền hình Đồng Nai giữ vai trò chủ lực. Cần chủ động cung cấp thông tin nhanh, chính xác, đi trước một bước để định hướng dư luận; tăng cường các sản phẩm truyền thông số hấp dẫn, dễ lan tỏa; kịp thời phản bác các thông tin sai trái, nhất là những vấn đề liên quan đến đất đai, môi trường, đời sống công nhân.

Thứ tư, triển khai hiệu quả quy định của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025, số 134/2025/QH15 trong quản lý các mô hình AI tạo sinh. Tăng cường giám sát việc sử dụng các công cụ tạo nội dung, nhất là trong lĩnh vực nhạy cảm; thực hiện nhận diện, gắn nhãn nội dung do AI tạo ra; đồng thời phối hợp giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và xã hội để kịp thời phát hiện, ngăn chặn việc lợi dụng AI lan truyền thông tin sai lệch.

Cùng với đó, cần phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong nắm bắt tình hình tư tưởng, kịp thời định hướng dư luận ngay từ sớm, từ xa. Khi mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Đồng Nai trở thành một “bộ lọc thông tin” có trách nhiệm, không gian mạng sẽ được củng cố an toàn, góp phần giữ vững ổn định xã hội và tạo nền tảng cho phát triển bền vững.

Cuộc đấu tranh trong kỷ nguyên số đang chuyển mạnh sang không gian thông tin, tác động âm thầm nhưng trực tiếp vào nhận thức xã hội. Mục tiêu không còn là phá hủy hữu hình, mà là làm lệch chuẩn niềm tin, bào mòn sự thật, một dạng “xâm lăng mềm” với hệ lụy lâu dài đối với ổn định và phát triển đất nước. Trong bối cảnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên và Nhân dân tỉnh Đồng Nai cần nâng cao ý thức, chủ động bảo vệ “trận địa tư tưởng” trên không gian mạng. Mỗi người là một “lá chắn” bằng sự tỉnh táo, biết kiểm chứng thông tin, không chia sẻ nội dung chưa được xác thực; đồng thời kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc. Cùng với đó, phát huy vai trò nêu gương, tích cực lan tỏa thông tin chính thống, củng cố niềm tin và tạo đồng thuận xã hội. Khi mỗi cá nhân hình thành “sức đề kháng” trước thông tin xấu độc, không gian mạng sẽ trở thành nền tảng vững chắc góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và thúc đẩy phát triển bền vững của thành phố.

Want your business to be the top-listed Government Service in Tỉnh Đồng Nai?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Website

Address


Tỉnh Đồng Nai

Opening Hours

Monday 07:00 - 16:30
Tuesday 07:00 - 16:30
Wednesday 07:00 - 16:30
Thursday 07:00 - 16:30
Friday 07:00 - 16:30